Nghiên cứu sinh sản nhân tạo và ương nuôi giống cá trê đồng Clarias fuscus tại tỉnh Phú Thọ

Nghiên cứu sinh sản nhân tạo và ương nuôi giống cá trê đồng Clarias fuscus tại Phú Thọ, góp phần phát triển ngành thủy sản địa phương.

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn

2020

101
1
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

1. MỤC LỤC

2. DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

3. DANH MỤC BẢNG

4. DANH MỤC HÌNH

5. TRÍCH YẾU LUẬN VĂN

6. ĐẶT VẤN ĐỀ

7. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

8. NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI, Ý NGHĨA KHOA HỌC HOẶC THỰC TIỄN

Tóm tắt

I. Tổng quan về nghiên cứu sinh sản nhân tạo cá trê đồng tại Phú Thọ

Cá trê đồng (Clarias fuscus) là loài cá bản địa có giá trị kinh tế cao tại miền Bắc Việt Nam. Việc nghiên cứu sinh sản nhân tạo và ương nuôi giống cá trê đồng tại Phú Thọ không chỉ giúp bảo tồn loài cá này mà còn đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của thị trường. Tỉnh Phú Thọ với điều kiện tự nhiên thuận lợi, có nhiều sông ngòi và diện tích mặt nước lớn, là nơi lý tưởng cho việc phát triển ngành nuôi trồng thủy sản. Nghiên cứu này nhằm mục tiêu phát triển kỹ thuật sinh sản nhân tạo và ương nuôi cá trê đồng, từ đó nâng cao hiệu quả kinh tế cho người nuôi.

1.1. Đặc điểm sinh học của cá trê đồng

Cá trê đồng có đặc điểm sinh học nổi bật như khả năng sinh sản cao và tốc độ sinh trưởng nhanh. Loài cá này thường sống ở các vùng nước ngọt, có khả năng thích nghi tốt với môi trường sống khác nhau. Đặc biệt, cá trê đồng có thể sinh sản quanh năm, nhưng thời điểm sinh sản tốt nhất thường vào mùa mưa.

1.2. Tình hình nuôi trồng cá trê đồng tại Phú Thọ

Tại Phú Thọ, cá trê đồng được nuôi rộng rãi với nhiều mô hình khác nhau. Năm 2019, sản lượng thủy sản của tỉnh đạt trên 38 ngàn tấn, trong đó cá trê đồng chiếm một phần không nhỏ. Tuy nhiên, số lượng con giống sản xuất ra vẫn chưa đáp ứng đủ nhu cầu của người nuôi.

II. Vấn đề và thách thức trong nghiên cứu sinh sản nhân tạo cá trê đồng

Mặc dù cá trê đồng có tiềm năng lớn, nhưng việc sản xuất giống và nuôi thương phẩm vẫn gặp nhiều thách thức. Một trong những vấn đề chính là thiếu hụt con giống chất lượng cao. Ngoài ra, việc áp dụng các kỹ thuật sinh sản nhân tạo còn hạn chế, dẫn đến tỷ lệ thành công chưa cao. Các yếu tố môi trường như nhiệt độ, độ pH và oxy hòa tan cũng ảnh hưởng đến quá trình sinh sản và phát triển của cá.

2.1. Thiếu hụt con giống chất lượng

Số lượng con giống cá trê đồng sản xuất ra hiện nay chưa đáp ứng được nhu cầu của thị trường. Việc thiếu hụt con giống chất lượng cao đã ảnh hưởng đến khả năng phát triển của ngành nuôi trồng thủy sản tại Phú Thọ.

2.2. Ảnh hưởng của môi trường đến sinh sản

Các yếu tố môi trường như nhiệt độ, độ pH và oxy hòa tan có vai trò quan trọng trong quá trình sinh sản của cá trê đồng. Nghiên cứu cho thấy, nhiệt độ nước từ 25-27ºC là điều kiện lý tưởng cho cá sinh sản. Tuy nhiên, sự biến đổi của môi trường có thể gây ra những tác động tiêu cực đến tỷ lệ thụ tinh và nở trứng.

