Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Quá trình đô thị hóa tại thành phố Đồng Hới (tỉnh Quảng Bình) có sự chuyển biến mạnh mẽ kể từ khi địa phương được công nhận là đô thị loại II vào năm 2014 và tiếp tục triển khai định hướng quy hoạch phát triển đến năm 2025. Sự mở rộng không gian đô thị kéo theo việc thu hồi đất nông nghiệp, làm thay đổi căn bản tư liệu sản xuất và điều kiện sống của cư dân khu vực ven đô. Cùng với sự phát triển của công nghiệp và dịch vụ, các vùng nông thôn giáp ranh đối mặt với nhiều biến động phức tạp: tình trạng thiếu việc làm do lao động nông nghiệp chưa thích nghi kịp với sản xuất phi nông nghiệp, tệ nạn xã hội gia tăng và tình trạng ô nhiễm môi trường đất, nước, không khí.

Trong bối cảnh đó, vấn đề chuyển đổi và duy trì sinh kế bền vững cho các hộ nông dân tại khu vực tiếp giáp đô thị trở thành một yêu cầu cấp thiết. Đề tài khóa luận "Sinh kế của hộ dân vùng ven thành phố: Nghiên cứu trường hợp của xã Nam Trạch, thành phố Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình" do sinh viên Nguyễn Thị Phương Mai thực hiện nhằm phân tích thực trạng các nguồn lực sinh kế, nhận diện các yếu tố tác động và đề xuất giải pháp ổn định kinh tế hộ.

Mục tiêu nghiên cứu của đề tài được xác định cụ thể như sau:

  1. Mục tiêu chung: Nghiên cứu, đánh giá sự thay đổi sinh kế của người dân xã Nam Trạch (thành phố Đồng Hới, tiếp giáp huyện Bố Trạch), từ đó đưa ra các giải pháp nhằm định hướng chuyển đổi sinh kế, hỗ trợ giải quyết việc làm, nâng cao mức sống và ổn định kinh tế hộ nông dân.
  2. Mục tiêu cụ thể:
    • Hệ thống hóa những vấn đề lý luận và thực tiễn về đô thị hóa và sinh kế hộ nông dân vùng ven đô thị.
    • Đánh giá thực trạng biến động sinh kế và các nguồn vốn sinh kế của các hộ dân trên địa bàn nghiên cứu.
    • Đề xuất hệ thống giải pháp định hướng thay đổi sinh kế phù hợp với quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội địa phương.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Các vấn đề lý luận, thực tiễn liên quan đến hoạt động sinh kế, tài sản sinh kế và sự chuyển đổi nghề nghiệp của hộ nông dân vùng ven.
  • Phạm vi không gian: Tập trung nghiên cứu thực địa tại xã Nam Trạch, đồng thời thực hiện khảo sát đối chứng tại một số phường/xã ven đô thuộc thành phố Đồng Hới (Bảo Ninh, Đức Ninh, Quang Phú).
  • Phạm vi thời gian: Số liệu thứ cấp và sơ cấp phản ánh thực trạng giai đoạn 2019–2021; các định hướng và giải pháp đề xuất có giá trị áp dụng đến năm 2025.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận tiếp cận nghiên cứu sinh kế dựa trên khung phân tích sinh kế bền vững (Sustainable Livelihoods Framework - SLF) của Bộ Phát triển Quốc tế Anh (DFID, 1999), kết hợp khái niệm sinh kế của Chambers và Conway (1992) cùng khái niệm vùng ven đô thị (peri-urban interface) của Terry (2008). Nghiên cứu đánh giá sinh kế qua 5 nguồn vốn (tài sản sinh kế): Vốn con người ($H$), Vốn tự nhiên ($N$), Vốn tài chính ($F$), Vốn vật chất ($M$) và Vốn xã hội ($S$).

Tác giả sử dụng thang đo điểm số để lượng hóa 5 nguồn vốn sinh kế (tham khảo khung đánh giá của Vũ Thị Ngọc, 2012) theo thang điểm 0–4 cho từng chỉ tiêu và phân cấp tổng hợp:

  • Dưới 5 điểm: Nguồn vốn kém;
  • Từ 5 đến dưới 10 điểm: Nguồn vốn trung bình;
  • Từ 10 đến dưới 15 điểm: Nguồn vốn khá;
  • Từ 15 đến 20 điểm: Nguồn vốn tốt.

