Tổng quan luận án

Cây ngô (Zea mays L.) thuộc họ Hòa thảo (Poaceae) là một trong những cây lương thực giữ vị trí quan trọng trong nền nông nghiệp toàn cầu, cung cấp nguồn tinh bột, dinh dưỡng và nguyên liệu phục vụ ngành chăn nuôi cũng như chế biến công nghiệp. Tại Việt Nam và Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào, sản xuất ngô đóng vai trò chủ lực đối với an ninh lương thực và chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp. Tuy nhiên, năng suất và phẩm cấp ngô thương phẩm thường xuyên bị đe dọa bởi nhiều loài dịch hại, trong đó sâu xanh Helicoverpa armigera (Hübner) thuộc họ Ngài đêm (Noctuidae), bộ Cánh vảy (Lepidoptera) là đối tượng gây hại nghiêm trọng do tập tính ăn hoa cờ, cắn cụt râu bắp và đục trực tiếp vào bắp ngô non.

Mặc dù H. armigera là loài dịch hại phổ biến, nhưng các công trình nghiên cứu một cách hệ thống về quy luật phát sinh, đặc tính sinh học, các chỉ tiêu sinh thái học cơ bản và biện pháp phòng chống loài sâu này chuyên biệt trên cây ngô tại Việt Nam và Lào trước đây còn rất khiêm tốn. Việc thiếu hụt các dẫn liệu định lượng về ngưỡng nhiệt độ phát dục, bảng sống, phổ ký chủ luân chuyển và hiệu lực của các biện pháp quản lý trên đồng ruộng đã tạo ra khoảng trống khoa học cần được giải quyết.

Mục tiêu nghiên cứu của luận án được xác định cụ thể như sau:

  1. Mục tiêu chung: Trên cơ sở nghiên cứu thành phần sâu hại bộ Cánh vảy trên ngô, vị trí số lượng và sự chu chuyển của sâu xanh H. armigera, đi sâu phân tích các đặc điểm sinh học, sinh thái học để đề xuất biện pháp phòng chống loài sâu hại này trên ngô đạt hiệu quả kinh tế và an toàn môi trường.
  2. Mục tiêu cụ thể:
    • Mục tiêu 1: Xác định thành phần loài sâu hại thuộc bộ Cánh vảy (Lepidoptera) trên cây ngô tại Hà Nội (Việt Nam) và Viêng Chăn (Lào) giai đoạn 2017–2019; xác định vị trí số lượng và sự chu chuyển ký chủ của sâu xanh H. armigera tại vùng nghiên cứu.
    • Mục tiêu 2: Xác định các đặc điểm hình thái, sinh vật học và sinh thái học cơ bản của sâu xanh H. armigera khi sử dụng thức ăn là ngô và các ký chủ liên quan.
    • Mục tiêu 3: Thử nghiệm và đề xuất một số biện pháp phòng chống sâu xanh hại ngô thích hợp tại Viêng Chăn, Lào.

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là sâu xanh Helicoverpa armigera (Hübner) gây hại trên cây ngô. Phạm vi không gian nghiên cứu bao gồm: vùng đồng ruộng tại 3 xã Lệ Chi, Cổ Bi, Văn Đức thuộc huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội (Việt Nam); xã Xendin thuộc huyện NaxayThong, thủ đô Viêng Chăn (Lào); cùng hệ thống thí nghiệm tại phòng thí nghiệm Bộ môn Côn trùng, Khoa Nông học, Học viện Nông nghiệp Việt Nam. Phạm vi thời gian nghiên cứu thực địa và thực nghiệm được tiến hành liên tục trong 3 năm, từ năm 2017 đến năm 2019.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Tổng quan tài liệu của luận án đã hệ thống hóa các công trình nghiên cứu trong nước và quốc tế về cây ngô, thành phần sâu hại bộ Cánh vảy và sâu xanh H. armigera:

