mở đầu của chu kỳ nhân bản HIV-1 chỉ ra rằng dịch chiết từ loài Lobophora variegata đã ức chế sự xâm nhập của HIV-1 vào các tế bào ở bước tiền hợp nhất có thể bằng cách cản trở sự di chuyển của các hạt virus. Đặc biệt ngay cả liều cao dịch chiết nước của loài rong biển này cũng chỉ có tác dụng vừa phải đối với khả năng sống sót của tế bào nuôi cấy và tế bào sơ cấp (PBMCs) [21]. Lipid, các lớp chất và vai trò của chúng 1. Giới thiệu chung về lipid Lipid là hợp chất hữu cơ đa chức (chứa nhiều nhóm chức giống nhau).
Chúng gồm những chất như dầu ăn, mỡ. Chúng có độ nhớt cao, không tan trong nước, tan trong các dung môi hữu cơ như ether, chlorphorm, benzene, rượu nóng. Giống như các carbonhydrate, các lipid được tạo nên từ C, H và O 11 nhưng chúng có thể chứa các nguyên tố khác như P và N. Chúng khác với carbonhydrate ở chỗ chứa O với tỉ lệ ít hơn.
Hai nhóm lipid quan trọng đối với sinh vật là: nhóm glycerol và sterol. Các nhóm này kết hợp với các acid béo và các chất khác tạo nên nhiều loại lipid khác nhau. Trong tự nhiên, những hợp chất thuộc về lớp chất lipid tồn tại rất đa dạng như: các hydrocacbon bậc cao, các ancol, các aldehyt, các axit béo và các sản phẩm thứ cấp của chúng như glycerit, sáp, phospholipid, glucolipid, sulfolipid…[27]. Lipid có nhiều kiểu cấu trúc khác nhau, tuy nhiên cấu tạo của lipid thường có chung một nguyên tắc trong thành phần phân tử lipid bao gồm hai phần: một phần là các đuôi mạch hydrocacbon kị nước; phần kia là tổ hợp nhóm các chất ưa nước (gọi là đầu phân cực).
Hai phần của phân tử lipid được liên kết với nhau bởi mắt xích liên kết ở giữa và phân tử lipid tồn tại như một liên kết tổ hợp của hai thành phần, trong đó có những phần tử kị nước tham gia cấu tạo nên pha không phân cực, còn nhóm những chất phân cực hình thành nên ranh giới phân cách giữa pha không phân cực, còn nhóm những chất phân cực hình thành nên ranh giới phân cách giữa pha không phân cực và nước (hình 1.3 Cấu tạo phân tử lipid Cấu trúc tổ hợp liên kết của phân tử lipid phụ thuộc vào nguồn gốc tự nhiên của các cấu tử tham gia vào thành phần của nó. Thường người ta dùng nguồn gốc tự nhiên của mắt xích liên kết, giữa phần phân cực và phần không 12 phân cực để làm cơ sở phân loại lớp chất lipid [27]. Theo đó, lipid có hai dạng glyxerin và sphingozin. Trong thực tế đa phần dầu mỡ tồn tại dưới dạng este của glyxerin (1) với các axit béo (gọi là glyxerit), khi mà cả ba nhóm hydroxyl (OH) của glyxerin đều được este hóa thì gọi là triglyxerit hoặc triaxylglyxerin (2).
Do đó dầu mỡ cũng có tên là lipid trung tính và có công thức cấu tạo (hình1.4): 1 CH2OH 1 CH2 OCOR1 2 2 OH C H OCOR2 C H 3 3 CH2OH CH2 OCOR3 Glyxerin (1) Triglyxerit (2) Hình 1. Cấu tạo lipid trên cơ sở glyxerin Nhóm các chất lipid khác cũng phân bố rộng rãi trong lớp màng tế bào, đặc biệt ở não là các sphigolipid, chúng được cấu tạo trên cơ sở liên kết nhóm amin của sphingozin (3) với các axit béo. Các sphigolipid đóng vai trò quan trọng trong việc truyền dẫn tín hiệu và nhận biết tế bào, chúng có tác động đặc biệt vào mô hình thần kinh. Các hợp chất nhận được qua biến đổi được gọi chung là ceramit (4) và có công thức cấu tạo mô tả ở hình 1.