Để đánh giá mức độ đa dạng hóa thu nhập, nghiên cứu áp dụng công thức tính số nguồn thu nhập bình quân ($T = \frac{\sum t_i}{n}$) và chỉ số đa dạng hóa Simpson ($DI = \sum (\frac{y_i}{Y})^2$, với giá trị biến thiên từ 0 đến 1).

Phương pháp thu thập dữ liệu:

  • Dữ liệu thứ cấp: Thu thập từ báo cáo thống kê của UBND xã Nam Trạch, Chi cục Thuế huyện Bố Trạch, Cục Thống kê tỉnh Quảng Bình và các báo cáo quyết toán ngân sách nhà nước giai đoạn 2019–2021.
  • Dữ liệu sơ cấp: Điều tra bảng hỏi trực tiếp với tổng quy mô mẫu $n = 265$ hộ nông dân (xác định dựa trên công thức tính mẫu với sai số cho phép $e = 5%$ trên tổng thể 3.777 nhân khẩu của địa bàn). Mẫu được phân tầng thành 2 nhóm:
    • Nhóm I (Ven đô trung tâm - 65 hộ): Các xã/phường Bảo Ninh (25 hộ), Đức Ninh (25 hộ), Quang Phú (25 hộ) thuộc thành phố Đồng Hới.
    • Nhóm II (Vùng ngoại vi - 200 hộ): Xã Nam Trạch, phân bổ tại 5 thôn: Đông Thành (194 hộ, 846 nhân khẩu), Tây Thành (197 hộ, 822 nhân khẩu), Sao Sa (156 hộ, 606 nhân khẩu), Hòa Trạch (105 hộ, 416 nhân khẩu), Chánh Hòa (252 hộ, 1.086 nhân khẩu).
    • Điều tra cán bộ địa phương: Thực hiện phỏng vấn sâu 5 cán bộ/thôn (Lãnh đạo UBND xã, Trưởng thôn, Trưởng Hội Nông dân...).

Phương pháp phân tích số liệu:

  • Phương pháp thống kê mô tả (tần số, tỷ lệ %, số tuyệt đối, số bình quân).
  • Phương pháp so sánh cặp đôi và so sánh nguyên nhân - kết quả giữa hai nhóm địa bàn và giữa các mốc thời gian 2019–2021.
  • Phương pháp phân tích hạch toán kinh tế (doanh thu, chi phí biến đổi, thu nhập hỗn hợp).
  • Phương pháp ma trận SWOT (phân tích điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội, thách thức) và phương pháp tham vấn chuyên gia.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về sinh kế của hộ nông dân: Nghiên cứu tại xã Nam Trạch, thành phố Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình

Chương này làm rõ các khái niệm cốt lõi: sinh kế, thay đổi sinh kế và vùng ven đô thị. Khóa luận phân tích cấu trúc 5 nguồn vốn sinh kế đặc thù của hộ nông dân ven đô và các nhân tố chi phối quá trình chuyển đổi sinh kế, bao gồm nhân tố bên trong (trình độ học vấn, năng lực tích lũy vốn, ý thức tự lập của chủ hộ) và nhân tố bên ngoài (điều kiện tự nhiên, tốc độ thu hồi đất đô thị hóa, chính sách bồi thường hỗ trợ tái định cư và nguồn lực cộng đồng).

Về mặt thực tiễn, tác giả tổng kết kinh nghiệm phát triển sinh kế nông thôn quốc tế:

  • Trung Quốc: Triển khai dự án ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông hỗ trợ giảm nghèo và thiết lập mạng lưới an sinh xã hội nông thôn.
  • Nhật Bản: Đưa công nghiệp về nông thôn, phát huy vai trò của hợp tác xã trong chuỗi liên kết sản xuất và chế biến nông sản tại tỉnh Tochigi.
  • Myanmar: Chương trình trợ cấp tiền mặt phục hồi sinh kế khẩn cấp sau bão Nargis (2008) do Quỹ Cứu trợ Trẻ em thực hiện.

Ở phạm vi trong nước, tác giả phân tích mô hình đào tạo nghề và kết nối doanh nghiệp tại quận Cẩm Lệ (Đà Nẵng) và chính sách hỗ trợ 50% học phí học nghề cho nông dân mất đất tại thành phố Hải Dương. Từ đó, chương 1 rút ra các bài học về tính tuần tự trong chuyển đổi nghề nghiệp, sự kết hợp giữa nguồn lực vật chất và phi vật chất, cùng yêu cầu gắn đào tạo nghề với nhu cầu thực tế của thị trường lao động.