III. Phương pháp nghiên cứu sinh sản nhân tạo cá trê đồng hiệu quả

Để nâng cao tỷ lệ sinh sản và chất lượng con giống, nghiên cứu đã áp dụng nhiều phương pháp khác nhau. Việc sử dụng các loại kích dục tố như HCG, LRH-A và Dom đã cho thấy hiệu quả rõ rệt trong việc kích thích sinh sản cá trê đồng. Các thí nghiệm được thực hiện với nhiều nghiệm thức khác nhau nhằm tìm ra phương pháp tối ưu nhất.

3.1. Sử dụng kích dục tố trong sinh sản

Việc tiêm kích dục tố cho cá cái và cá đực là một trong những phương pháp chính để kích thích sinh sản. Các nghiên cứu cho thấy, liều lượng và loại kích dục tố có ảnh hưởng lớn đến tỷ lệ rụng trứng và thụ tinh của cá trê đồng.

3.2. Thiết kế thí nghiệm và quy trình thực hiện

Nghiên cứu được thực hiện với nhiều thí nghiệm khác nhau, mỗi thí nghiệm có sự thay đổi về liều lượng kích dục tố và điều kiện môi trường. Kết quả từ các thí nghiệm này sẽ giúp xác định phương pháp tối ưu cho việc sinh sản nhân tạo cá trê đồng.

IV. Kết quả nghiên cứu và ứng dụng thực tiễn

Kết quả nghiên cứu cho thấy, tỷ lệ đẻ và thụ tinh của cá trê đồng đạt mức cao khi áp dụng các phương pháp sinh sản nhân tạo. Tỷ lệ nở trứng cũng được cải thiện đáng kể, từ đó nâng cao năng suất cá bột. Những kết quả này không chỉ có ý nghĩa khoa học mà còn có giá trị thực tiễn cao trong việc phát triển ngành nuôi trồng thủy sản tại Phú Thọ.

4.1. Tỷ lệ sinh sản và năng suất cá bột

Nghiên cứu cho thấy, tỷ lệ đẻ đạt từ 86,67 - 92,38%, tỷ lệ thụ tinh đạt từ 70,56 - 72,86%. Năng suất cá bột đạt từ 7.000 - 8.000 cá bột/kg cá cái, cho thấy hiệu quả của phương pháp sinh sản nhân tạo.

4.2. Ứng dụng kết quả vào thực tiễn nuôi trồng

Kết quả nghiên cứu đã được áp dụng vào thực tiễn nuôi trồng tại Phú Thọ, giúp người nuôi chủ động hơn trong việc sản xuất giống cá trê đồng. Điều này không chỉ nâng cao hiệu quả kinh tế mà còn góp phần bảo tồn loài cá bản địa này.

V. Kết luận và triển vọng tương lai của nghiên cứu

Nghiên cứu sinh sản nhân tạo và ương nuôi cá trê đồng tại Phú Thọ đã đạt được nhiều kết quả khả quan. Tuy nhiên, vẫn cần tiếp tục nghiên cứu để hoàn thiện quy trình sản xuất giống và nâng cao chất lượng con giống. Tương lai, ngành nuôi trồng thủy sản tại Phú Thọ có thể phát triển mạnh mẽ hơn nếu các phương pháp nghiên cứu được áp dụng hiệu quả.

5.1. Đánh giá kết quả nghiên cứu

Kết quả nghiên cứu đã chứng minh tính khả thi của việc sinh sản nhân tạo cá trê đồng. Tỷ lệ sinh sản và năng suất cá bột đạt yêu cầu, mở ra hướng đi mới cho ngành nuôi trồng thủy sản.

5.2. Hướng phát triển trong tương lai

Trong tương lai, cần tiếp tục nghiên cứu và cải tiến các phương pháp sinh sản nhân tạo, đồng thời mở rộng quy mô nuôi trồng để đáp ứng nhu cầu thị trường. Việc bảo tồn và phát triển cá trê đồng sẽ góp phần nâng cao giá trị kinh tế cho người nuôi.

18/07/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

ĐẶT VẤN ĐỀ Phú Thọ là tỉnh trung du miền núi phía Bắc có tiềm năng, lợi thế phát triển thủy sản. Trên địa bàn tỉnh có 3 con sông lớn chảy qua (sông Lô, sông Thao, sông Đà) và nhiều sông ngòi nhỏ. Tổng diện tích mặt nước ao, hồ, đầm và ruộng trũng trên 10,6 ngàn ha, tổng sản lượng thủy sản năm 2019 trên 38 ngàn tấn. Trong những năm gần đây, ngành thủy sản nhận được sự quan tâm của Tỉnh ủy, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân tỉnh.