CH3OH H C NH2 H C OH CH CH2 OH HC (CH2)12 HC NH OH CH2 H3C O Sphingozin (3) Ceramit (4) Hình 1. Cấu tạo lipid trên cơ sở Sphingozin 13 1. Các lớp chất lipid Lipid gồm nhiều lớp chất bao gồm lớp lipid phân cực (Pol), Sterol (ST), axit béo tự do (FA), triacylglycerol (TG), monoalkyldiacylglycerol (MADG), hydrocacbon (HC) và sáp (W). Lipid phân cực (Pol) là một trong các lớp chất quan trọng trong lipid tổng, nó chiếm hàm lượng khá cao, trung bình khoảng 20 % của lớp chất lipid tổng.
Đại diện quan trọng của lipid phân cực là phospholipid, chúng là ester của các rượu đa chức và các axit béo cao phân tử, có gốc axit phosphoric và những bazơ có chứa nitơ. Chúng là thành phần cấu tạo chủ yếu của màng sinh học. Ở động thực vật trên cạn cũng như dưới nước, phospholipid là hợp phần tương đối ổn định trong số các hợp phần của lipid dựa trên cơ sở của hai nhóm ancol lớn mà axit béo và axit phosphoric liên kết ester với chúng là Glyceropluepholipid có ancol là glycerol và Sphizophospholipid (phosphosphingolipid) có ancol là sphingozin. Sterol, chẳng hạn như cholesterol và các dẫn xuất của nó, là một thành phân quan trọng của lipid màng, nó là cste của axit béo và ancol 3-β-hydroxy- steroid.
Axit béo thường là palmitic, oleic, ricinoleic. Trong thiên nhiên, các sterol ở trạng thái tự do nhiều hơn ở trạng thái sterid. Ở cơ thể người, chỉ 10% sterol bị ester hóa tạo thành sterid. Ngoài cholesterol và axit mật còn có các sterol khác cũng có nguồn gốc động vật như hormone nang thượng thận, hormone tuyến sinh dục, các sterol có nguồn gốc thực vật như ergosterol, stigmasterol.
Glyceride (triacylglycerol - TG) là một thành phần quan trọng của lớp chất lipid tổng, nó là chất béo dự trữ quan trọng ở động vật và thực vật. Triacylglycerol là este được hình thành từ glycerol và các axit béo. Dầu thực vật và mỡ động vật chứa phần lớn triacylglycerol, nhưng nó dễ dàng bị thủy phân thành monoglyceride, diglyceride và các axit béo tự do dưới tác dụng của các enzyme thích hợp. Triglyceride là thành phần chủ yếu của các lipoprotein trọng lượng phân tử thấp, nó đóng vai trò quan trọng như nguồn 14 cung cấp năng lượng và chuyên chở các chất béo trong quá trình trao đổi chất.
Các triglyceride trong dầu thực vật và mỡ động vật thường có các gốc acyl khác nhau, chúng khác nhau về độ dài mạch, độ no. Monoankyldiacylglycerol (MADG) là este của glycerol và axit béo khi thay thế hai nhóm hydroxyl (OH) bằng các axit béo. Khi thủy phân nhẹ, MADG sẽ tạo ra các axit béo và ankylglycerol. Sáp là este của axit béo bậc cao với rượu đơn chức mạch thẳng, phân tử lớn.
Trong sáp tự nhiên ngoài axit béo là thành phần chính thì còn có một ít rượu bậc cao và axit bậc cao, các chất màu và các chất thơm. Các axit béo thường gặp trong sáp là axit palmitic (sáp ong), axit cacraulic (sáp cây cọ) [5]. Mục đích của lớp sáp là để bảo vệ cho quả, lá, thân, cảnh khói bị thấm nước, không bị khô và sự xâm nhập của vi sinh vật gây bệnh. Hydrocacbon trong lipid thường là các hydrocacbon mạch dài, giúp dự trữ năng lượng và là thành phần đi kèm trong các lớp chất lipid.
Vai trò của lipid Trong cơ thể, lipid dự trữ ở mô mỡ đóng vai trò ngăn nhiệt ở những tổ chức dưới da và xung quanh một số cơ quan. Tổ chức thần kinh có hàm lượng lipid rất cao. Phức hợp lipoprotein là thành phần quan trọng của màng tế bào và ty thể ở bào tương, đồng thời cũng là phương tiện vận chuyển lipid trong máu. Có thể cụ thể hóa một số vai trò của lipid như sau: + Là thành phần cấu tạo nên màng sinh học (phospholipid, glycolipid).
