Nghiên cứu sinh khối và cấu trúc rừng Vầu đắng tại Định Hóa, Thái Nguyên

Nghiên cứu cấu trúc lâm phần và xây dựng phương trình sinh khối rừng vầu đắng Indosasa angustata tại Định Hóa, Thái Nguyên. Phân tích chi tiết và kết quả nghiên cứu.

Chuyên ngành

Lâm học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2015

78
1
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT

DANH MỤC CÁC BẢNG

DANH MỤC CÁC HÌNH

MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài

2. Mục tiêu nghiên cứu

2.1. Mục tiêu tổng quát

2.2. Mục tiêu cụ thể

1. CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU

1.1. Trên thế giới

1.1.1. Nghiên cứu đặc trưng về phân bố, cấu trúc và sinh thái của tre trúc

1.1.2. Nghiên cứu sinh khối thực vật

1.2. Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam

1.2.1. Nghiên cứu đặc trưng về phân bố, cấu trúc và sinh thái của tre trúc

1.2.2. Một số nghiên cứu tổng quan về cây Vầu đắng

1.2.3. Nghiên cứu khả năng tích lũy sinh khối các trạng thái rừng

1.3. Tổng quan về khu vực nghiên cứu

1.3.1. Điều kiện tự nhiên

1.3.2. Điều kiện kinh tế - xã hội

1.3.3. Nhận xét và đánh giá chung về điều kiện khu vực nghiên cứu

2. CHƢƠNG 2: NỘI DUNG VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

2.2. Nội dung nghiên cứu

2.3. Phương pháp nghiên cứu

3. CHƢƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

3.1. Thực trạng rừng Vầu đắng tại huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên

3.2. Đặc điểm quy luật cấu trúc lâm phần của rừng Vầu đắng

3.3. Đặc điểm cấu trúc sinh khối của loài Vầu đắng tại huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên

3.4. Phương trình tương quan về sinh khối của loài Vầu đắng

3.5. Đề xuất các ứng dụng trong việc xác định lượng sinh khối tích lũy tại các trạng thái Vầu đắng

KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Tài liệu tiếng Việt

2. Tài liệu tiếng Anh

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Tổng quan về b Nghiên cứu sinh khối rừng Vầu đắng b

Nghiên cứu sinh khối rừng Vầu đắng là một lĩnh vực quan trọng trong bối cảnh biến đổi khí hậu và quản lý tài nguyên rừng bền vững. Rừng Vầu đắng, đặc biệt tại Thái Nguyên, đóng vai trò quan trọng trong việc hấp thụ CO2, cung cấp lâm sản ngoài gỗ và bảo vệ môi trường. Đánh giá chính xác sinh khối rừng giúp chúng ta hiểu rõ hơn về tiềm năng lưu trữ carbon, năng suất và giá trị kinh tế của loại rừng này. Các nghiên cứu về sinh khối rừng Vầu đắng Thái Nguyên còn góp phần vào việc xây dựng cơ chế chi trả dịch vụ môi trường rừng, khuyến khích người dân địa phương tham gia vào công tác bảo vệ và phát triển rừng. Tuy nhiên, việc nghiên cứu này còn gặp nhiều thách thức, đặc biệt trong việc xác định các phương pháp đo đạc sinh khối hiệu quả và xây dựng các mô hình dự báo chính xác. Luận văn của Vũ Xuân Điệp (2015) là một trong những nghiên cứu tiêu biểu về đặc điểm cấu trúc lâm phầnxây dựng phương trình tương quan sinh khối của rừng Vầu đắng tại huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên. Nghiên cứu này đã góp phần quan trọng vào việc làm sáng tỏ các đặc điểm sinh thái, cấu trúc và tiềm năng của rừng Vầu đắng.