  • Về tình hình sản xuất ngô và thiệt hại do sâu hại: Các số liệu từ FAOSTAT (2012, 2017, 2019) và USDA (2014, 2018, 2020a, 2020b) cho thấy ngô là cây ngũ cốc có sản lượng hàng đầu thế giới. Tại Lào, sản lượng ngô giai đoạn 2013–2016 tăng trưởng nhưng bắt đầu giảm vào năm 2017 (từ 1,55 triệu tấn năm 2016 xuống 1,19 triệu tấn năm 2017 theo FAOSTAT, 2019). Tại Việt Nam, sản lượng ngô năm 2016 đạt 5,98 triệu tấn nhưng vẫn chưa đáp ứng đủ nhu cầu tiêu thụ nội địa, phải nhập khẩu khối lượng lớn từ nước ngoài (Bộ Nông nghiệp và PTNT, 2013; Đỗ Văn Ngọc, 2016).
  • Về thành phần sâu hại ngô: Các nghiên cứu của Goodyer (1982), Mathur (1992), Hill & Waller (1988), Waterhouse (1993) và Nualsri (1991) chỉ ra rằng bộ Cánh vảy là nhóm côn trùng phá hại nguy hiểm trên ngô nhiệt đới, tiêu biểu là Ostrinia furnacalis, Ostrinia nubilalis, Mythimna separata và Helicoverpa armigera. Tại Việt Nam, các tác giả Viện Bảo vệ thực vật (1976, 1998), Nguyễn Quý Hùng và cộng sự (1978), Nguyễn Đức Khiêm (1995), Đặng Thị Dung (2003), Nguyễn Văn Đĩnh và cộng sự (2012), Phạm Văn Lầm (2013), Lại Tiến Dũng (2015) đã công bố danh lục từ 9 đến 14 loài Cánh vảy hại ngô. Tại Lào, Cục Trồng trọt ghi nhận 45 loài sâu hại ngô, trong đó sâu đục thân và sâu xanh là hai đối tượng chủ yếu.
  • Về sinh học, sinh thái và tính kháng thuốc của sâu xanh: Các nghiên cứu của Fitt (1989), Zalucki và cộng sự (1986, 1994), Matthews (1991), Roome (1975), Casimero và cộng sự (2000, 2001), EPPO (2006, 2019), CABI (2013, 2017, 2018, 2019), Amer & El-Sayed (2014), Rabari và cộng sự (2017) đã mô tả sự phân bố rộng khắp, khả năng di cư hàng trăm kilomet, phổ ký chủ trên 200 loài thực vật, tập tính đẻ trứng phân tán và hiện tượng ăn thịt lẫn nhau từ tuổi 3 của H. armigera. Các tác giả McCaffery (1998), Sharma & Pampapathy (2006), Duraimurugan (2005) ghi nhận sâu xanh đã hình thành tính kháng cao đối với các nhóm thuốc trừ sâu hóa học tổng hợp thuộc gốc Lân hữu cơ, Carbamate và Pyrethroid. Tại Việt Nam, các công trình của Nguyễn Thị Hai (1996), Nguyễn Minh Thuyên & Nguyễn Thơ (1995), Nguyễn Văn Đĩnh & Nguyễn Thị Kim Oanh (2003), Đặng Thị Dung (2006), Nguyễn Kim Chiến (2012) chủ yếu khảo sát sâu xanh trên cây bông, đậu tương hoặc cà chua.