Nhiều cơ chế, chính sách được ban hành nhằm thu hút các thành phần kinh tế tham gia sản xuất thủy sản. Vì vậy, phong trào nuôi trồng thủy sản ngày càng phát triển mạnh mẽ với diện tích nuôi thâm canh và bán thâm canh đạt 5.350 ha năng suất trung bình trên 6 tấn/ha (Ủy ban Nhân dân tỉnh Phú Thọ, 2020). Cá trê đồng hay còn gọi là cá trê đen (Clarias fuscus Lacepède, 1803). Đây là loài cá bản địa, có thịt thơm ngon được nhiều người ưa thích.

Do môi trường sống ngày càng thu hẹp và bị khai thác quá mức khiến cho loài cá này trở lên khan hiếm ở ngoài tự nhiên, nhiều nơi có nguy cơ cạn kiệt (Cục khai thác và bảo vệ nguồn lợi, 2011). Ở Việt Nam, cá trê đồng được tìm thấy ở các ao, hồ, đầm ruộng và một số sông nước chảy chậm ở vùng nước thuộc hệ thống sông Hồng, sông Thái Bình, sông Kỳ Cùng, sông Bằng Giang, sông Mã, sông Lam. Giới hạn thấp nhất ở phía Nam đến sông Bồ, sông Hương và sông Thu Bồn (Nguyễn Hữu Dực, 1995). Trong những năm gần đây việc sản xuất giống và nuôi thương phẩm cá trê đồng được người nuôi quan tâm.

Tuy nhiên, hiện nay số lượng con giống cá trê đồng sản xuất ra chưa đáp ứng được nhu cầu người nuôi thủy sản. Cá trê đồng hiện được nuôi rộng rãi tại một số tỉnh miền Bắc như: Phú Thọ, Vĩnh Phúc, Hải Dương, Nam Định. Năm 2018 và 2019 trên địa bàn tỉnh Phú Thọ đã triển khai mô hình nuôi cá trê đồng thương phẩm tại 5 huyện là Lâm Thao, Cẩm Khê, Phù Ninh, Thanh Thủy, Tam Nông với quy mô 1.000m2 /mô hình, năng suất thu được đạt từ 10-12 tấn/ha (Chi cục Thủy sản Phú Thọ, 2019). Qúa trình nuôi cho thấy, cá có ưu điểm là dễ nuôi, không đòi hỏi nhu cầu ôxy cao, khả năng kháng bệnh tốt.

Hiện nay, giá cá thương phẩm dao động từ 60.000 đồng/kg cao gấp 1 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 2-3 lần so với các đối tượng nuôi truyền thống khác. Thời gian nuôi cá trê đồng thương phẩm từ 6 - 7 tháng/vụ. Trên thế giới, đã có một số công trình nghiên cứu về đặc điểm sinh học, sinh sản được công bố. Nghiên cứu về kỹ thuật kích thích sinh sản nhân tạo trong điều kiện nuôi đối với cá trê đồng Clarias fuscus được Young & cs.

(1989) thực hiện năm 1989 sử dụng chất kích thích là não thùy thể. Các công trình nghiên cứu sinh sản và ương nuôi cá trê đồng ở trong nước được công bố rất ít. (1972) (Trích bởi Lê Thị Nam Thuận cs., 2004) đã tiến hành cho sinh sản và ương nuôi cá trê đồng bằng phương pháp nhân tạo sử dụng kích dục tố là HCG và nghiên cứu đặc tính sinh học của loài này. Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học, sinh lý sinh sản cá trê đồng và thử nghiệm biện pháp ứng dụng ở Thừa Thiên - Huế sử dụng chất kích thích sinh sản là não thùy thể và LRH-A đã được Lê Thị Nam Thuận & cs.