1.1. Tầm quan trọng của việc b đánh giá sinh khối rừng b Vầu đắng

Việc đánh giá sinh khối rừng Vầu đắng có ý nghĩa thiết thực trong việc định lượng khả năng hấp thụ CO2 và đóng góp vào giảm thiểu biến đổi khí hậu. Thông qua việc xác định lượng sinh khối tích lũy, chúng ta có thể ước tính được lượng carbon được lưu trữ trong rừng, từ đó có cơ sở để xây dựng các chính sách và biện pháp quản lý rừng hiệu quả hơn. Theo luận văn của Vũ Xuân Điệp (2015), "Việc nghiên cứu khả năng tích lũy sinh khối là một trong những bước quan trọng trong nghiên cứu khả năng tích lũy CO2 của rừng góp phần làm ổn định được nồng độ khí nhà kính trong khí quyển ở mức an toàn". Ngoài ra, đánh giá sinh khối còn giúp xác định năng suất và tiềm năng khai thác bền vững của rừng Vầu đắng, từ đó tạo nguồn thu nhập ổn định cho người dân địa phương.

1.2. b Đặc điểm sinh thái rừng b Vầu đắng và ảnh hưởng đến sinh khối

Đặc điểm sinh thái rừng Vầu đắng có ảnh hưởng trực tiếp đến lượng sinh khối tích lũy. Các yếu tố như độ ẩm, nhiệt độ, ánh sáng và thành phần đất ảnh hưởng đến sự sinh trưởng và phát triển của cây Vầu đắng. Rừng Vầu đắng thường phân bố ở những vùng có độ ẩm cao và lượng mưa lớn. Theo Ngô Quang Đê (1994), Vầu đắng có độ chịu bóng lớn, độ tán che trung bình của rừng Vầu ổn định tới 0,8-0,9, nơi rừng thưa nhiều ánh sáng, sinh trưởng của Vầu đắng hạn chế. Nghiên cứu của Vũ Xuân Điệp (2015) cũng cho thấy, điều kiện địa hình và thổ nhưỡng tại Định Hóa, Thái Nguyên có ảnh hưởng đến sinh khối rừng Vầu đắng.

II. Thách thức trong b Nghiên cứu sinh khối rừng Vầu đắng b

Mặc dù có tầm quan trọng lớn, nghiên cứu sinh khối rừng Vầu đắng gặp phải nhiều thách thức. Một trong những khó khăn lớn nhất là việc lựa chọn phương pháp đo đạc sinh khối phù hợp và chính xác. Các phương pháp truyền thống như chặt hạ và cân cây (biện pháp chặt hạ cây tiêu chuẩn) tốn kém và gây ảnh hưởng đến môi trường. Các phương pháp gián tiếp như sử dụng các phương trình hồi quy dựa trên đường kính và chiều cao cây cần được hiệu chỉnh và kiểm định kỹ lưỡng để đảm bảo độ tin cậy. Bên cạnh đó, sự biến động về cấu trúc và mật độ rừng Vầu đắng, cũng như sự khác biệt về điều kiện sinh thái giữa các vùng, đòi hỏi các nghiên cứu cần được thực hiện ở nhiều địa điểm khác nhau để có được kết quả tổng quát và chính xác. Ngoài ra, việc thiếu dữ liệu lịch sử về sinh khối rừng Vầu đắng cũng gây khó khăn cho việc đánh giá sự thay đổi và xu hướng phát triển của loại rừng này.

2.1. Hạn chế của phƣơng pháp đo đạc b sinh khối rừng b truyền thống

Các phương pháp đo đạc sinh khối rừng truyền thống như chặt hạ và cân cây có nhiều hạn chế. Đầu tiên, đây là phương pháp tốn kém về thời gian và chi phí. Thứ hai, việc chặt hạ cây gây ảnh hưởng đến môi trường và cấu trúc rừng, đặc biệt đối với các khu vực có đa dạng sinh học cao. Theo Viên Ngọc Nam (1998), để xác định sinh khối cây rừng, các nghiên cứu về sinh khối thường dùng phương trình hồi quy tương quan giữa đường kính hoặc chu vi thân cây ở vị trí 1.3 m với tổng sinh khối hay sinh khối bộ phận của cây.

