Chương 1 dé cập đến những van dé lý thuyết liên quan đến sắc thái ngữ l4 nghĩa và một số vấn dé khác như khung năng lực tiếng Việt, thang đo 4 bậc của Boleslaw Niemierko. Trong chương 2, chúng tôi tiền hành nghiên cứu sắc thai ngữ nghĩa của một số nhóm từ vựng cụ thẻ (các nhóm từ vựng đồng nghĩa, danh từ đơn vị, từ xưng hô, vị từ trạng thái) và bàn vẻ vai trò của sắc thái ngữ nghĩa trong việc giảng day các nhóm từ nay cho học viên nước ngoài. Ở chương 3, đề tải sẽ vận dụng các kết quả nghiên cứu sắc thái ngữ nghĩa vào việc giảng đạy từ vựng tiếng Việt cho học viên nước ngoai bao gồm việc thiết kế một số hoạt động giảng day từ vựng tiếng Việt và một số bài tập từ vựng tiếng Việt cho học viên nước ngoai có sử dụng kết quả nghiên cứu sắc thái ngữ nghĩa. Trong chương nảy, chúng tôi cũng kiểm tra hiệu quả của các đề xuất bằng thực nghiệm.
15 CHUONG 1 NHUNG VAN DE CHUNG 1. Sắc thái ngữ nghĩa 1. Khái niệm sắc thái ngữ nghĩa Sắc thái ngữ nghĩa (shade of meaning/semantic nuance) có thé chia thành loại cơ bản: tốt (hay tích cực) (ameliorative), trung hoa va xâu (hay tiêu cực) (pejorative). The Dictionary of Historical and Comparative Linguistics cho rằng sự biến đôi tốt nghĩa là “bat cứ sự thay đôi nào về ngữ nghĩa trong đó từ biéu thị một cái gì đỏ trang trọng hơn hay cao quý hon so với trước đây [.
Ngược lại la sự biến đôi xấu nghĩa. Như vậy, tốt nghĩa hàm ý trang trọng, cao quý,. còn xâu nghĩa mang hàm ý ngược lại. Từ pejorative von bat nguôn từ từ Latin pejor có nghĩa là “tệ” (worse).
The Encyclopedia of Language and Linguistics do R. Asher chủ biên xem sự biển đôi tốt nghĩa là việc “mat đi những sự quy chiếu không hai lòng trong nghĩa của từ (trái với sự biến đôi xấu nghĩa)."* Nhu vậy, một từ hay một sự biêu đạt nào đó có the xem là tốt nghĩa nếu nó mang những hàm Ý quy ước như: tích cực, tán thành, trân trong, ca tung,. và ngược lại, nêu nó có xu hướng tiêu cực, không tán thành, không trân trọng, coi thường,. thì được xem là xấu nghĩa.
Sắc thái ngữ nghĩa trung hoà dành cho các trường hợp không tốt nghĩa, cũng không xấu nghĩa. Tốt nghĩa và xấu nghĩa mà chúng tôi muốn dé cập ở đây là tốt nghĩa và xấu nghĩa trên quan điểm ngôn ngữ học. trên bình diện người nói - người nghe chứ không phải trên quan điểm đạo đức học, thâm mỹ học, tâm lý học,. Chang hạn, trên quan điểm đạo đức học, những hành động như giết, bắn chết, đâm chết,.
có thé được xem là tiêu cực, nhưng trên quan điểm ngôn ngữ hoc, chúng được xem là trung hoà vẻ sắc * “any change in meaning in which a word comes to denote something grander or more elevated than formerly (. The opposite is pejoration” (Trask 2000; 17) *“Loss of an unpleasant reference in the meaning ofa word. (Contrasts with deterioration)” (Asher 1994; 5091) 16 thái ngữ nghĩa. Hay với kinh nghiệm bản thân, chúng ta luôn nghĩ rằng cao là tốt, thấp là xau.
Thực tế là chúng ta dang dùng thước đo thâm mỹ dé do giá trị tét/xau của từ. Với câu nói “C6 ay rất cao.”, người nói đơn giản chỉ muốn miêu tả trang thái, tính chất của đôi tượng được nói đến, hoàn toàn không bao hàm một lời khen tặng hay chê bai nao cả. Điều này diễn ra tương tự trong trường hợp “Cé dy rat thap. Nhưng với câu nói “Có ấy cao lénh khénh.” hay “Cô ấy thấp chun.” thì rõ ràng đã xuât hiện một sự đánh giá tiêu cực.