Khoảng trống nghiên cứu được luận án xác định: Chưa có công trình nào đánh giá có hệ thống về tập đoàn sâu Cánh vảy hại ngô tại thủ đô Viêng Chăn (Lào), chưa có nghiên cứu so sánh cơ cấu sâu hại giữa Hà Nội và Viêng Chăn, đồng thời thiếu hụt các tham số sinh học, sinh thái định lượng (ngưỡng phát dục, tổng tích ôn, bảng sống sinh thái học, sức ăn lá) của H. armigera khi sử dụng thức ăn là ngô và các cây trồng luân canh tại địa bàn nghiên cứu.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Luận án dựa trên cơ sở lý thuyết côn trùng học nông nghiệp, sinh thái học quần thể côn trùng và nguyên lý quản lý dịch hại tổng hợp (IPM). Trọng tâm lý thuyết là mô hình phân tích bảng sống (Life Table) và tỷ lệ tăng tự nhiên của quần thể côn trùng trong điều kiện thức ăn và không gian không giới hạn theo phương pháp luận của Birch (1948), cùng quy luật nhiệt động học điều hòa sự phát triển của côn trùng thông qua ngưỡng khởi điểm phát dục ($T_0$) và tổng tích ôn hữu hiệu ($K$).

Phương pháp nghiên cứu thực nghiệm bao gồm:

  • Phương pháp điều tra thành phần loài và mức độ phổ biến: Thực hiện theo Quy chuẩn Kỹ thuật Quốc gia QCVN 01-38: 2010/BNNPTNT của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam.
  • Phương pháp điều tra diễn biến mật độ sâu hại và thiên địch ngoài đồng: Thực hiện theo Quy chuẩn Kỹ thuật Quốc gia QCVN 01-167: 2014/BNNPTNT và QCVN 01-168: 2014/BNNPTNT; định kỳ điều tra 7 ngày/lần trên các ô tiêu chuẩn tại các xã nghiên cứu (diện tích điều tra mỗi xã 200 $m^2$). Điều tra chu chuyển ký chủ thực hiện định kỳ 10 ngày/lần trên các cây trồng và cây dại tại NaxayThong.
  • Phương pháp nghiên cứu sinh vật học và sinh thái học trong phòng thí nghiệm: Nhân nuôi cá thể H. armigera trong các buồng nuôi và tủ sinh thái có kiểm soát nhiệt độ (20°C, 25°C, 30°C) và ẩm độ tương đối (70–80%), theo dõi thời gian phát dục từng pha (trứng, sâu non 6 tuổi, tiền nhộng, nhộng, trưởng thành), sức đẻ trứng, tỷ lệ sống sót ($l_x$), sức sinh sản ($m_x$), tỷ lệ trứng nở và sức tiêu thụ thức ăn.
  • Phương pháp đánh giá hiệu lực thuốc bảo vệ thực vật: Thực hiện các thí nghiệm trong phòng thí nghiệm và ngoài đồng ruộng; tính toán hiệu lực phòng trừ theo công thức Abbott và công thức Henderson - Tilton đối với các loại thuốc hóa học và sinh học.
  • Nguồn vật liệu và dữ liệu: Sử dụng các giống ngô lai trồng phổ biến gồm HN88, NK4300, Ngô ngọt (Sweet Corn Super), Waxy Corn Hybrid (F1), Twin Nagas (F1); các cây ký chủ gồm hướng dương (Helianthus annuus), cà chua (Solanum lycopersicum), cà pháo (Solanum macrocarpon), ớt (Capsicum annuum), đậu bắp (Abelmoschus esculentus); các chế phẩm thuốc BVTV gồm Senchez 5SC, Thensoo 35EC, Thaiger 40EC, Tasieu 5WG, VBTusa WP 16000 IU/mg. Dữ liệu khí tượng thu thập từ trạm đo thực tế tại khu vực nghiên cứu.

Nội dung chính theo từng chương

Phần 1. Tính cấp thiết, mục tiêu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Nội dung phần này thiết lập luận cứ khoa học về sự cần thiết phải nghiên cứu sâu xanh H. armigera trên ngô trong bối cảnh sản xuất ngô tại Lào và Việt Nam đang mở rộng diện tích nhưng đối mặt với áp lực sâu hại nghiêm trọng. Phần này xác định 3 mục tiêu cụ thể, đối tượng khảo sát là H. armigera, cùng phạm vi thực hiện tại Gia Lâm (Hà Nội) và NaxayThong (Viêng Chăn) giai đoạn 2017–2019.