2.2. Sự biến động về b cấu trúc rừng Vầu đắng b và ảnh hưởng đến nghiên cứu

Sự biến động về cấu trúc rừng Vầu đắng, bao gồm mật độ, tuổi cây và thành phần loài, ảnh hưởng đến kết quả nghiên cứu sinh khối. Các khu vực có mật độ cây cao thường có lượng sinh khối lớn hơn so với các khu vực có mật độ cây thấp. Tương tự, rừng Vầu đắng ở giai đoạn trưởng thành thường có lượng sinh khối lớn hơn so với rừng non. Sự khác biệt về cấu trúc rừng đòi hỏi các nghiên cứu phải được thiết kế và thực hiện một cách cẩn thận để đảm bảo tính đại diện và độ tin cậy của kết quả.

III. Phương pháp b Nghiên cứu sinh khối rừng Vầu đắng b hiệu quả

Để vượt qua những thách thức trên, các nghiên cứu sinh khối rừng Vầu đắng cần áp dụng các phương pháp hiện đại và hiệu quả. Việc kết hợp giữa các phương pháp đo đạc trực tiếp và gián tiếp, sử dụng công nghệ viễn thám và GIS, và xây dựng các mô hình toán học phức tạp là cần thiết để có được kết quả chính xác và toàn diện. Ngoài ra, việc tăng cường hợp tác giữa các nhà khoa học, các cơ quan quản lý và cộng đồng địa phương là yếu tố quan trọng để đảm bảo tính khả thi và ứng dụng của các kết quả nghiên cứu. Cần tập trung vào việc xây dựng các phương trình tương quan sinh khối rừng Vầu đắng Thái Nguyên đặc thù cho từng vùng, tránh sử dụng các phương trình chung chung có thể dẫn đến sai số lớn.

3.1. Áp dụng công nghệ viễn thám và GIS trong b đo đạc sinh khối b

Công nghệ viễn thám và GIS cung cấp các công cụ mạnh mẽ để đo đạc sinh khối rừng một cách nhanh chóng và hiệu quả. Các ảnh vệ tinh và dữ liệu LiDAR có thể được sử dụng để ước tính chiều cao, mật độ và độ che phủ của rừng, từ đó suy ra lượng sinh khối. GIS cho phép tích hợp các dữ liệu khác nhau, bao gồm thông tin về địa hình, thổ nhưỡng và khí hậu, để phân tích sự phân bố và biến động của sinh khối rừng.

3.2. Xây dựng phƣơng trình tƣơng quan b sinh khối rừng b phù hợp

Việc xây dựng các phương trình tương quan sinh khối rừng phù hợp là yếu tố then chốt để ước tính sinh khối một cách chính xác. Các phương trình này thường dựa trên mối quan hệ giữa đường kính, chiều cao và các đặc điểm khác của cây với lượng sinh khối. Các phương trình cần được hiệu chỉnh và kiểm định kỹ lưỡng với dữ liệu thực tế từ các khu vực nghiên cứu khác nhau. Nghiên cứu của Vũ Xuân Điệp (2015) đã xây dựng các phương trình tương quan sinh khối cho rừng Vầu đắng tại Định Hóa, Thái Nguyên.