Trong tiếng Anh, chúng ta có thẻ nhận ra hai hệ thống từ vựng dùng đẻ chi những đối tượng giống nhau, một hệ thông được gọi là từ kiêng ky (taboo word) và một được gọi là uyén ngữ (euphemism). Nếu một số từ trong hệ thống từ kiêng ky mang nghĩa xấu thì những uyên ngữ tương đương của chúng lại mang nghĩa trung hoà và đây chính là một cách nói giảm nhẹ sắc thái ngữ nghĩa tiêu cực ở từ kiêng ky. Ching hạn, néu deaf (diéc) mang nghĩa xấu thì uyên ngữ tương đương của nó là hard of hearing (nghe khó khăn) lại mang nghĩa trung hoà. Tương tự, nếu the crippled (người qué) là từ kiêng ky với sắc thái ngữ nghĩa xấu thì uyén ngữ tương đương the handicapped (người khuyết tat) lại trung hoà về sắc thái ngữ nghĩa.
Như vậy, việc từ nói về đối tượng nào trong hiện thực khách quan thì không quan trong mà quan trọng là nói bằng cách nao, thái độ của người nói ra sao. Sắc thái ngữ nghĩa của từ sản sinh từ đó. Sắc thái ngữ nghĩa dưới góc độ ngữ nghĩa học từ vựng và dưới gác độ ngữ dụng học Ở day, chúng ta cần phân biệt hiện tượng tốt nghĩa, xấu nghĩa dưới góc độ ngữ nghĩa học từ vựng và dưới góc độ ngữ dụng học. Nếu tốt nghĩa và xau nghĩa được ký mã trong hệ thông từ vựng vả không phụ thuộc vào tinh huồng phát ngôn thì có nghĩa nó đang được xem xét từ góc độ ngữ nghĩa học từ vựng.
Nếu sắc thái ngữ nghĩa được xem xét có tính đến tình huồng phát ngôn thi có nghĩa nó đang được xem xét tir góc độ ngừ dụng học. 17 Một câu hỏi đặt ra là chúng ta có thé dùng chệch chuẩn các sắc thái ngữ nghĩa không, nghĩa la đặt một từ xấu nghĩa vào ngữ cảnh cần phải dùng từ tốt nghĩa va ngược lại. Nếu có thé thì điều gì sẽ xảy ra? Chúng ta cùng xem tình huống sau đây: Một nhóm thực khách đang ăn tối tại một nha hàng. Không may, nha hàng phục vụ cho họ một mon an quá mặn và họ không thích nó một chút nao.
Mot người đàn ông nói: “Mén nay đậm đà quá nhi?”. O đây, người nói đã dùng một từ có sắc thai ngữ nghĩa tích cực (đệm đả) thay vì một từ có sắc thái ngữ nghĩa tiêu cực (man chat) dé nhận xét về món ăn đó. Rõ rang trong câu nói của người khách có hàm ý mia mai và đây chính là mục dich của anh ay khi dùng chệch chuẩn các sắc thái ngữ nghĩa. Trường hợp này thuộc phạm vi nghiên cứu của ngữ dung học chứ không phải ngữ nghĩa học từ vựng.
Như vay, chúng ta hoàn toàn có thé dùng chệch chuẩn các sắc thái ngữ nghĩa với các mục đích tu từ khác nhau: mia mai, châm biém, trêu đùa. Việc một từ cỏ thê tham gia vào các ngữ cánh cần đến các sắc thái ngữ nghĩa khác nhau không hè làm nó đánh mất di sắc thái ngữ nghĩa của riêng mình ma ngược lại, càng khang định rõ ràng hơn sắc thái ngữ nghĩa của mình thông qua các sắc thái tu từ được tạo thành khi dùng chệch chuẩn. Quy trinh xác lập sắc thái ngữ nghĩa của từ 1. Phương pháp sử dụng ngữ cảnh a.