Chương 2: Phân tích về sinh kế của hộ nông dân: Nghiên cứu tại xã Nam Trạch, thành phố Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình

Chương 2 trình bày bức tranh toàn diện về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội và phân tích chi tiết thực trạng sinh kế của các hộ điều tra.

1. Đặc điểm địa bàn nghiên cứu

Thành phố Đồng Hới có tổng diện tích tự nhiên 15.786,84 ha, địa hình chia thành 4 vùng rõ rệt: gò đồi phía Tây (chiếm 15%), bán sơn địa xen kẽ đồng bằng (chiếm 37%), đồng bằng trung tâm (chiếm 38%) và cồn cát ven biển (chiếm 10%). Xã Nam Trạch có diện tích 1.918,2 ha (đất sản xuất nông nghiệp 980,31 ha; đất ở 702,14 ha; đất nuôi trồng thủy sản 151,2 ha; đất chuyên dùng 84,55 ha) với 905 hộ và 3.777 nhân khẩu. Tỷ lệ hộ nghèo tại xã Nam Trạch giảm xuống dưới 1% vào năm 2021.

2. Thực trạng 5 nguồn vốn sinh kế

Kết quả khảo sát $n = 265$ hộ cho thấy đặc điểm các nguồn vốn sinh kế:

  • Vốn con người: Chủ hộ chủ yếu là nam giới (toàn vùng chiếm 93,4%; Nhóm I: 92,3%; Nhóm II: 94,5%), tuổi bình quân là 49 tuổi. Trình độ học vấn của chủ hộ ở mức thấp: Tiểu học chiếm 49,56% (Nhóm I: 44,61%; Nhóm II: 54,5%), THCS chiếm 32,15%, THPT chỉ đạt 18,29% (Nhóm I: 23,07%; Nhóm II: 13,5%). Quy mô hộ bình quân có 4,34 nhân khẩu với 2,25 lao động chính. Lao động nữ chiếm hơn 90% trong sản xuất nông nghiệp, trong khi nam giới (chiếm 8% trong nông nghiệp) chuyển dịch sang ngành xây dựng, cơ khí và dịch vụ.
  • Vốn vật chất: Giá trị tài sản sinh hoạt bình quân dao động 30–120 triệu đồng/hộ. Tỷ lệ nhà kiên cố đạt 69,71% (Nhóm I đạt 76,92%, giá trị bình quân 93,64 triệu đồng/căn; Nhóm II đạt 62,5%, giá trị bình quân 81,23 triệu đồng/căn), tỷ lệ nhà cấp 4 chiếm 30,29%. Về tư liệu sản xuất, Nhóm II sở hữu nhiều máy móc nông nghiệp hơn Nhóm I (máy cày, máy tuốt lúa, máy phun thuốc).
  • Vốn xã hội: Sự liên kết sản xuất chủ yếu dựa trên quan hệ huyết thống và xóm giềng (chung vốn sản xuất: họ hàng 23,13%, xóm giềng 16,02%; hỗ trợ tiêu thụ nông sản: hàng xóm 38,66%, họ hàng 27,44%; trao đổi kinh nghiệm: bạn bè 37,73%). Tỷ lệ hộ tham gia các tổ chức chính trị - xã hội: Hội Phụ nữ (98,5%), Hội Nông dân (97,6%), Đoàn Thanh niên (69,5%), Đảng Cộng sản (23,2%), Ban đại diện thôn/chính quyền (25,8%), Nhóm tín dụng (19,95%) và Hợp tác xã (2,4%).
  • Vốn tự nhiên: Quá trình đô thị hóa làm sụt giảm diện tích đất canh tác. Tại Nhóm I, diện tích đất nông nghiệp giảm hơn 3.000 ha giai đoạn 2019–2021, tỷ lệ hộ chuyển đổi nghề nghiệp vượt mức 90%. Ở những khu vực có diện tích đất bị thu hồi trên 70%, nông hộ gặp khó khăn nghiêm trọng trong việc tái tổ chức sản xuất.
  • Vốn tài chính: Mức tích lũy tiền mặt bình quân của hộ dân đạt 21 triệu đồng/năm (Nhóm I đạt 23,26 triệu đồng/năm). Mức bồi thường đất nông nghiệp bình quân khoảng 0,6 triệu đồng/m2, giá trị bồi thường dao động từ 12,8 triệu đồng đến trên 1,7 tỷ đồng/hộ. Cơ cấu sử dụng tiền đền bù: gần 40% chi tiêu xây dựng nhà ở và mua sắm đồ dùng gia đình; 31,3% đầu tư kinh doanh dịch vụ - thương mại; hơn 20% tái đầu tư sản xuất nông nghiệp.
TT Nguồn vốn sinh kế Năm 2019 (Nhóm I) Năm 2019 (Nhóm II) Năm 2021 (Nhóm I) Năm 2021 (Nhóm II)
1 Vốn con người ($H$) 2,09 1,45 2,18 1,51
2 Vốn tự nhiên ($N$) 2,13 2,01 2,11 1,74
3 Vốn tài chính ($F$) 1,69 1,80 2,03 1,53
4 Vốn vật chất ($M$) 1,12 1,22 1,61 1,98
5 Vốn xã hội ($S$) 1,50 1,80 2,04 2,22
Tổng Tổng điểm vốn sinh kế (/20) 8,53 8,28 9,97 8,95