IV. Kết quả b Nghiên cứu sinh khối rừng Vầu đắng Thái Nguyên b

Các nghiên cứu sinh khối rừng Vầu đắng Thái Nguyên đã mang lại những kết quả quan trọng. Các nghiên cứu đã xác định được lượng sinh khối trung bình của rừng Vầu đắng ở các giai đoạn khác nhau, cũng như các yếu tố ảnh hưởng đến sự tích lũy sinh khối. Các kết quả này cung cấp cơ sở khoa học cho việc quản lý rừng bền vững, xây dựng các cơ chế chi trả dịch vụ môi trường và tham gia vào các dự án giảm phát thải khí nhà kính. Nghiên cứu của Vũ Xuân Điệp (2015) đã chỉ ra sự khác biệt về sinh khối rừng Vầu đắng giữa các cấp tuổi và mật độ khác nhau tại Định Hóa, Thái Nguyên. Theo kết quả nghiên cứu thì sinh khối tươi của 1ha rừng Vầu đắng ở các cấp mật độ khác nhau có sự chênh lệch rất rõ rệt. Lượng sinh khối tươi ở các cấp mật độ cụ thể như sau: Lâm phần mật độ thấp nhất lâm phần đặt OTC 1 với mật độ 2790 cây/ha thì lượng sinh khối tươi trung bình đạt 65,48 tấn/ha. Trong khi đó sinh khối tươi trung bình giữa các cấp tuổi cũng có sự chênh lệch khá lớn giữa sinh khối tươi của các cấp tuổi; thấp nhất là cấp tuổi I đạt 21,08 tấn/ha, Cấp tuổi II đạt 44, 04 tấn/ha.

4.1. Phân tích b sinh khối b theo các thành phần của rừng Vầu đắng

Các nghiên cứu thường phân tích sinh khối theo các thành phần khác nhau của rừng Vầu đắng, bao gồm thân cây, cành, lá và rễ. Phân tích này giúp hiểu rõ hơn về sự phân bố sinh khối trong các bộ phận khác nhau của cây và rừng, từ đó có cơ sở để đánh giá tiềm năng sử dụng và quản lý bền vững của từng bộ phận. Nghiên cứu của Vũ Xuân Điệp (2015) cho thấy, sinh khối tươi Vầu đắng tập trung ở 4 phần là thân, cành, lá và thân ngầm. Sinh khối tập trung chủ yếu ở phần thân sau đó đến phần cành, thân ngầm và thấp nhất là phần lá.

4.2. Ảnh hƣởng của mật độ và tuổi cây đến b sinh khối rừng Vầu đắng b

Mật độ và tuổi cây là hai yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến sinh khối rừng Vầu đắng. Các khu vực có mật độ cây cao thường có lượng sinh khối lớn hơn so với các khu vực có mật độ cây thấp. Tương tự, rừng Vầu đắng ở giai đoạn trưởng thành thường có lượng sinh khối lớn hơn so với rừng non. Nghiên cứu của Vũ Xuân Điệp (2015) đã chứng minh điều này.

V. Ứng dụng kết quả b Nghiên cứu sinh khối rừng Vầu đắng b

Kết quả của các nghiên cứu sinh khối rừng Vầu đắng có nhiều ứng dụng thực tiễn. Chúng có thể được sử dụng để xây dựng các kế hoạch quản lý rừng bền vững, xác định tiềm năng lưu trữ carbon và tham gia vào các dự án giảm phát thải khí nhà kính. Ngoài ra, kết quả nghiên cứu còn có thể được sử dụng để xây dựng các cơ chế chi trả dịch vụ môi trường rừng, khuyến khích người dân địa phương tham gia vào công tác bảo vệ và phát triển rừng. Cần tập trung vào việc chuyển giao công nghệ và đào tạo nguồn nhân lực để các kết quả nghiên cứu có thể được áp dụng rộng rãi trong thực tế.

5.1. Quản lý rừng bền vững dựa trên b đánh giá sinh khối b

Việc đánh giá sinh khối là cơ sở quan trọng để xây dựng các kế hoạch quản lý rừng bền vững. Thông qua việc xác định lượng sinh khối tích lũy và tốc độ sinh trưởng của rừng, chúng ta có thể đưa ra các quyết định về khai thác, bảo tồn và phục hồi rừng một cách hợp lý. Quản lý rừng bền vững đảm bảo rằng rừng có thể tiếp tục cung cấp các dịch vụ môi trường quan trọng, đồng thời mang lại lợi ích kinh tế cho người dân địa phương.