Phần 2. Tổng quan tài liệu nghiên cứu

Chương tổng quan phân tích 3 cụm nội dung chính: (1) Tình hình sản xuất ngô và nghiên cứu sâu hại ngô trên phạm vi toàn cầu, tại Việt Nam và tại Lào; (2) Cơ sở phân loại học, nguồn gốc phân bố, phạm vi ký chủ, đặc điểm hình thái, tập tính hoạt động, chu kỳ phát dục và tính kháng thuốc của sâu xanh H. armigera; (3) Đánh giá các biện pháp phòng chống sâu xanh đã công bố bao gồm biện pháp canh tác (luân canh, mật độ, cây bẫy/dẫn dụ), biện pháp sinh học (sử dụng Trichogramma, Campoletis chlorideae, vi khuẩn Bacillus thuringiensis, virus HaNPV) và biện pháp hóa học.

Phần 3. Vật liệu và phương pháp nghiên cứu

Trình bày chi tiết địa điểm điều tra thực địa (3 xã tại Gia Lâm - Hà Nội và xã Xendin tại NaxayThong - Viêng Chăn) và phòng thí nghiệm Bộ môn Côn trùng. Mô tả đặc tính sinh học của 5 giống ngô thí nghiệm và 5 loại cây ký chủ phụ; liệt kê quy cách dụng cụ nuôi (lồng lưới 50x40x50 cm, hộp mica 10x15 cm, tủ sinh thái, kính hiển vi soi nổi). Thiết lập quy trình thu thập mẫu, nuôi sâu cá thể, công thức tính toán bảng sống của Birch (1948) ($R_0, r_m, T, T_c, DT, \lambda$), tính toán ngưỡng nhiệt độ $T_0$ và tổng tích ôn $K$, cùng phương pháp bố trí thí nghiệm ngoài đồng về mật độ gieo trồng, cây dẫn dụ, luân canh và bẫy bả chua ngọt.

Phần 4. Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Kết quả nghiên cứu thực nghiệm của luận án được trình bày qua các tiểu mục chuyên đề:

1. Thành phần sâu hại bộ Cánh vảy và vị trí của sâu xanh tại vùng nghiên cứu

  • Điều tra giai đoạn 2017–2019 đã ghi nhận tổng cộng 25 loài sâu hại thuộc bộ Cánh vảy (Lepidoptera), phân bố trong 4 họ trên cây ngô. Trong đó, họ Ngài đêm (Noctuidae) chiếm tỷ lệ cao nhất với 10 loài.
  • Mức độ đa dạng loài tại Viêng Chăn (Lào) cao hơn tại Hà Nội (Việt Nam) với tỷ lệ ghi nhận tương ứng là 21 loài so với 13 loài.
  • Sâu keo mùa thu (Spodoptera frugiperda) được xác định là loài mới xuất hiện trong danh lục sâu hại ngô tại Lào với mức độ phổ biến cao. Hai loài có tần suất xuất hiện và mức độ phổ biến cao nhất là sâu đục thân ngô châu Á (Ostrinia furnacalis) và sâu xanh (Helicoverpa armigera).
  • Trong tập đoàn sâu hại Cánh vảy tại Viêng Chăn, vị trí số lượng của sâu xanh H. armigera đứng thứ 2, chỉ sau nhóm sâu đục thân. Sâu xanh duy trì chu chuyển liên tục quanh năm trên 11 loại cây trồng và cây dại tại huyện NaxayThong.