+ Là cofactor của một số enzyme (nhân tố không phải là protein nhưng cần thiết cho hoạt động của enzyme, bắt buộc phải có nhân tố này, nếu không enzyme sẽ không hoạt động). + Là thành phần của một số hormone và chất vận chuyển thông tin nội bào. + Là nguồn năng lượng dự trữ quan trọng, cung cấp năng lượng cho cơ thể (1gram lipid khi bị oxy hóa cho 9.3 kcal) 15 + Là dung môi của nhiều chất có hoạt tính sinh học (các vitamin tan trong chất béo) + Bảo vệ các cơ quan khỏi bị chấn động cơ học [8]. Các axit béo Cấu trúc đa dạng của lipid được bắt nguồn từ các axit béo khác nhau tham gia vào trong thành phần của nó cho đến nay các nhà khoa học đã phát hiện được hơn 500 axit khác nhau bởi mức độ và đặc điểm phân nhánh khác nhau của mạch hidrocacbon, số lượng và vị trí các nối đôi trong mạch, vị trí và số lượng của các nhóm chức vậy độ dài của mạch hidrocacbon… Các axit béo có mặt trong thành phần lipid thực vật, động vật cạn thường có từ 16 đến 20 nguyên tử cacbon trong phân tử.
Trong khi ở sinh vật biển đa phần chứa các axit béo mạch dài từ 20 đến 26, thậm chí đến 30 nguyên tử cacbon [1]. Cách gọi tên axit béo theo danh pháp quốc tế, theo tên thông thường hay tên gọi nhanh. Ví dụ C18:2n-6 hay C18:2Δ-9,12 là tên gọi nhanh của axit linoleic hay tên theo danh pháp quốc tế là 9,12-octadecadienoic. Trong đó, trong tên gọi nhanh, chỉ số đầu tiên chỉ số nguyên tử cacbon, chỉ số thứ hai chỉ số lượng nối đôi trong mạch cacbon, chỉ số thứ ba sau n (hoặc ) cho biết vị trí đầu tiên của núi đôi kể từ đầu metyl (CH3), delta (∆) với các số đếm đằng sau để chỉ sự có mặt của vị trí nối đôi (hoặc nối ba) ở trong mạch hydrocacbon tính từ đầu carboxyl.
Ngoài ra, có thể thêm ký hiệu của đồng phân lập thể như cis (Z) hay trans (E). Ví dụ tên gọi của một số axit béo thường gặp nhất trong tự nhiên. Tên gọi nhanh Tên thông thường Tên qui ước quốc tế 14:0 Myristic Tetradecanoic 16:0 Palmitic Hexadecanoic 18:0 Stearic Octadecanoic 18:1n-9 Oleic cis-9-octadecenoic 18:2n-6 Linoleic 9,12-octadecadienoic 18:3n-3 Linolenic 9,12,15-octadecatrienoic 16 20:4n-6 Arachidonic (AA) 5,8,11,14-eicosatetraenoic 20:5n-3 Eicosapentaenoic (EPA) 5,8,11,14,17-eicosapentaenoic 22:6n-3 Docosahexaenoic (DHA) 4,7,10,13,16,19-docosahexaenoic 1. Axit béo no (axit béo bão hòa) Hầu hết các axit béo bão hòa (axit béo no) có mặt trong tự nhiên có cấu tạo mạch thẳng với số nguyên tử cacbon chẵn.
Các axit đối với nguyên tử cacbon từ C2-C30 được biết đến, nhưng phổ biến quan trọng nhất là C 12-C22. Chúng có thể được gọi tên thường và tên khoa học hoặc gọi theo ký hiệu số như C16:0, chỉ axit no mạch thẳng có 16 nguyên tử cacbon. Những axit béo đơn giản trong tự nhiên là các axit béo no, với mạch hydrocacbon dài, không phân nhánh có công thức chung như sau (5). Các axit này chiếm tỷ lệ khoảng 1% so với tổng số các axit béo [1].
Axit béo không no một nối đôi Hơn một trăm axit béo no một nối đôi đã được tìm thấy trong tự nhiên, nhưng hầu hết hết chúng là những hợp chất hiếm. Thực tế tất cả các axit béo một nối đôi đều có công thức chung (6) [7].