Ngữ cảnh là gi? Theo nghĩa rộng, ngữ cảnh chỉ “những nhân to quan yéu thuộc câu trúc ngôn ngữ hay phi ngôn ngữ xung quanh trong môi liên hệ với sự biéu đạt được xem xéPŠ. Như vậy, ngữ cảnh có thê là một tình huông, một phát ngôn, một ngữ đoạn và cũng có thé la một từ. *“In a broad sense, it refers to the relevant elements of the surrounding linguistic or nonlinguistic structures in relation to an uttered expression under consideration” (Asher 1994; 730-731) 18 Trong mỗi ngữ cảnh, từ thé hiện khả năng kết hợp từ vựng va kha năng kết hợp ngữ pháp, qua đó bộc lộ một nghĩa xác định nảo đó. Từ có kha năng tham gia vào những cau trúc ngữ pháp nhất định.
Chang han, danh từ đơn vị có thé tham gia vào cầu trúc trước nó là một lượng từ, sau nó là một danh từ khối (một con gà, may quả cam, vài cuốn sách,. Vị từ hành động có thé tham gia vào cấu trúc có chứa các từ: đã, đang, sẽ, sắp, lại, vừa, cứ,. ở đẳng trước: va: xong, roi, mãi. ở dang sau (vi du: đã học xong.
Vi từ trạng thai có thé tham gia vào cau trúc mà ở trước và sau nó là các từ chỉ mức độ: hơi, gud, rat (ở dang trước) va iểm, qua (6 đăng sau), chăng hạn như: hơi đẹp, qua yêu, rất vui, buôn lam, xinh quá,. Từ cũng có khả năng tham gia vào những cấu trúc từ vựng nhất định. Đó là những kết hợp giữa một nghĩa của từ này với một nghĩa của từ khác đề tạo thành kết hợp sao cho có nghĩa đúng với thực tại, phù hợp với logic va thói quen sử dụng ngôn ngữ của người bản ngữ. đối với các kết hợp có chứa từ Jong diễn tả tâm trạng của con người, có thé có đẳng lòng, xót lòng,.
mà không có những kết hợp kiêu như chưa lòng, ngọt lòng,.; ngược lại, các từ chưa, ngọt lại xuất hiện trong các kết hợp kiêu như: giọng nói chua, giọng nói ngot,. Điều này phụ thuộc vào khả năng kết hợp của từng từ. Thực tế cho thấy có những từ có khả năng kết hợp cao nhưng có những từ, khả năng đó rất thấp. b_ Cách phan tích nghĩa của từ dựa vào ngữ cảnh Đề thực hiện phương pháp phân tích nghĩa của từ dựa vào ngữ cảnh, chúng ta cần tiến hành các thao tác sau: " Thu thập ngữ canh Đây chính là bước thu thập ngữ liệu cho quá trình phân tích nghĩa của từ.
Chúng ta phải tập hợp được một số lượng đủ lớn những ngữ cánh có chứa từ cần phân tích trong các loại văn bản thành văn thuộc các loại hình phong cách chức năng khác nhau để đảm bảo cho một kết quả chính xác. Chang han, các ngữ cảnh của từ béo: mà chúng tôi thu thập được gồm: 19 (1) Con gà béo (2) Cô gái béo (3) Nó béo béu. (4) Không nên ăn nhiều chất béo! (5) Miếng môi có vẻ béo bở đấy! (6) Đấtbéo (7) Chí béo bon con buôn. (8) Gà rắn béo ngậy.
(9) Trông nó béo phe. (10) Ông ấy béo phệ. (11) Nó bị béo phì. = Phân loại ngữ cảnh Chúng ta hình dung rằng các nghĩa của một từ đa nghĩa sẽ cầu tạo thành một mang cau trúc có quan hệ chặt chẽ với nhau.
Mỗi nhóm ngữ cảnh sẽ tương ứng với một nghĩa trong mạng cau trúc này. Vi thể, khi đã thu thập được đủ số lượng ngữ cảnh có thé phản ánh trọn vẹn các nghĩa của từ, chúng ta sẽ tiền hành phân loại chúng thành những nhóm ngữ cảnh đồng loại tương ứng với các nghĩa của từ, 20 Chúng tôi đã chia 11 ngữ cảnh của từ béo; (đã liệt kê ở phan b>) thành 5 nhóm tương ứng với 5 nghĩa cơ bản của nó. Nhóm 1 gồm ngữ cảnh (1), (2), (3).