Tổng điểm vốn sinh kế của cả hai nhóm đều nằm trong khoảng trung bình (5–10 điểm), trong đó Nhóm I có tốc độ tăng trưởng điểm vốn nhanh hơn Nhóm II nhờ lợi thế tiếp cận hạ tầng và dịch vụ đô thị.

3. Chiến lược và hoạt động sinh kế

Nghiên cứu phân định 2 nhóm chiến lược sinh kế chính:

  • Chiến lược nông nghiệp: Nông hộ tập trung thuê/mua thêm đất, cải tạo ao hồ nuôi trồng thủy sản, chuyển đổi sang trồng hoa, cây cảnh, nâng cao kỹ thuật sản xuất hàng hóa có giá trị gia tăng cao.
  • Chiến lược phi nông nghiệp: Hộ giữ đất thổ cư, giảm bớt đầu tư tư liệu sản xuất nông nghiệp, chuyển hướng sang làm công nhân tại các xí nghiệp, làm nghề mộc, may mặc hoặc kinh doanh thương mại - dịch vụ nhỏ lẻ.

Chương 3: Định hướng một số giải pháp giải quyết tình hình sinh kế của hộ dân tại xã Nam Trạch, thành phố Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình

Dựa trên kết quả phân tích thực trạng và ma trận SWOT, chương 3 đề xuất hệ thống giải pháp:

  1. Khai thác và phát triển các nguồn vốn sinh kế: Nâng cao chất lượng vốn con người thông qua đào tạo nghề gắn với nhu cầu tuyển dụng; quản lý chặt chẽ quỹ đất nông nghiệp còn lại; đa dạng hóa các kênh tín dụng chính sách ưu đãi cho hộ chuyển đổi ngành nghề.
  2. Đa dạng hóa hoạt động sinh kế bền vững: Khuyến khích mô hình sản xuất nông nghiệp đô thị, trồng rau an toàn, hoa cây cảnh phục vụ nội thành; phát triển các ngành tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ lưu trú, ăn uống.
  3. Nâng cao năng lực ứng phó rủi ro bên ngoài: Xây dựng phương án sản xuất thích ứng với thiên tai bão lũ miền Trung và kiểm soát ô nhiễm môi trường do các cơ sở công nghiệp ven đô gây ra.
  4. Phát huy nội lực nông hộ: Hướng dẫn người dân lập kế hoạch quản lý và sử dụng nguồn vốn bồi thường đất hiệu quả, tránh chi tiêu lãng phí vào tiêu dùng xa xỉ.
  5. Hoàn thiện chính sách hỗ trợ của Nhà nước: Hoàn thiện cơ chế bồi thường giải phóng mặt bằng thỏa đáng, công khai, minh bạch; đổi mới nội dung các lớp tập huấn khuyến nông và đào tạo nghề của địa phương.