5.2. Tham gia các dự án giảm phát thải khí nhà kính dựa trên b sinh khối b

Các nghiên cứu sinh khối rừng cung cấp cơ sở khoa học để tham gia vào các dự án giảm phát thải khí nhà kính, như REDD+ (Giảm phát thải từ mất rừng và suy thoái rừng). Thông qua việc chứng minh khả năng lưu trữ carbon của rừng Vầu đắng, chúng ta có thể nhận được các khoản thanh toán từ các tổ chức quốc tế và các quốc gia phát triển, từ đó tạo nguồn thu nhập ổn định cho người dân địa phương và góp phần vào nỗ lực toàn cầu trong việc giảm thiểu biến đổi khí hậu.

VI. Triển vọng và Tương lai của b Nghiên cứu sinh khối rừng b

Nghiên cứu sinh khối rừng Vầu đắng là một lĩnh vực đầy triển vọng và tiềm năng. Với sự phát triển của công nghệ và sự gia tăng nhận thức về tầm quan trọng của rừng trong việc giảm thiểu biến đổi khí hậu, các nghiên cứu trong lĩnh vực này sẽ ngày càng được quan tâm và đầu tư. Cần tập trung vào việc phát triển các phương pháp đo đạc sinh khối hiệu quả, xây dựng các mô hình dự báo chính xác và tăng cường hợp tác giữa các nhà khoa học, các cơ quan quản lý và cộng đồng địa phương. Tương lai của nghiên cứu sinh khối rừng phụ thuộc vào sự nỗ lực chung của tất cả các bên liên quan.

6.1. Phát triển phƣơng pháp b đo đạc sinh khối b không phá hủy

Phát triển các phương pháp đo đạc sinh khối không phá hủy là một trong những hướng đi quan trọng trong tương lai. Các phương pháp này cho phép ước tính sinh khối mà không cần chặt hạ cây, từ đó giảm thiểu tác động đến môi trường và cấu trúc rừng. Các công nghệ như LiDAR, máy quét 3D và các phương pháp phân tích hình ảnh có tiềm năng lớn trong việc phát triển các phương pháp đo đạc sinh khối không phá hủy.

6.2. Ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong b dự báo sinh khối rừng b

Trí tuệ nhân tạo (AI) có thể được sử dụng để xây dựng các mô hình dự báo sinh khối rừng một cách chính xác và hiệu quả. Các thuật toán học máy có thể phân tích các dữ liệu khác nhau, bao gồm thông tin về địa hình, thổ nhưỡng, khí hậu và cấu trúc rừng, để dự đoán lượng sinh khối trong tương lai. Ứng dụng AI trong dự báo sinh khối rừng giúp chúng ta đưa ra các quyết định quản lý rừng một cách chủ động và hiệu quả hơn.

22/09/2025
Nghiên cứu đặc điểm cấu trúc lâm phần và xây dựng phƣơng trình tƣơng quan sinh khối của rừng vầu đắng indosasa angustata tại huyện định hóa tỉnh thái nguyên

Trích đoạn nội dung tài liệu

MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Biến đổi khí hậu là vấn đề được cả thế giới quan tâm rất nhiều trong những năm trở lại đây, sự biến đổi khí hậu có liên quan đến lượng phát thải khí nhà kính vào khí quyển (chủ yếu là lượng CO2) do các hoạt động kinh tế, xã hội của con người đang là mối quan tâm hàng đầu, vì vậy việc nghiên cứu khả năng tích lũy sinh khối là một trong những bước quan trọng trong nghiên cứu khả năng tích lũy CO2 của rừng góp phần làm ổn định được nồng độ khí nhà kính trong khí quyển ở mức an toàn và ngăn ngừa các hoạt động có hại của con người đế khí hậu trên trái đất. Nhận thức được sự thay đổi nhanh chóng và ngày càng xấu đi của khí hậu, năm 1992 tại hội nghị thượng đỉnh trái đất đã cho ra đời công ước khung về biến đổi khí hậu của liên hợp quốc (UNFCCC). Nước ta là một quốc gia tích cực tham gia vào công ước và đã cùng 160 quốc gia trên thế giới đã thông qua và ký công ước này.