(2004) khi tiêm LRH-A với liều lượng 30 µg + 5mg Dopamine cho kết quả tỷ lệ rụng trứng là 80,95%, tỷ lệ trứng thụ tinh là 77,8%, tỷ lệ nở là 72,4%, năng suất cá bột từ 21.170 kg trứng/kg cá cái. Bùi Phú Thịnh & cs. (2017) thử nghiệm sinh sản nhân tạo cá trê đồng (Clarias fuscus; Lacepède, 1803) tại trại sản xuất giống cấp I thuộc Chi cục thủy sản Phú Thọ đề tài sử dụng chất kích thích sinh sản là HCG với liều lượng 4.500 IU/kg cá cái cho kết quả tỷ lệ cá cái rụng trứng chiếm 77,5%, tỷ lệ thụ tinh là 36,1%, tỷ lệ nở là 38,93%, tỷ lệ ra bột là 66.96%, năng suất cá bột 2.979 cá bột/1 kg cá cái, khi ương cá bột lên cá giống kích cỡ 4-6cm mật độ thả 150 con/m2 thời gian ương 45 ngày tỷ lệ sống đạt 51%. Có nhiều loại hormon để kích thích sinh sản nhân tạo cá nhưng đối với cá trê đồng chủ yếu 3 loại hormon thường sử dụng cho cá trê đồng sinh sản là HCG, Não thùy thể, LRH-A + Dom.

Theo tác giả Đoàn Khắc Độ (2008) tùy từng loài cá mà sử dụng kích dục tố và liều lượng khác nhau, nếu dùng não thùy thể liều lượng từ 10-12mg/kg cá cái, HCG liều dùng từ 4.000 UI/kg cá cái, LRH- A + Dom liều dùng từ 80 – 100 μg/kg cá cái; liều dùng cho cá đực bằng 1/3 liều tiêm cho cá cái. Các nghiên cứu ở trong và ngoài nước đều sử dụng các công thức tiêm kích dục tố kích thích sinh sản cá trê đồng là HCG, LRH-A + Dom; não thủy thể; não thùy thể kết hợp với LRH-A + Dom. Chưa có công trình nghiên cứu nào sử dụng kết hợp giữa HCG kết hợp LRH-A + Dom trong quá trình sinh sản nhân tạo cá trê đồng. Việc sử dụng liều tiêm đơn HCG sẽ làm cho chi phí sản xuất tăng do HCG có giá cao hơn LRH-A nhiều lần.

2 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Xuất phát từ yêu cầu khoa học và thực tiễn trên tôi đã chọn và thực hiện đề tài “Nghiên cứu sinh sản nhân tạo và ương nuôi giống cá trê đồng (Clarias fuscus; Lacepède, 1803) trên địa bàn tỉnh Phú Thọ”. Qua đó để hoàn thiện quy trình sản xuất giống cá trê đồng góp phần giúp người nuôi chủ động con giống, nâng cao được hiệu quả kinh tế, đưa đối tượng nuôi bản địa vào cơ cấu giống nuôi. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU Mục tiêu chung: Sinh sản nhân tạo và ương nuôi được giống cá trê đồng (Clasrias fuscus; Lacepède, 1803) nhằm chủ động con giống cho người nuôi trên địa bàn tỉnh Phú Thọ và các tỉnh lân cận. Mục tiêu cụ thể: - Theo dõi được quá trình nuôi vỗ cá trê đồng bố mẹ trong giai đặt tại ao bằng thức ăn công nghiệp với tỷ lệ thành thục của cá bố mẹ > 90%.

- Có được hướng dẫn kỹ thuật kích thích cá trê đồng sinh sản nhân tạo với các chỉ số kỹ thuật: tỷ lệ đẻ > 85%, tỷ lệ thụ tinh >70%, tỷ lệ nở >60%, năng suất cá bột > 4. - Xác định được mật độ và hình thức ương nuôi phù hợp giai đoạn từ cá bột lên cá hương 30 ngày tuổi với tỷ lệ sống > 50%. NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI, Ý NGHĨA KHOA HỌC HOẶC THỰC TIỄN Đây là công trình nghiên cứu một cách có hệ thống và khá toàn diện về kỹ thuật sinh sản nhân tạo và ương nuôi cá trê đồng. Nội dung của luận văn gồm những điểm mới sau đây: - Các nghiên cứu ở trong và ngoài nước đều sử dụng các công thức tiêm kích dục tố kích thích sinh sản cá trê đồng là HCG, LRH-A + Dom; não thủy thể; não thùy thể kết hợp với LRH-A + Dom.