Kết quả và đóng góp

Khóa luận đã phản ánh trung thực và lượng hóa cụ thể thực trạng sinh kế của hộ nông dân vùng ven đô thị tại tỉnh Quảng Bình:

  • Kết quả dữ liệu chính:
    • Xác định tổng điểm vốn sinh kế năm 2021 của vùng ven đô Đồng Hới ở mức trung bình ($9,97/20$ điểm ở Nhóm I và $8,95/20$ điểm ở Nhóm II).
    • Ghi nhận sự chuyển dịch cơ cấu lao động: tỷ lệ lao động thuần nông nghiệp giảm xuống còn khoảng 25–35%; lao động nông nghiệp chủ yếu là người cao tuổi và phụ nữ (trên 90%), nam giới chủ yếu tham gia công nghiệp - xây dựng.
    • Phản ánh cơ cấu sử dụng vốn đền bù đất: gần 40% chi tiêu cho nhà ở và sinh hoạt, 31,3% đầu tư dịch vụ, trên 20% tái đầu tư nông nghiệp. Mức bồi thường bình quân đạt 0,6 triệu đồng/m2.
    • Nhận diện sự tham gia xã hội cao ở các hội đoàn thể truyền thống (Hội Phụ nữ 98,5%, Hội Nông dân 97,6%) nhưng mức độ tham gia vào Hợp tác xã còn rất thấp (chỉ 2,4%).
  • Đóng góp học thuật và thực tiễn:
    • Đề tài vận dụng thành công khung phân tích DFID và hệ thống chỉ tiêu lượng hóa 5 nguồn vốn vào nghiên cứu thực nghiệm ở cấp độ xã/phường tại khu vực Bắc Trung Bộ.
    • Cung cấp cơ sở dữ liệu vi mô chi tiết về tình hình thu chi, tài sản và nguyện vọng chuyển đổi nghề của hộ dân xã Nam Trạch, hỗ trợ chính quyền địa phương trong việc hoạch định chính sách bồi thường, hỗ trợ sinh kế và quy hoạch nông thôn mới ven đô.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế của nghiên cứu:
    • Quy mô mẫu khảo sát giới hạn ở 265 hộ, trong đó Nhóm I (ven đô trực thuộc thành phố) chỉ điều tra 65 hộ, chưa bao quát toàn bộ các xã/phường ven đô của thành phố Đồng Hới.
    • Việc thu thập dữ liệu chuỗi thời gian (2019–2021) dựa vào trí nhớ hồi cố của người dân gặp khó khăn (ước tính chỉ khoảng 100 hộ nhớ chi tiết các khoản thu chi trong quá khứ).
    • Phân tích chủ yếu dừng ở mức độ thống kê mô tả, so sánh tỷ lệ và chấm điểm định tính, chưa áp dụng các mô hình kinh tế lượng (như hồi quy Logistic/Probit đa thức) để đo lường mức độ tác động của từng yếu tố đến xác suất lựa chọn chiến lược sinh kế.
  • Hướng nghiên cứu tiếp theo:
    • Mở rộng phạm vi khảo sát liên vùng ven đô trên toàn tỉnh Quảng Bình;
    • Ứng dụng mô hình kinh tế lượng lượng hóa các yếu tố quyết định thu nhập hộ và phân tích các chỉ số nghèo đa chiều sau thu hồi đất;
    • Đánh giá tác động dài hạn của quy hoạch đô thị Đồng Hới giai đoạn sau năm 2025 đối với tính bền vững sinh kế hộ nông dân.

Giá trị tham khảo

Khóa luận là nguồn tài liệu tham khảo hữu ích cho các nhóm đối tượng sau:

  • Sinh viên và học viên chuyên ngành: Kế hoạch - Đầu tư, Kinh tế phát triển, Kinh tế nông nghiệp, Quản lý đất đai và Xã hội học nông thôn cần tìm hiểu cách thức vận dụng khung sinh kế bền vững DFID vào nghiên cứu thực địa.
  • Tài liệu tham khảo phương pháp luận: Cung cấp hệ thống bảng hỏi điều tra nông hộ, thang đo 5 nguồn vốn sinh kế, công thức tính chỉ số đa dạng hóa thu nhập Simpson ($DI$) và cấu trúc ma trận SWOT ứng dụng trong nghiên cứu kinh tế hộ.
  • Cán bộ quản lý địa phương: Giúp cán bộ phòng Nông nghiệp & PTNT, phòng Lao động - Thương binh & Xã hội, chính quyền cấp xã/phường nắm bắt thực trạng việc làm, cơ cấu sử dụng tiền đền bù đất và những khó khăn nội tại của người dân để xây dựng chương trình hỗ trợ chuyển đổi nghề phù hợp.