Đến năm 1997 nghị định thư Kyoto về giảm phát thải khí nhà kính ở các nước phát triển được ký kết đây là một bước đi to lớn về quá trình ra đời của chương trình REED [24]. Mỗi năm một lần các cuộc họp (Cop) được tổ chức đã từng bước đưa các vấn đề về mất rừng, suy thoái rừng, bảo tồn trữ lượng Carbon. Đến năm 2010 (COP 16 tại Cancun): chính thức thông qua năm nhóm hoạt động thuộc REDD+ và nhấn mạnh đến vấn đề về an toàn (safeguards) trong việc thực hiện REDD+. Theo quyết định của COP 16 tại Cancun (tháng 12/2010), năm nhóm hoạt động sau được coi là phù hợp trong khuôn khổ REDD+ đã được thông qua đó là: Giảm phát thải từ mất rừng; Giảm phát thải từ suy thoái rừng; Bảo tồn trữ lượng carbon; Quản lý rừng bền vững; Nâng cao trữ lượng carbon của rừng [24].

Việc bảo vệ rừng ngoài giá trị về gỗ thì sinh khối và trữ lượng cacbon đang và đã được toàn xã hội quan tâm. Ngoài các kiểu rừng cây thân gỗ, rừng tre nứa đang được nhiều nhà khoa học nghiên cứu. Đối với rừng tre nứa tại nước ta Vầu đắng chiếm một diện tích đáng kể ở khu vực một số tỉnh miền núi phía Bắc. Vầu đắng là loại lâm sản ngoài gỗ rất có giá trị hiện nay và được phân bố rất phổ biến ở vùng Đông Bắc bộ.

Giá trị kinh tế của Vầu đắng không chỉ thể hiện ở măng mà thân cây khí sinh của Vầu đắng được dùng nhiều trong xây dựng, làm đồ thủ công mỹ nghệ,. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn 2 Vầu đắng còn góp phần quan trọng trong việc cải tạo đất, điều hòa tiểu khí hậu, chống xói mòn, rửa trôi, hạn chế lũ lụt,. Tuy nhiên, thực tế hiện nay cho thấy, giá trị của rừng Vầu đắng mới chỉ được thừa nhận ở những giá trị kinh tế của nó mang lại, những giá trị về bảo vệ môi trường, khả năng tích lũy sinh khối của rừng Vầu đắng vẫn chưa được thừa nhận mặc dù về mặt nhận thức chúng ta đều biết rừng nói chung trong đó có rừng Vầu đắng nói riêng đều góp phần quan trọng trong việc giảm thiểu biến đổi khí hậu, có khả tích lũy một lượng sinh khối lớn nhưng lại không có đầy đủ cơ sở khoa học cũng như thực tiễn để lượng hóa chúng, bên cạnh đó cũng chưa có nhiều các nghiên cứu về đặc điểm cấu trúc của lâm phần, đặc điểm sinh vật học. của loài Vầu đắng.

Xuất phát từ thực tiễn đó, tôi lựa chọn đề tài “Nghiên cứu đặc điểm cấu trúc lâm phần và xây dựng phƣơng trình tƣơng quan sinh khối của rừng Vầu đắng (Indosasa angustata) tại huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên”. Mục tiêu nghiên cứu 2. Mục tiêu tổng quát Góp phần vào nghiên cứu đặc điểm cấu trúc lâm phần và xây dựng được phương trình tương quan về sinh khối của rừng Vầu đắng ở nước ta làm cơ sở xây dựng cơ chế chi trả dịch vụ môi trường rừng. Mục tiêu cụ thể - Đánh giá được thực trạng phân bố rừng Vầu đắng ở huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên.

