CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 1.1 Tổng quan về dừa 1.1 Phân loại khoa học [5], [7] - Dừa có tên khoa học là Cocos nucifera L., là một loài cây trong họ cau, chi Cocos. - Cây dừa có thân đơn trục, có thể cao tới 30m, lá đơn xẻ thùy lông chim một lần, cuống và gân chính dài 4÷6m các thùy với gân cấp 2 có thể dài 60÷90cm; lá kèm thường biến thành bẹ dạng lưới ôm lấy thân; các lá già khi rụng để lại vết sẹo trên thân. - Cây dừa phát triển tốt trên đất pha cát, chống chịu mặn tốt, ưa nắng, cần độ ẩm cao (70÷80%). - Hoa dừa: tạp tính (có cả hoa đực lẫn hoa cái và hoa lưỡng tính).
Dừa ra hoa liên tục, thụ phấn chéo là chủ yếu, một vài giống lùn tự thụ phấn. - Quả dừa là loại quả khô đơn độc được biết đến như là quả hạch có xơ.1 Cây dừa và trái dừa 1.2 Phân bố và đặc điểm [1], [2], [3], [4], [5] Dừa được tìm thấy ở những nơi trên thế giới nằm giữa 20 vĩ độ Bắc và 20 vĩ độ Nam so với đường xích đạo. Theo Hiệp hội Dừa Châu Á - Thái Bình Dương, Cây dừa được trồng ở 93 quốc gia vùng nhiệt đới. Diện tích dừa của các nước Châu Á – Thái Bình Dương là 10,62 triệu ha, chiếm 85,05%.[1] Diện tích dừa của Việt Nam chỉ bằng 4,2% diện tích dừa của Indonesia, 4,5% diện tích dừa của Philippines, 8,4% diện tích dừa của Ấn Độ, 40,5% diện tích dừa của Sri Lanka.
[1], [3] LUẬN VĂN THẠC SĨ Trang 2 Phân bố dừa ở Viê ̣t Nam Việt Nam có khí hậu nhiệt đới và nhiều sông ngòi nên rất thuận lợi cho dừa phát triển. Ở miền Bắc nước ta, dừa được trồng ở tỉnh Thanh Hóa và Quảng Bình. Dừa còn có ở dọc bờ biển Trung Bộ (Phú Yên…). Dừa phân bố ở các tỉnh vùng châu thổ sông Cửu Long chiếm tới 90% diện tích trồng dừa ở miền Nam (các tỉnh Đồ ng Nai, thành phố Hồ Chí Minh, Bến Tre, Vĩnh Long, Tiề n Giang…).3 Một số giống dừa thường gặp ở Viêṭ Nam [2], [4] Dừa cao - Dừa Ta: thân cao, trái dài gần tròn, màu xanh hoă ̣c vàng, cơm dừa dày 1,11,2cm, hàm lượng dầu khá cao thường dùng để lấy cùi, lấy dầu.
- Dừa Lửa: thân cao, trái từ trung bình đến to, từ đỏ sáng đế n đỏ sậm. - Dừa Bị (dừa Bung): loại dừa cho trái to nhất, tỉ lệ đậu trái thấp (12 trái/buồng), xơ dừa màu đỏ hoe, rất dày, gáo nhỏ. Dừa lùn - Dừa Ẻo: dừa lùn, cho trái nhiều, trái rất nhỏ, màu đỏ nâu, thường dùng để giải khát. - Dừa Tam Quan (nếp): dừa lùn trái dài, ít trái, cỡ trái trung bình, trồng nhiều ở Tam Quan, tỉnh Bình Định.
Lúc nhỏ, trái có màu trắng vàng, sau đổi thành vàng nâu hay vàng ngà. Dừa nước rất ngọt nên được dùng để giải khát. - Dừa Xiêm: có xuất xứ từ Thái Lan, hàng năm cho trái trung bình từ 1415 buồng/cây, mỗi buồng có 1218 trái. Trái nhỏ tròn, vỏ xanh, cơm mỏng, nước ngọt, thường dùng để giải khát.
Dừa lai - Dừa Dâu (xanh, vàng, đỏ): dừa lai, nhiều hơn dừa ta 515 trái/buồng, cỡ trái trung bình (nhỏ hơn dừa Ta), gáo to, có thể dùng để giải khát khi cơm dừa còn mỏng. Trong đó đáng lưu ý là dừa Dâu xanh, Dâu vàng, Ta xanh, Ta vàng là các giống dừa có nhiều triển vọng cho sản xuất các sản phẩm từ dừa.4 Đặc điểm thực vật học 1.1 Cấu tạo Quả dừa là loại quả hạch một hạt: chỉ có một hạt được bao trong nội quả bì cứng (vỏ quả trong gọi là gáo) và trung quả bì mềm (vỏ quả giữa gọi là xơ). LUẬN VĂN THẠC SĨ Trang 3 Màu sắc, hình dạng và độ lớn quả của mỗi giống có khác nhau. Đối với giống dừa phổ biến thì quả hình trứng; khi già chín hơi nổi gờ, nặng 1÷1,5kg, dung tích trung bình 4÷5L.2 Phần quả - Ngoại quả bì (vỏ ngoài) Vỏ ngoài là lớp biểu bì nhẵn, có sáp bao phủ bên ngoài quả.
Vỏ ngoài bóng láng khi quả còn non còn khi quả già chín thì màu vỏ chuyển sang màu sậm rồi nâu sậm. Màu sắc vỏ là một đặc điểm để phân loại giống dừa. - Trung quả bì (vỏ giữa, xơ dừa) Xơ dừa được hình thành từ các mô nạc ở trong hoa cái và trái non. Xơ dừa được cấu tạo chủ yếu từ cellulose, hemicellulose, lignin, chất keo và các thành phần hòa tan được trong nước.
Trong xơ dừa chứa hàm lượng lignin cao nên xơ có màu trắng khi quả còn non, khi quả chín khô thì xơ bị mất nước và chuyển sang màu nâu và dai. Ngoài ra trong xơ dừa còn chứa tanin làm cho vỏ quả bị biến màu khi gọt ảnh hưởng đến giá trị cảm quan của dừa. - Nội quả bì (vỏ trong, gáo) Thành phần chủ yếu gáo dừa là cellulose và lignin. Khi quả còn non thì gáo mềm và có màu trắng.
Từ tháng thứ 6 tính từ lúc ra hoa thì gáo sẽ bắt đầu khô và trở nên cứng. Vào tháng thứ 12 thì gáo có màu đen, rất cứng và có 3 cạnh dọc nổi gờ. Trên gáo về phía cuống quả có 3 mắt mầm che 3 lỗ mầm của quả trong đó 1 trong 3 lỗ mầm có chứa phôi mầm.3 Phần hạt - Vỏ hạt Vỏ ha ̣t là lớp màng mỏng bao bọc phần thịt quả (cơm dừa) và dính chặt vào gáo dừa. Khi quả chín khô thì lớp vỏ hạt có màu nâu và trở nên rất mỏng.
Nội nhũ đặc (phôi nhũ, cùi, cơm dừa) là sản phẩm của sự kết hợp của một trong hai nhân cực trong tiểu noãn với một nhân cực của hạt phấn. Nội nhũ lỏng (nước dừa) là sản phẩm của sự kết hợp của một nhân cực còn lại trong tiểu noãn với một một nhân cực của hạt phấn. Nước dừa chiếm đến ¾ lòng gáo. LUẬN VĂN THẠC SĨ Trang 4 Phôi mầm: chỉ có một phôi thẳng nằm trong phôi nhũ dưới một trong 3 lỗ mầm của quả.
Phôi luôn nằm cạnh điểm cuống gắn quả vào.5 Thành phần hóa học cơm dừa [6], [7], [8], [9], [10], [11] Bảng 1.1 Thành phần trung bình của một quả dừa tươi (% theo trọng lượng quả)[7] Thành phần Trọng lượng (%) Vỏ 33,33 Gáo 15 Nước dừa 21,66 Cơm dừa 30 Bảng 1.2 Thành phần hóa học của cơm dừa [8] Thành phần Hàm lượng (tính trên 100g ăn được) Đơn vị Nước 46,99 g Năng lượng 354 Kcal Protein 3,33 g Lipid tổng (fat) 33,49 g Chất khoáng 0,97 g Carbohydrate 15,23 g Chất xơ 9,0 g Cơm dừa còn cung cấp vitamin và khoáng chất Fe (19%), P (16%), Zn (11%), Vitamin B9 (7%), Vitamin B5 (6%), Vitamin B1 (5%) [6]. Đặc điểm cấu tạo của cơm dừa Vách tế bào cơm dừa được cấu tạo bởi các sợi polysaccharides gồm 13% cellulose, một ít (vết) arabinogalactan, 61% mannan và 26% galactomannan. Thành phần đường đơn thu được sau khi thủy phân hoàn toàn các polysaccharides này gồm có 60% mannose, 30% glucose, 4% galactose, 4% arabinose, 0,8% xylose và 0,7% rhamnose. Galactomannan cơm dừa là một chuỗi đồng glycan của các mannose liên kết nhau bằng liên kết β(1-4) và các galactopyranose riêng lẻ, phân nhánh bên bằng liên kết β(1-6).
Tỉ lệ tương ứng giữa các đường đơn là 1 galactose cho 14 mannose. Tỉ lệ giữa mannose và galactose có thể ảnh hưởng đến tính hòa tan của chất xơ; LUẬN VĂN THẠC SĨ Trang 5 trong đó mannan tinh khiết thì hoàn toàn không tan, và hàm lượng galactose càng nhiều thì tính hòa tan càng lớn. Sự thủy phân hoàn toàn mannanan và galactomannan do 3 enzym: α- Dgalactosidase (cắt các đường đôi ở liên kết giữa một galactose và một đường khác), β-D- mannosidase (cắt các đường đôi ở liên kết giữa một mannose và một đường khác), β-D-mannanase (cắt các sợi polymers ở liên kết giữa hai mannose). β-D-mannanase là enzyme duy nhất cắt các sợi hemicellulse.
Trong cơm dừa có chứa Prebiotic hay chất tiền sinh là một thành phần thực phẩm của vi khuẩn sống có ích trong cơ thể động vật. Prebiotic là một thành phần thức ăn tự nó không tiêu hóa được nhưng có ảnh hưởng tốt cho vật chủ bằng cách kích thích có chọn lọc sự phát triển hay hoạt động của một hoặc vài vi khuẩn ở đại tràng có lợi cho sức khỏe. Prebiotic ảnh hưởng tới đáp ứng miễn dịch thông qua ảnh hưởng của probiotic. Ðó là những chất sinh hóa có thể phân loại vào nhóm carbohydrat cơ thể không tiêu hóa được.
Prebiotic đã được công bố là một loại thực phẩm chức năng, có tác dụng kích thích sự tăng trưởng và hoạt động của các vi sinh vật có lợi trong đường ruột. Hiệu quả của prebiotic đã được chứng minh rộng rãi ở người. Ở động vật, cũng có nhiều nghiên cứu hiệu quả sử dụng prebiotic trên một số đối tượng như lợn, gà. Hidaka và cộng sự (1986) đã công bố trong một patent rằng prebiotic có thể làm giảm thiểu bệnh tiêu chảy và kích thích sự tăng trưởng của lợn con do làm tăng số lượng quần thể vi khuẩn Bifidobacteria trong ruột.
Vào cuối thập niên 80, người ta quan tâm đến việc sử dụng đường mannose để giảm lượng sinh vật có hại trong đường tiêu hóa. Các kết quả nghiên cứu cho thấy khi được bổ sung vào thức ăn gia súc, mannan oligosaccharide (MOS) có tác dụng làm giảm tỉ lệ và số lượng các dòng Salmonella, Clostridium cũng như E. coli trong phân gà và heo.6 Thành phần hóa học của nước dừa [9], [10] Nước dừa là một thức uống bổ dưỡng, làm mát và tăng cường sinh lực cơ thể. Nước dừa chứa lượng đường vừa đủ cung cấp cho cơ thể dưới dạng đường dễ tiêu hóa (chủ yếu là glucose, fructose và saccarose).
Nước dừa chứa nhiều đạm cần thiết cho cơ thể dưới dạng nitơ acid amin thay thế và không thay thế. Nước dừa còn chứa nhiều vitamin LUẬN VĂN THẠC SĨ Trang 6 và chất khoáng. Lượng vitamin C trong 1 trái dừa đủ cung cấp cho nhu cầu cơ thể mỗi ngày. Ngoài ra nước dừa còn chứa một số vitamin nhóm B như niacin, acid pantothenic, biotin, riboflavin, acid folic, thiamin và pyridoxin tìm thấy ở dạng vết.
Nước dừa đặc biệt chứa nhiều khoáng chất như natri, kali, canxi, magiê, sắt, đồng, phospho, lưu huỳnh và clorua.3 Thành phầ n nước dừa già và nước dừa non [9], [10] Đơn Thành phần Nước dừa già Nước dừa non vị Tổng chất rắn % 5,4 6,5 Đường khử % 0,2 4,4 Khoáng % 0,5 0,6 Chất đạm % 0,1 0,01 Lipid % 0,1 0,01 Axit mg % 60,0 120,0 pH - 5,2 4,5 Kali mg 247,0 290,0 Sodium mg 48,0 42,0 Canxi mg 40,0 44,0 Magie mg 15,0 10,0 Photpho mg 6,3 9,2 Sắt mg 79,0 106,0 Đồng mg 26,0 26,0 Bảng 1.