2. Đặc điểm hình thái và sinh vật học của sâu xanh H. armigera trên ngô

  • Hình thái và tập tính: Trứng hình cầu, có 24 gân dọc, chuyển từ màu trắng sữa sang nâu đen trước khi nở. Sâu non có 6 tuổi, màu sắc biến thiên từ xanh nhạt đến nâu đỏ với dải sọc đặc trưng dọc lưng và hai bên sườn. Trưởng thành vũ hóa tập trung chủ yếu vào buổi sáng từ 6 đến 10 giờ (chiếm tỷ lệ 52,64%). Sâu non đẫy sức chui xuống đất làm nhộng, trong đó 90% nhộng tập trung ở tầng đất sâu > 2–4 cm.
  • Tập tính gây hại và cạnh tranh: Sâu non từ tuổi 3 bắt đầu xuất hiện tập tính cạnh tranh trong loài và ăn thịt lẫn nhau; sâu non từ tuổi 4 trở lên thể hiện khả năng đục sâu vào bắp ngô cao nhất. Sức ăn lá ngô trung bình đạt 4,81 g lá/cá thể sâu non.
  • Các chỉ tiêu sinh học: Ở điều kiện nhiệt độ trung bình 30,1°C và ẩm độ 79,4%, vòng đời sâu xanh là 35,54 ngày. Trưởng thành cái có thời gian sống trung bình 8,9 ngày, sức đẻ trứng bình quân đạt 427,55 quả/con cái. Tỷ lệ trứng nở trung bình đạt 67,3%. Tỷ lệ sống sót của các pha trước trưởng thành ở điều kiện 25±1°C và ẩm độ 70±10% đạt trên 85,33%. Tỷ lệ giới tính đực/cái tương đối cân bằng.

3. Đặc điểm sinh thái học của sâu xanh H. armigera

  • Ảnh hưởng của nhiệt độ: Tỷ lệ sống sót và khối lượng nhộng của sâu xanh tỷ lệ thuận với mức tăng nhiệt độ môi trường. Luận án xác định được ngưỡng khởi điểm phát dục ($T_0$) cho toàn bộ vòng đời sâu xanh là 10,2°C và tổng tích ôn hữu hiệu ($K$) là 526,3 độ-ngày.
Mức nhiệt độ thí nghiệm (°C) Tỷ lệ sống sót (%) Khối lượng nhộng trung bình (mg/nhộng)
20°C 48,57 201,77
25°C 64,29 222,44
30°C 75,71 236,23
  • Ảnh hưởng của nguồn thức ăn: Thời gian phát dục của sâu non dài nhất khi ăn hạt ngô tẻ địa phương (25,57 ngày) và ngắn nhất khi ăn phấn hoa ngô giai đoạn trỗ cờ (16,67 ngày). Sâu non ăn lá ớt có thời gian phát dục dài hơn khi ăn lá ngô hoặc lá hướng dương. Khối lượng nhộng cái khi sâu non ăn lá ngô đạt giá trị cao hơn so với ăn lá ớt và hướng dương. Bắp ngô ngọt có mức độ hấp dẫn sâu non đến ăn cao nhất (37,50%) so với ngô nếp Lào, giống HN88 và VN6.
  • Tập tính đẻ trứng và dinh dưỡng bổ sung của trưởng thành: Trưởng thành cái được cho ăn thêm dung dịch chua ngọt có sức đẻ trứng cao nhất (654,13 quả/cái), vượt trội so với dung dịch mật ong 20%, 10% và nước lã. Khi thử nghiệm tính chọn lọc giá thể đẻ trứng giữa 5 loại cây ký chủ, trưởng thành cái chọn đẻ trên cây cà chua nhiều nhất (39,3 quả/cái/đêm, sai khác có ý nghĩa thống kê ở mức P < 0,05) so với ngô, cà pháo, ớt và đậu bắp.
  • Bảng sống và chỉ tiêu sinh thái học quần thể: Khi nuôi ở điều kiện 25±1°C, thức ăn giai đoạn sâu non tác động rõ rệt đến các tham số sinh thái học của H. armigera:
Chỉ tiêu sinh thái học Thức ăn: Hạt ngô chín sữa Thức ăn: Giá đỗ
Hệ số nhân của một thế hệ ($R_0$) 654,10 424,11
Tỷ lệ tăng tự nhiên ($r_m$) Tương đương nhau Tương đương nhau
Giới hạn tăng tự nhiên ($\lambda$) Tương đương nhau Tương đương nhau
  • Thành phần thiên địch ký sinh: Tại NaxayThong (Viêng Chăn) giai đoạn 2018–2019, ghi nhận 15 loài côn trùng ký sinh thuộc bộ Cánh màng (Hymenoptera) phân bố trong 3 họ (Braconidae, Ichneumonidae, Chalcididae) ký sinh trên sâu Cánh vảy hại ngô; trong đó 11 loài đã xác định được vật chủ cụ thể và 8 loài ong thuộc họ Braconidae có tiềm năng sử dụng trong phòng trừ sinh học.