- Xác định được đặc điểm cấu trúc lâm phần rừng Vầu đắng ở huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên. - Xây dựng phương trình tương quan sinh khối của rừng Vầu đắng. - Đề xuất một số ứng dụng trong việc xác định lượng sinh khối của rừng Vầu đắng trên địa bàn nghiên cứu. Ý nghĩa Kết quả của đề tài sẽ góp phần vào các công trình nghiên cứu đặc điểm cấu trúc lâm phần và sinh khối của rừng Vầu ở Định Hóa nói riêng và trên toàn quốc nói chung.

Kết quả của đề tài có thể được dùng làm cơ sở cho các công trình nghiên cứu khác cùng lĩnh vực tại địa phương này, làm căn cứ cho các chương trình chi trả dịch vụ môi trường rừng nếu các chương trình này được thực hiện tại địa phương này. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn 3 Chƣơng 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1. Trên thế giới 1. Nghiên cứu đặc trưng về phân bố, cấu trúc và sinh thái của tre trúc Tre trúc là tập hợp các loài thực vật thuộc họ Hoà thảo (Poaceae, hoặc còn gọi là Gramineae).

Các loài tre trúc rất phong phú, đa dạng, phân bố rộng khắp trên thế giới, đặc biệt là ở Châu Á. Tre trúc dễ trồng, sinh trưởng nhanh, sớm cho khai thác, dễ chế biến nên được sử dụng cho rất nhiều mục đích khác nhau. Tre trúc có giá trị rất lớn đối với nền kinh tế quốc dân và đời sống nhân dân, đặc biệt là nông dân nông thôn và miền núi [20]. Trung tâm phân bố của Tre nứa tập trung vào dải nhiệt đới và á nhiệt đới thuộc Châu Á, trong đó chủ yếu là ở Trung Quốc, Ấn Độ, Việt Nam, Nhật Bản, Malaysia, Bắc Australia, Trung Phi, Nam Mỹ và một phần nhỏ ở Bắc Mỹ.

Độ cao phân bố của tre nứa từ sát biển lên đến 4000 m [7]. Theo Dransfield S, Widjaja EA (1995) các loài tre trúc có thể mọc hoang dại hoặc được gây trồng và có một đặc điểm nổi bật là có mặt ở rất nhiều các môi trường sống khác nhau [34]. Còn theo Rao and Rao (1995), cả thế giới có khoảng 1250 loài tre trúc của 75 chi, phân bố ở khắp các châu lục trừ châu Âu. Châu Á đặc biệt phong phú về số lượng và chủng loại tre trúc với khoảng 900 loài của khoảng 65 chi [42,43].

Sự đa dạng của các loài tre trúc trên thế giới được thể hiện ở Bảng 1.1: Phân bố của các loài tre trúc trên thế giới Nƣớc - Vùng Số Diện tích Nƣớc-Vùng lãnh Diện tích Số chi Số chi Số loài lãnh thổ Loài (ha) thổ (ha) Trung Quốc 26 300 2.000 Singapore 6 23 - Nhật Bản 13 237 825.000 Papua New Guinea - 26 - Việt Nam 16 92* 1.000 Hàn Quốc 10 13 - Inđônêxia 10 65 50.000 Phillipnines 8 54 - Madagaxca 11 40 - Malaysia 7 44 - Châu Mỹ 20 45 - Thái Lan 12 41 1.000 Oxtralia 4 4 - Ghi chú *: Nay khoảng hơn 200 loài [31] Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn 4 Hiện nay đã có 20 loài tre nứa được quốc tế ưu tiên bảo tồn cao và có 18 loài tre nứa khác được quốc tế ghi nhận là quan trọng [7] Đặc trưng sinh thái của một số loài tre mọc cụm đã được một số tác giả đề cập như ưa ấm, thích hợp nơi trồng đất dày, nhiều mùn hay một số loài khác chi phân bố ở vùng núi cao ưa khí hậu ẩm mát quanh năm. Đối với loài Trúc núi đá (Drepanostachyum luodianense) đã được nghiên cứu ở mức độ các tiểu sinh cảnh: mặt đất, mặt đá, rãnh đá, kẽ đá, hốc đá, mức độ quần thể, quần xã nơi có loài này phân bố. Kết quả nghiên cứu đã cho thấy ở mỗi kiểu tiểu sinh cảnh khác nhau đã có những đặc trưng sinh thái khác nhau và ảnh hưởng tới kết cấu hình thái và sinh trưởng của loài. Kết quả nghiên cứu về quần thể loài của tác giả đã đưa ra một số đặc trưng thích ứng như: Ở rừng Trúc núi đá tự nhiên khi tỉ số ra măng nhiều thì số măng bị thoái hóa và chết sẽ cao dẫn tới tỉ lệ mọc thành cây thấp.