Chưa có công trình nghiên cứu nào sử dụng kết hợp giữa HCG kết hợp LRH-A + Dom trong quá trình sinh sản nhân tạo cá trê đồng. - Đề tài thực hiện ương nuôi cá trê đồng bột lên cá hương 30 ngày tuổi với 3 mật độ ương nuôi khác nhau là 4.000 con/ m3 sử dụng 2 hình thức ương nuôi khác là ương hoàn toàn 30 ngày ở trong giai và (15 ngày trong bể + 15 ngày trong giai) với 3 mật độ tương ứng. Đây là hình thức 3 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com ương nuôi mới được áp dụng trên cá trê đồng chưa có tác giả nào nghiên cứu, các nghiên cứu trước đây đa phần nghiên cứu ương nuôi trong ao đất và ương nuôi trong bể xi măng. - Kết quả của đề tài luận văn là cơ sở khoa học quan trọng để xây dựng quy trình công nghệ sản xuất giống cá trê đồng ở tỉnh Phú Thọ.

4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC 2. Đặc điểm hình thái và phân loại các loài cá trê nuôi phổ biến hiện nay ở Việt Nam Họ cá trê gồm nhiều loài ở châu Á và châu Phi.

Ở nước ta đang khai thác và nuôi 4 loài đó là cá trê đồng/đen (Clarias fuscus), trê trắng (Clarias batracus), trê vàng (Clarias macrocephalus) và trê phi (Clarias gariepinus). Đặc điểm nhận dạng và phân biệt 4 loài cá trê 1. Phân biệt các loài cá trê đang được nuôi ở Việt Nam 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Hệ thống phân loại Ngành: Chordata Lớp: Actinopterygii Bộ: Siluriformes Họ: Clariidae Giống: Clarias Loài: Clarias fuscus (Lacepède, 1803) Tên khoa học: Clarias fuscus (Lacepède, 1803) Tên tiếng Anh: Whitespotted Clarias Tên tiếng thường gọi: Cá trê đồng, cá trê đen.

Hình ảnh cá trê đồng của đề tài 2. Đặc điểm phân bố Ở trên thế giới cá trê đồng phân bố chủ yếu ở Trung Quốc, Đài Loan, Philippine, Việt Nam và Hawaii (http://www. Ở Việt Nam, cá được tìm thấy ở các ao, hồ, đầm ruộng và một số sông nước chảy chậm ở vùng nước thuộc hệ thống sông Hồng, sông Thái Bình, sông Kỳ Cùng, sông Bằng Giang, sông Mã, sông Lam (Ngô Trọng Lư & Lê Đăng Khuyến, 2000). Giới hạn thấp nhất ở phía Nam đến sông Bồ, sông Hương và sông Thu Bồn (Nguyễn Hữu Dực, 1995).

Đặc điểm hình thái Theo Hoàng Đức Đạt (1985) cá trê đồng có thân dài, phần trước thon tròn, phần sau dẹp bên. Đầu lớn, chiều rộng bằng 1/2 chiều dài. Đỉnh đầu có 2 lỗ lõm 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com hay được gọi là hai thóp: một là thóp trước nằm ở phần xương chẩm ngang với vây ngực, hai là thóp chẩm nằm ở giữa khoảng cách hai mắt. Mõm rộng, tù, chiều rộng bằng hai lần chiều dài.

Lỗ mũi ở gần mõm hơn mắt, hai lỗ mũi phân cách nhau). Mắt cá nhỏ, có mí mắt nằm ở phía trên và nửa trước đầu, khoảng cách hai mắt rộng. Miệng dưới rộng và có hình cung. Hàm trên nhô ra hơn hàm dưới, hai hàm có răng nhỏ nhọn, sắp sếp dày thành dãy.

Răng trên xương vòm miệng xếp thành dãy hình vòng cung. Theo Nguyễn Văn Hảo (2005) cá trê đồng có 4 đôi râu, râu mũi kéo dài đến đầu. Râu hàm trên kéo dài đến hết vây ngực, góc râu có nhiều gai thịt nhỏ. Râu cằm ngoài dài gần bằng 2/3 khoảng cách từ gốc râu đến vây bụng.

Râu cằm trong dài bằng khoảng 1/2 râu cằm ngoài.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