4. Biện pháp phòng chống sâu xanh H. armigera trên ngô tại Viêng Chăn, Lào

  • Biện pháp canh tác: Mật độ gieo trồng có ảnh hưởng trực tiếp đến mật độ sâu hại; ở mật độ gieo dày 6,3 cây/$m^2$, mật độ sâu xanh đạt 1,52 con/$m^2$, cao hơn rõ rệt so với mật độ gieo 5,0 cây/$m^2$ và 4,0 cây/$m^2$. Biện pháp trồng cây dẫn dụ (hướng dương, cúc vạn thọ) bao quanh ruộng ngô làm giảm mật độ sâu xanh đáng kể so với ruộng trồng thuần ngô. Biện pháp luân canh với cây trồng vụ trước hầu như không làm thay đổi mật độ sâu xanh.
  • Biện pháp cơ giới - vật lý: Sử dụng bẫy chua ngọt thu hút lượng lớn trưởng thành vào bẫy, giúp giảm mật độ sâu non trên đồng ruộng ngô vụ hè 2018 tại Xendin.
  • Biện pháp bảo vệ thực vật: Thử nghiệm trong phòng thí nghiệm cho thấy 3 loại thuốc hóa học (Senchez 5SC, Thensoo 35EC, Thaiger 40EC) đạt hiệu lực trừ sâu non tuổi 1–3 từ 84% đến 96% ở thời điểm 72 giờ sau phun; 2 loại thuốc sinh học (Tasieu 5WG và VBTusa WP 16000 IU/mg) đạt hiệu lực từ 61,54% đến 75,00%. Khảo nghiệm ngoài đồng ruộng tại Xendin (NaxayThong) ghi nhận cả 3 loại thuốc hóa học đạt hiệu lực bình quân 82,77%, cao hơn nhóm thuốc sinh học (đạt 74,xx%) ở thời điểm 10 ngày sau xử lý.

Kết quả và những đóng góp mới

Luận án đã nêu các đóng góp mới về mặt lý luận khoa học và thực tiễn sản xuất:

  1. Đóng góp mới về mặt khoa học:

    • Cung cấp danh lục khoa học có hệ thống đầu tiên về thành phần sâu hại bộ Cánh vảy trên ngô tại Viêng Chăn (Lào) gồm 21 loài thuộc 4 họ, trong đó có 11 loài ghi nhận mới so với danh lục sâu hại Cánh vảy trên ngô tại Việt Nam đến năm 2013; đồng thời ghi nhận sự xuất hiện của sâu keo mùa thu Spodoptera frugiperda tại Lào.
    • Bổ sung danh lục 15 loài côn trùng ký sinh bộ Cánh màng (Hymenoptera) thuộc 3 họ Braconidae, Ichneumonidae và Chalcididae trên sâu hại Cánh vảy ở ngô tại Viêng Chăn, trong đó xác định được vật chủ của 11 loài.
    • Cung cấp các dẫn liệu sinh thái học định lượng mới về ngưỡng phát dục ($T_0 = 10,2^\circ\text{C}$), tổng tích ôn hữu hiệu ($K = 526,3$ độ-ngày), bảng sống, tỷ lệ tăng tự nhiên ($r_m$), hệ số nhân thế hệ ($R_0$) và thời gian tăng đôi quần thể ($DT$) của H. armigera khi sử dụng thức ăn cây ngô.
  2. Đóng góp mới về mặt thực tiễn:

    • Xác định được quy luật chu chuyển ký chủ quanh năm của sâu xanh trên 11 loài cây trồng và cây dại tại Viêng Chăn; xác định tập tính hóa nhộng trong đất (> 2–4 cm) và khung giờ vũ hóa (6–10 giờ sáng).
    • Đưa ra căn cứ thực nghiệm để khuyến cáo kỹ thuật canh tác: duy trì mật độ gieo trồng hợp lý (4–5 cây/$m^2$), sử dụng cây hoa dẫn dụ viền quanh ruộng, kết hợp bẫy bả chua ngọt và ưu tiên xử lý thuốc bảo vệ thực vật khi sâu non ở giai đoạn tuổi 1–3 trước khi sâu đục sâu vào bắp.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Về mặt hạn chế, các dữ liệu thực nghiệm đồng ruộng và khảo nghiệm biện pháp phòng chống của luận án được giới hạn trong phạm vi địa bàn nghiên cứu tại 3 xã thuộc huyện Gia Lâm (Hà Nội, Việt Nam) và xã Xendin thuộc huyện NaxayThong (Viêng Chăn, Lào) trong giai đoạn từ 2017 đến 2019.

Các hướng nghiên cứu tiếp theo cần tập trung:

  • Mở rộng phạm vi điều tra giám sát thành phần sâu hại ngô và tập đoàn thiên địch ký sinh tại các vùng sinh thái nông nghiệp khác của Lào và Việt Nam.
  • Đi sâu nghiên cứu công nghệ nhân nuôi và quy trình ứng dụng các loài ong ký sinh tiềm năng thuộc họ Braconidae để kiểm soát sinh học sâu xanh trên đồng ruộng.
  • Tiếp tục theo dõi biến động tính kháng thuốc của các quần thể H. armigera địa phương đối với các hoạt chất thuốc bảo vệ thực vật mới.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo chuyên ngành hữu ích cho các đối tượng sau:

  • Nghiên cứu sinh, học viên cao học và giảng viên chuyên ngành Bảo vệ thực vật, Côn trùng học và Nông học: Tham khảo phương pháp xây dựng bảng sống theo Birch (1948), phương pháp xác định chỉ tiêu nhiệt động học ($K, T_0$), kỹ thuật nhân nuôi côn trùng và hệ thống dữ liệu phân loại sâu Cánh vảy cùng ong ký sinh.
  • Cán bộ kỹ thuật nông nghiệp và cơ quan quản lý Bảo vệ thực vật tại Việt Nam và Lào: Sử dụng danh lục sâu hại, phổ ký chủ chu chuyển và dữ liệu hiệu lực thuốc để xây dựng quy trình quản lý dịch hại tổng hợp (IPM) trên cây ngô.
  • Người sản xuất ngô: Vận dụng các hướng dẫn thực hành về mật độ gieo trồng, bố trí cây bẫy dẫn dụ, bẫy bả chua ngọt và thời điểm phòng trừ sâu non tuổi 1–3 nhằm nâng cao năng suất và giá trị bắp ngô.

Câu hỏi thường gặp

1. Vòng đời của sâu xanh Helicoverpa armigera trên ngô kéo dài bao nhiêu ngày và ngưỡng nhiệt độ phát dục cơ bản là bao nhiêu?
Ở điều kiện nhiệt độ trung bình 30,1°C và ẩm độ 79,4%, vòng đời của sâu xanh H. armigera kéo dài trung bình 35,54 ngày. Ngưỡng khởi điểm phát dục ($T_0$) cho toàn bộ vòng đời của loài sâu này là 10,2°C và tổng tích ôn hữu hiệu ($K$) cần thiết để hoàn thành một vòng đời là 526,3 độ-ngày.

2. Giai đoạn tuổi sâu nào của H. armigera bắt đầu thể hiện tập tính ăn thịt đồng loại và đục sâu vào bắp ngô?
Sâu non H. armigera có 6 tuổi. Tập tính cạnh tranh trong loài và ăn thịt lẫn nhau bắt đầu xuất hiện rõ từ sâu non tuổi 3. Khả năng tấn công và đục trực tiếp vào sâu bên trong bắp ngô thể hiện mạnh nhất ở sâu non từ tuổi 4 đến tuổi 6.

3. Thành phần loài sâu hại bộ Cánh vảy trên ngô tại Hà Nội và Viêng Chăn có sự khác biệt như thế nào trong giai đoạn 2017–2019?
Tổng cộng ghi nhận được 25 loài sâu hại bộ Cánh vảy thuộc 4 họ. Mức độ đa dạng loài tại Viêng Chăn (Lào) cao hơn Hà Nội (Việt Nam) với tỷ số 21 loài so với 13 loài. Hai loài phổ biến nhất ở cả hai khu vực là Ostrinia furnacalis và Helicoverpa armigera. Đồng thời, sâu keo mùa thu Spodoptera frugiperda được ghi nhận là loài sâu hại mới xuất hiện với mức độ phổ biến cao tại Lào.

4. Dinh dưỡng bổ sung của pha trưởng thành tác động như thế nào đến sức đẻ trứng của ngài cái H. armigera?
Khi trưởng thành cái được cho ăn thêm dung dịch chua ngọt, sức đẻ trứng đạt mức cao nhất là 654,13 quả/cái. Mức này cao hơn đáng kể so với khi cho trưởng thành ăn dung dịch mật ong 20%, mật ong 10% hoặc chỉ uống nước lã.

5. Biện pháp canh tác nào có hiệu quả rõ rệt trong việc làm giảm mật độ sâu xanh H. armigera trên đồng ruộng ngô?
Biện pháp trồng cây dẫn dụ (hướng dương, cúc vạn thọ) bao quanh ruộng ngô và duy trì mật độ gieo trồng thưa hợp lý (4,0–5,0 cây/$m^2$) giúp giảm mật độ sâu non H. armigera rõ rệt so với ruộng trồng thuần ngô mật độ dày (6,3 cây/$m^2$). Biện pháp luân canh với cây trồng vụ trước hầu như không tạo ra sự khác biệt về mật độ sâu xanh.

Kết luận

Luận án tiến sĩ của tác giả Hatsada Virachack đã cung cấp hệ thống dẫn liệu toàn diện và có giá trị khoa học về thành phần loài sâu hại bộ Cánh vảy trên cây ngô tại Hà Nội (Việt Nam) và Viêng Chăn (Lào), xác định vị trí thứ 2 của sâu xanh Helicoverpa armigera trong tập đoàn dịch hại này. Công trình đã làm rõ các thông số sinh vật học, sinh thái học định lượng của sâu xanh gồm thời gian phát dục, sức ăn lá, ngưỡng nhiệt độ ($T_0 = 10,2^\circ\text{C}$), tổng tích ôn ($K = 526,3$ độ-ngày) và bảng sống sinh thái học trên các nguồn thức ăn khác nhau. Đồng thời, các kết quả khảo nghiệm về mật độ gieo trồng, cây dẫn dụ, bẫy chua ngọt, thành phần ong ký sinh và hiệu lực thuốc bảo vệ thực vật là cơ sở thực tiễn quan trọng phục vụ công tác xây dựng quy trình phòng chống sâu xanh H. armigera hại ngô đạt hiệu quả kinh tế và an toàn môi trường tại địa phương.