Câu hỏi thường gặp

1. Khóa luận sử dụng khung lý thuyết nào để đánh giá sinh kế của hộ nông dân?

Khóa luận áp dụng khung phân tích sinh kế bền vững của Bộ Phát triển Quốc tế Anh (DFID, 1999), kết hợp lý thuyết của Chambers & Conway (1992) và Terry (2008). Nghiên cứu đánh giá thực trạng dựa trên 5 nguồn vốn sinh kế: Vốn con người ($H$), Vốn tự nhiên ($N$), Vốn tài chính ($F$), Vốn vật chất ($M$) và Vốn xã hội ($S$) thông qua thang điểm 0–4 dựa trên nghiên cứu của Vũ Thị Ngọc (2012).

2. Mẫu khảo sát được phân bổ như thế nào giữa các địa bàn nghiên cứu?

Tổng số mẫu khảo sát là $n = 265$ hộ nông dân (với sai số cho phép 5%), chia thành 2 nhóm:

  • Nhóm I (65 hộ): Gồm 3 xã/phường ven đô thành phố Đồng Hới là Bảo Ninh (25 hộ), Đức Ninh (25 hộ) và Quang Phú (25 hộ).
  • Nhóm II (200 hộ): Thuộc xã Nam Trạch, phân bố đều tại 5 thôn: Đông Thành, Tây Thành, Sao Sa, Hòa Trạch và Chánh Hòa.

3. Điểm số các nguồn vốn sinh kế của các hộ dân thay đổi ra sao trong giai đoạn 2019–2021?

Năm 2019, tổng điểm 5 nguồn vốn sinh kế của Nhóm I đạt 8,53 điểm và Nhóm II đạt 8,28 điểm (thang điểm tối đa 20). Đến năm 2021, tổng điểm của Nhóm I tăng lên 9,97 điểm (Vốn con người: 2,18; Tự nhiên: 2,11; Tài chính: 2,03; Vật chất: 1,61; Xã hội: 2,04) và Nhóm II đạt 8,95 điểm (Vốn con người: 1,51; Tự nhiên: 1,74; Tài chính: 1,53; Vật chất: 1,98; Xã hội: 2,22). Cả hai nhóm đều duy trì ở mức vốn trung bình.

4. Nông hộ bị thu hồi đất nông nghiệp sử dụng tiền bồi thường vào những mục đích nào?

Số tiền đền bù bình quân đạt khoảng 0,6 triệu đồng/m2 (tổng số tiền nhận được dao động từ 12,8 triệu đồng đến hơn 1,7 tỷ đồng/hộ). Cơ cấu sử dụng tiền đền bù của các hộ điều tra được ghi nhận: gần 40% hộ dùng để xây dựng nhà cửa và mua sắm trang thiết bị gia đình; 31,3% hộ đầu tư phát triển ngành nghề thương mại - dịch vụ; và trên 20% hộ tiếp tục tái đầu tư vào sản xuất nông nghiệp.

5. Đặc điểm về trình độ học vấn của chủ hộ ảnh hưởng như thế nào đến khả năng chuyển đổi sinh kế?

Khảo sát cho thấy trình độ học vấn của chủ hộ ở mức thấp: 49,56% chỉ đạt trình độ tiểu học, 32,15% đạt trình độ THCS và chỉ có 18,29% tốt nghiệp THPT. Tỷ lệ lao động qua đào tạo chuyên môn kỹ thuật từ sơ cấp trở lên toàn vùng chỉ đạt 23,35%, gây khó khăn cho việc tiếp cận công nghệ mới và hạn chế khả năng tìm kiếm việc làm chất lượng cao trong các khu công nghiệp hay doanh nghiệp dịch vụ đô thị.


Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Nguyễn Thị Phương Mai đã hệ thống hóa và phân tích sâu sắc thực trạng sinh kế của hộ nông dân xã Nam Trạch và vùng ven thành phố Đồng Hới dưới tác động của quá trình đô thị hóa giai đoạn 2019–2021. Bằng việc lượng hóa 5 nguồn vốn sinh kế theo khung DFID trên mẫu khảo sát 265 hộ, công trình đã làm rõ những chuyển dịch trong cơ cấu lao động, thu nhập và các rủi ro phát sinh khi diện tích đất sản xuất nông nghiệp bị thu hẹp. Hệ thống giải pháp đề xuất trong khóa luận mang tính thực tế, tập trung vào nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, đa dạng hóa ngành nghề và hoàn thiện chính sách hỗ trợ chuyển đổi sinh kế bền vững cho cư dân nông thôn vùng ven đến năm 2025.