mở đầu 5 trang, tổng quan 35 trang, nguyên vật liệu và phương pháp nghiên cứu 23 trang, kết quả và thảo luận 70 trang, kết luận 2 trang, danh mục công trình công bố 1 trang, tài liệu tham khảo 8 trang, phụ lục 53 trang. Tổng quan về cây chè 1. Giới thiệu chung về cây chè Cây chè xanh nằm trong hệ thống phân loại thực vật như sau: Phân giới thực vật - Tracheobionta; Liên ngành hạt - Spermatophyta; Ngành - Magnoliophyta; Lớp song tử diệp – Dicotyledonae - Magnoliopsida; Bộ chè Theales - Dilleniide; Họ chè - Theaceae; Chi chè - Camellia L (Thea); Loài - Camellia sinensis (L. Cây chè được trồng ở khoảng 30 quốc gia trên toàn thế giới [16], phát triển tốt nhất ở các khu vực nhiệt đới và cận nhiệt đới với lượng mưa đầy đủ, thoát nước tốt và đất hơi chua [17].
Cây chè được trồng rải rác ở hầu hết các tỉnh trung du và miền núi của Việt Nam, cung cấp việc làm cho hơn 400.000 nông dân, đóng góp lớn vào quá trình phát triển nông thôn và giảm bớt đói nghèo [2]. Năm 2019, Việt Nam là nước có diện tích và sản lượng chè đứng thứ 5 và xuất khẩu chè lớn thứ 3 trên thế giới với 123.400 ha diện tích trồng chè và hơn 500 cơ sở sản xuất chế biến, công suất đạt trên 500.000 tấn chè khô mỗi năm, sản lượng 1025. Số liệu của Cục Chế biến và phát triển thị trường nông sản (Bộ NN&PTNT) cho biết khối lượng xuất khẩu chè tháng 9 năm 2020 ước đạt 13.000 tấn với giá trị đạt 22 triệu USD, đưa khối lượng và giá trị xuất khẩu chè 9 tháng đầu năm 2020 đạt 98.000 tấn và 157 triệu USD, tăng 3,5% về khối lượng nhưng giảm 5% về giá trị so với cùng kì năm 2019 [2]. Một số vùng trồng chè ở Việt Nam 1.
Vùng chè Tây Bắc Chè trồng tập trung ở Sơn La, Lai Châu. Các tỉnh ở vùng chè Tây Bắc có địa hình vùng sâu, vùng xa. Giống chè chủ yếu là giống Shan. Tại Sơn La: gồm 3 tiểu vùng Mai Sơn, Mộc Châu, Phù Yên với diện tích là 4471 ha.
Vùng chè Shan của Công ty chè Mộc Châu có năng suất cao nhất Việt Nam, đạt từ 18 - 20 tấn/ha. Tại tỉnh Lai Châu với 2 tiểu vùng Phong Thổ, Tam Đường: diện tích khoảng 4270 ha. Trồng chủ yếu ở độ cao từ 500 - 1000m, có năng suất 16 tấn/ha. Vùng chè Việt Bắc - Hoàng Liên Sơn Gồm các tỉnh Tuyên Quang, Hà Giang, Lào Cai, Cao Bằng, Bắc Cạn và phía 6 Tây Yên Bái (Nghĩa Lộ, Văn Chấn).
Đây là vùng chè tập trung lớn nhất cả nước, tổng diện tích là 41.404 ha, địa hình cao phù hợp với giống chè Shan để sản xuất chè xanh có chất lượng cao, chè vàng, chè Phổ Nhĩ. Vùng chè Trung Du - Bắc Bộ Là vùng nằm tại ranh giới giữa miền núi và miền đồng bằng Bắc Bộ, bao gồm các tỉnh Phú Thọ, Hòa Bình, Vĩnh Phúc, Thái Nguyên, Hà Tây và Hà Nội với diện tích lớn nhất ở hai tỉnh Thái Nguyên và Phú Thọ: Thái Nguyên có 13.000 ha, Phú Thọ có 7. Vùng chè Bắc Trung Bộ Đây là vùng chè tươi lâu đời nhất của Việt Nam gồm 3 tỉnh Thanh Hoá, Nghệ An, Hà Tĩnh. Vùng chè Tây Nguyên Đây là vùng đất rộng trên dãy núi Trường Sơn với nhiều núi cao, cao nguyên rộng và bằng phẳng của 3 tỉnh Lâm Đồng, Gia Lai, Kon Tum.
Vùng chè duyên hải miền Trung Đây là vùng chè quan trọng của người Việt Nam trước thời kỳ Pháp thuộc. Phần lớn chè trồng dọc theo duyên hải Trung Bộ, trên sườn của dãy núi Trường Sơn thuộc các tỉnh Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên, Quảng Nam, Đà Nẵng, Quảng Ngãi. Chè trồng rải rác, quy mô nhỏ, tiêu thụ trong tỉnh, chế biến chè xanh ở các cơ sở nhỏ lẻ, ít cơ giới hoá. Một số giống chè ở nước ta Với đặc điểm là một nước có nhiều điều kiện thiên nhiên phù hợp cho việc canh tác cây chè, Việt Nam có đa dạng các giống chè, bao gồm nhiều giống chè thuần và nhiều giống chè lai.Giống chè Trung du (Camellia sinensis var.
sinensis) Nguồn gốc: đây thực chất là giống Trung Quốc. Chè giống Trung du trồng chủ yếu ở vùng Trung du Bắc Bộ (Phú Thọ) (chiếm 44,3% diện tích trồng chè trong cả nước); còn được gọi là giống Trung du xanh, vàng, tím. tùy theo màu sắc lá. Chè 10 - 25 tuổi cho năng suất 8 - 10 tấn búp/ha.
Chất lượng khá chế biến chè đen, chè xanh đạt tiêu chuẩn xuất khẩu, hàm lượng tanin trên 26,3%. Chất hòa tan 41,4%, cánh chè nhỏ dễ xoăn. Vùng chè có tiếng cả nước là chè Tân Cương, Thái Nguyên [19]. 7 Chè giống Trung du thường ít bị đốn hoặc đốn không sát tận gốc nên còn một lượng quả nhất định trên cây vào cuối mỗi mùa chè hàng năm.
Quả chè của giống chè Trung du khá nhiều trên một cây, đây là điều kiện thuận lợi cho việc thu thập hạt chè vào các mục đích khác nhau. Giống chè Shan (Camellia sinensis var. shan) Nguồn gốc: giống địa phương phổ biến ở vùng núi Hà Giang, suối Giàng, Mộc Châu, chia thành chè trắng (búp tuyết), chè xanh và chè vằng (tùy theo màu lá). Giống này chiếm 24,3% diện tích.
Chè cho năng suất cao, cây 10 - 20 tuổi được thâm canh tốt cho năng suất 10 - 15 tấn búp/ha. Chè có chất lượng tốt làm chè đen, chè xanh chất lượng cao đạt tiêu chuẩn xuất khẩu. Hàm lượng tanin là 27,1%, chất hòa tan 49,9% [19]. Cây chè Shan có quả to hơn các giống khác, số lượng nhiều trên một cây.
Tuy nhiên cây chè Shan chủ yếu có ở các vùng núi cao, chiều cao cây lớn nên gây khó khăn cho việc thu hái quả 1. Giống chè PH1 Giống PH1 có nguồn gốc từ hạt giống, quần thể Manipua lá đậm, nhập nội từ Ấn Độ vào Phú Hộ năm 1920, năm 1987 được cấp bằng sáng chế của Ủy ban khoa học kỹ thuật Nhà nước và Bộ Nông nghiệp công nhận giống quốc gia. Chè PH1 có năng suất cao đạt 18 - 20 tấn/ha (nếu thâm canh), trung bình năng suất đạt 15 - 20 tấn/ha. Tiềm năng năng suất cao tới 35 tấn/ha.
Chè có chất lượng tốt, có hàm lượng tanin 33,2%; chất hòa tan 46,6%. Giống chè LDP1 Giống chè LDP1 thuộc giống biến chủng Assamica được chọn lọc từ năm 1965, đến năm 1972 báo cáo nghiên cứu giống được hội đồng khoa học thông qua và được Bộ nông nghiệp cho phép khảo nghiệm. Giống có khả năng cho năng suất cao. Chè tuổi 3 - 4, có thể đạt 5 - 7 tấn búp/ha.
Các tỉnh Phú Thọ, Nghệ An, Yên Bái, Sơn La đều cho năng suất bình quân 15 tấn búp/ha. Giống chè LDP1 có hàm lượng tanin 31,76%, chất hòa tan 42,61%, hàm lượng cafein tổng số 139,23mg/g chất khô. Một số giống chè khác ở Việt Nam a/ Giống chè Ấn Độ Giống được nhập nội từ Ấn Độ, trồng phổ biến ở vùng Tây Nguyên, lai tạp, 8 nhiều dạng lá. Chè lớn 10 – 20 tuổi được thâm canh đạt 8 – 10 tấn búp/ha với chất lượng cao, đạt tiêu chuẩn xuất khẩu hàm lượng tanin 26.
b/ Giống chè Gay Chè Gay có nguồn gốc từ giống chè Trung du địa phương, ở vùng Gay (Anh Sơn, Thanh Chương, Nghệ An). Cây cho năng suất búp thấp, chè 10 – 15 tuổi cho 2,5 – 3 tấn búp/ha. Chất lượng chè trung bình. c/ Giống chè TRI777 Chè được chọn lọc tại viện chè nghiên cứu Srilanca từ hạt giống chè Shan (Mộc Châu) của trạm nghiên cứu chè Phú Hộ gửi sang 1936 – 1937 với hình thái thuộc giống chè Shan.
Năng suất: bình quân 7 năm khỏa nghiệm là 7,82 tấn búp/ha (chè 2 - 8 tuổi), hơn giống chè Trung đu đại chè 13 - 18%. Giống chè TRI777 ở Phú Hộ với 8 tuổi 8 -11 tấn búp/ha. Búp chè có hàm lượng nước 75%, tanin 30,5%, chất hòa tan 42,5%, hàm lượng cafein 3,05%, đường khử 2,62%. d/ Giống chè LDP2 Chè LDP2 là chè chọn lọc từ hạt hữu tính năm 1981 tại Phú Hộ, với mẹ là đại bạch chè (giống chè Trung Quốc có chất lượng tốt) và bố là giống PH1 giống có năng suất cao.
Giống chè LDP2 cho năng suất đại chè cao và ổn định đạt 8 - 10 tấn búp/ha. Chè có hàm lượng tanin 31 - 33%, chất hòa tan 42 - 44%. e/ Giống chè TBKT Kim Tuyên Giống được nhập nội từ Đài Loan. Đây là giống chè Được Đài Loan chọn tạo từ cặp lai giữa mