CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2 Tổng quan 1.1 Đại cương về sương sâm 1.1 Nguồn gốc [26] [35] [33] [40] [43] Sương Sâm có tên khoa học Tiliacora triandra (Colebr., thuộc họ Tiết dê (Menispermaceae), là một loại thực vật có hoa, có nguồn gốc bản địa tại Đông Á (Việt Nam, Thái Lan, Lào, Campichia…). Dây sương sâm thường mọc trên rừng, trên núi đá vôi tới độ cao 300m. Phân loại: Tên khoa học: Tiliacora triandra Diels Nhóm: Eukaryota Giới: Plantae Giới phụ: Viridaeplantae Ngành: Tracheophyta Phân ngành: Spermatophytina (auct.) Cận ngành: Angiospermae Lớp: Magnoliopsida Phân lớp: Ranunculidae Liên bộ: Ranunculanae Bộ: Menispermales Hình 1.1: Cây sương sâm Họ: Menispermaceae Loại: Tiliacora Tên latinh: triandra Diels Tên gọi khác của sương sâm: Dây xanh leo, dây xanh ba nhị, xanh tam, hồ đằng lông, dây sâm lông. Trong tiếng Lào, nó được gọi là bai yanang hay bai ya nang (có nghĩa là "lá yanang"), hoặc đơn giản là yanang hay ya nang (ยานาง).2 Đặc điểm thực vật.
[40] [43] [33] [35] Sương sâm là loài dây leo thảo thích bò giàn cao, có các nhánh khía rãnh, thân có lông mịn hoặc không lông. Lá màu lục đậm, có phiến xoan hình tim, thường hơi có lông mịn ở cả hai mặt, dài 2 - 5cm, rộng 3 -6cm; gân chính 5; cuống lá dài bằng phiến hay hơi ngắn hơn, đính cách mép 1 - 5mm. 3 Tổng quan Hoa đực thành ngù lưỡng phân, có cuống, mọc đơn độc hay thành đôi ở kẽ các lá bắc hình lá. Hoa đực có màu vàng, cánh hoa 5-6, nhị 3; hoa cái có 6 cánh hoa, 8-9 lá noãn lá đài 3 - 4, đều, dính thành chén nhỏ có cuống; bao phấn 4.
Hoa cái mọc thành xim lưỡng phân hầu như không cuống ở kẽ lá bắc, lá bắc hình thận hay hình tròn; 1 lá đài, 1 cánh rộng hơn lá đài; lá noãn 1, có lông, đầu nhụy 3. Quả hạch chín hình cầu, màu đỏ, dài 7-10mm, rộng 6-7mm, hạch hình móng ngựa. Cây sương sâm ra hoa từ tháng 1 đến tháng 5, có quả từ tháng 4 đến tháng 6, lá thì có thể thu hái quanh năm.2 Đặc điểm thực vật cây sương sâm 4 Tổng quan 1.3 Phân bố sương sâm [40] [42] [33] Cây sương sâm phân bố với số lượng lớn ở các nước Ấn Độ, Trung Quốc, Việt Nam, Lào, Campuchia và Thái Lan. Trước đây, cây chủ yếu mọc hoang trên đồi, ven rừng miền núi cũng như đồng bằng.
Sau này người dân đem về trồng nhiều trong vườn, thả leo trên giàn, hàng rào. Ở nước ta cây sương sâm có ở Tuyên Quang, Hà Tây, Khánh Hòa, Ninh Thuận và đặc biệt là các tỉnh miền Nam Bộ như: Bình Phước, Đồng Nai, Long An, Tiền Giang…Tuy mới phát triển mạnh gần đây nhưng giá trị của lá sương sâm cũng đã đem lại nguồn thu nhập khá ổn định cho bà con. Trong những năm gần đây, diện tích trồng sương sâm ở các tỉnh miền Nam tăng liên tục phát triển như một ngành nghề thật sự tại các địa phương.4 Điều kiện sinh trưởng sương sâm [34] [42] Cây sương sâm yêu cầu trồng nơi đất cao ráo thoát nước tốt, có độ mùn cao, được che mát 20-30%. Cây cần nhiều nước nhưng không chịu úng nên những vùng đất thấp phải lên ụ hay lên liếp cao để thoát nước, nếu là đất thịt nặng, đất sét nên pha thêm cát, tro trấu và phân chuồng ủ hoai để giúp thoát nước tốt.5 Cách trồng và thu hoạch [30] [34] [42] Cách trồng sương sâm thường rất đơn giản bằng hạt hoặc giâm cành.
Cành chỉ việc chặt ra từng khúc khoảng 10 cm đem giâm khoảng một tháng rưỡi cho sương sâm phát triển rễ, lá là có thể đem trồng. Theo kinh nghiệm của những người đã trồng sương sâm lâu năm ở Việt Nam thì hạt sương sâm có sức sống rất ngắn và yếu. Hạt hái, phơi không quá khô (độ ẩm của hạt mà quá thấp thì mầm sẽ chết), gieo hạt tốt nhất là không quá 7 ngày kể từ lúc hái. - Kỷ thuật gieo hạt như sau : + Dùng đất tơi xốp, tốt.
+ Rãi hạt lên mặt đất bằng phẳng. + Rắc một lớp mỏng (0,5cm) đất này lên hạt + Ủ một lớp rơm hoặc cỏ khô lên. + Tưới 2 lần/ngày (sáng, chiều) khoảng 10 ngày hạt sương sâm nảy mầm và lên hết vào ngày thứ 20. 5 Tổng quan + Đến ngày thứ 20 này, bắt đầu nhổ những cây lớn và đem trồng ra ngoài là xong.
Trong quá trình trồng sương sâm thì cần phải theo dõi thường xuyên điều kiện sinh sống, phòng trừ sâu bệnh. Khi trời mưa lớn nên đi thăm vườn, tháo bỏ nước đọng trên mặt đất, bón phân chuồng ủ hoai và phân NPK. Nếu như vườn bị đọng nước (do triều cường.) nên tưới ngay supe hume (hãng crop master sản xuất hoặc các chế phẩm tương tự) liều 50cc/8lít/dây để giúp dây vượt qua. Nếu dây có biểu hiện xụ lá thì dùng các loại thuốc trừ nấm như: alpin, cabenzim, aliette, coppezin.(mua ở các của hàng nông dược) phun và mỗi lần phun cách nhau 3 ngày, ngưng hoàn toàn các loại thuốc dưỡng cây cho đến khi cây tươi tốt.
Lưu ý ngưng phun thuốc trước khi thu hoạch 10 ngày. Lá sương sâm bắt đầu được thu hoạch sau 5 tháng kể từ ngày trồng. Thu hái những lá xanh, đậm tức là không quá non và cũng không bị úa vàng. Thường thì người nông dân thu hái luôn cả nguyên cọng lá.
Nếu sau khi thu hoạch mà chưa chuyển ngay cho khách hàng thì không nên cho vào bao mà nên trải lá thành lớp mỏng ở một nơi thoáng mát để khỏi bị úa vàng, kéo dài thời gian bảo quản.3 Gieo trồng sương sâm 6 Tổng quan 1.6 Cách sử dụng sương sâm 1.1 Sử dụng lá sương sâm [41] [37] Ở Việt Nam chủ yếu dùng là sương sâm dạng thạch đông thành khối. Chọn loại lá già, dày, có màu xanh đậm, kích thước vừa phải. Những chiếc lá như thế mới có nhiều nhựa để cho ra mẻ sâm ngon. Rửa thật sạch và vò lá sâm với nước ấm (100g lá tươi cho 2 lít nước sạch).
Nên chỉ đổ nước vào lá một lần, tuyệt đối không châm thêm nước trong lúc đang vò. Vì như thế sâm dễ bị vữa, khó đông lại thành mảng được. Vừa chà, vừa vắt lá sao cho nhựa chảy ra hết, chỉ còn trơ xác. Lược sâm lại bằng rây.
Phải lắc rây mạnh và đều tay (vì nhựa lá sâm rất đặc), nếu không, sâm sẽ vữa ngay lập tức. Đậy nắp, chờ sâm đặc trong vòng 30 phút, không được mó tay vào. Ăn với đường cát và nước đá. Dân gian ăn thường cắt miếng cho ra đĩa, muốn vừa ngon vừa đẹp mắt thì phủ lên bề mặt thạch một lớp mè (vừng) nấu với nước đường cô đặc hoặc ít sữa kem làm màu, ăn vừa thơm vừa có chức năng nhuận tràng.2 Giá trị dược liệu của rễ sương sâm [33] [34] [35] Rễ dây sương sâm khi thu hái về, rửa sạch, thái lát, phơi hay sấy khô.
Trong rễ sương sâm có alcaloid tetrandrin, isochondrodendrin, homoaromalin, linacin, magnoflorin, protoquecitol, curin…Có hoạt tính chống sốt rét, giản cơ, hạ huyết áp nhẹ, chống viêm…Rễ sương sâm có vị đắng, tính hàn. Có tác dụng giải độc, giảm đau, tan ứ, lợi tiểu, giải nhiệt, nhuận trường nhẹ. Ở Campuchia, người ta dùng lá để ăn với món lẩu Samlo, lá cũng được phối hợp với các vị thuốc khác để chế biến thành thuốc để điều trị bệnh lỵ. Ở Thái Lan, người ta dùng rễ sương sâm làm thuốc chống sốt.
Ở Trung Quốc, rễ được dùng trị: Đau cổ họng (yết hầu), dạ dày, đau răng, đòn ngã tổn thương. Liều dùng thường 15 - 20g, dạng thuốc sắc. Ở Ấn Độ, người ta dùng rễ chà xát vào đá cho vụn ra thành bột; bột này được hoà nước lọc uống trị rắn độc cắn.7 Thành phần hóa học của sương sâm [20] [23] [42] Đã có những nghiên cứu của Jittra Singthong, Suwayd Ningsanond, and Steve W. Cui 2009 tại Thái Lan về thành phần hóa học của lá sương sâm.
Nghiên cứu chỉ ra rằng trong lá sương sân chứa nhiều polysaccharide, chlorophyll và một số chất khoáng như canxi, sắt, magiê, kali… Một đặc tính quan trọng của Polysaccharide của lá sương sâm là sự tạo nhớt dung dịch, liên kết với nước tạo khối đông. Bên cạnh đó nó cũng có chức năng tạo nhũ, ổn định và chống sự kết tinh. Chính vì thế polysaccharide trong lá sương sâm được cho là rất có ý nghĩa công nghệ trong nhiều ngành công nghiệp khác nhau, đặc biệt là công nghiệp thực phẩm. Những polysaccharide này có nguồn gốc từ tự nhiên, nguồn nguyên liệu dồi dào và tương đối dễ phát triển về số lượng trồng trọt.
Trong nghiên cứu, lá sương sâm được thu hái tại vùng Đông Bắc Thái Lan (tỉnh Ubon Ratchthani) rửa sạch bằng nước và loại bỏ những nhiễm bẩn và sấy ở 600C trong thời gian 3 tiếng đồng hồ. Lá sấy khô được lưu trữ trong kho chân không ở nhiệt độ phòng trong thời gian sử dụng để phân tích độ ẩm, khoáng, protein, lipid, chất xơ. Độ ẩm và khoáng được xác định theo phương pháp AOAC (AOAC, 1997). Protein được chuyển hóa thành nitrogen và xác định hệ thống phân tích nguyên tử ThermoQuest Italia S.
EA/NA 1110, Strada Rivoltana, Milan, Italy. Đường tổng và Uranic acid được xác định bằng phương pháp Dubois, et al. Monosaccharide được phân tích bằng hệ thống Dionex HPAEC (Dionex Canada Ltd. Trong phương pháp này, các polysaccharide sẽ được thủy phân bằng H2SO4 1M trong thời gian 2 tiếng đồng hồ ở nhiệt độ 1000C để chuyển hóa thành monosaccharide sau đó làm lạnh, pha loãng với nước, lọc qua giấy lọc 0.45µm rồi đưa vào hệ thống HPAEC để thực hiện phân tích.
Sử dụng hệ thống quang phổ hồng ngoại (FT-IR) để xác định loại polysaccharide chủ yếu có trong thành phần của lá sương sâm. Từ phân tích monosaccharide sau khi thủy phân thấy hàm lượng xylose chiếm chủ yếu. Chính vì thế nghiên cứu có sử dụng hóa chất chuẩn xylan của Sigma - Aldrich để kiểm tra. 8 Tổng quan Kết quả phân tích cho thấy thành phần hóa học như sau: Bảng 1.1 Thành phần hóa học sương sâm Thành phần Hàm lượng (%) Độ ẩm 7.71 Sử dụng quang phổ hồng ngoại (FT-IR)xác định cấu trúc của các polysacharide trong sương sâm.
Sử dụng bước sóng 950 đến 1200cm-1 để xác định thành phần chính của polysaccharide trong lá sương sâm. Thành phần monosaccharide được thủy phân từ gluxit xác định như trên chủ yếu là xylose.1 Chất xơ tan [7] [8] [16] [36] Đặc điểm Polysaccharide trong lá sương sâm tồn tại chủ yếu dạng xơ hòa tan, một hợp chất rất có giá trị đối với cơ thể. Chất xơ tan là những hợp chất có cấu trúc liên kết nhiều đơn vị đường, liên kiết β- nên cơ thể người và động vật không có emzym tiêu hóa được.