Tác giả đã giải thích nguyên nhân của sự thoái hóa trên chính là do không gian dinh dưỡng không đủ. Trong rừng tự nhiên, tuổi quần thể có kết cấu tăng trưởng tăng lên nhưng theo xu thế ổn định [15]. Liu Jiming cũng đã nghiên cứu những đặc trưng sinh thái của quần xã như: thành phần loài cây gỗ, cây tái sinh, cây bụi thảm tươi, kết cấu tầng thứ, chỉ số đa dạng sinh học và nhận định môi trường từng khu vực có ảnh hưởng rõ rệt đến quần xã [15]. Nghiên cứu sinh khối thực vật Christensen B (1997) đã nghiên cứu sinh khối của rừng Đước ở rừng ngập mặn đảo Phuket trên bờ biển Tây, Thái Lan.

Kết quả nghiên cứu đã xác định được tổng lượng sinh khối trên mặt đất ở rừng 15 tuổi là 159 tấn sinh khối khô trên một ha. Lượng tăng trưởng hàng năm tính cho toàn bộ thân, cành, lá và rễ khoảng 20 tấn/ha/năm. Tổng năng suất sinh khối khô là 27 tấn/ha/năm. Nghiên cứu cũng đã so sánh lượng vật rụng của rừng ngập mặn và rừng mưa nhiệt đới thì thấy lượng vật rụng hàng năm của rừng ngập mặn cao hơn so với rừng mưa nhiệt đới do rừng ngập mặn nhỏ tuổi hơn và sinh trưởng nhanh hơn [33].

Michael S và Ross (1998) đã nghiên cứu sinh khối và năng suất trên mặt đất của các quần thể rừng ngập mặn ở vườn Quốc gia Biscayne, Florida (USA) từ sau Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn 5 cơn bão Andrew xảy ra năm 1992, kết quả phân tích cho thấy: Cấu trúc tự nhiên của quần thể giữ vai trò quan trọng trong việc chống bão của hệ thống rừng ngập mặn, đặc biệt kích thước và sự phân bố của các bộ phận cấu thành sinh khối [40]. Akira và cs (2000) qua nghiên cứu sinh khối và kích thước rễ dưới mặt đất của Dà vôi (Ceriops tagal) ở Nam Thái Lan kết quả cho thấy: Tổng sinh khối là 137,5 tấn/ha và tỉ lệ sinh khối trên mặt đất và rễ là 1,05. Trong đó sinh khối thân được 53,35 tấn/ha, lá được 13,29, rễ được 1,99 tấn/ha và dưới mặt đất là 87,51 tấn/ha [29]. M, Rajesh G và Sudheesh K.

G (2005) đã nghiên cứu sinh khối trên mặt đất và hấp thụ chất dinh dưỡng của Bambusa bambos (L.) Voss ở khu vườn Thrissur, Kerala, miền Nam Ấn Độ.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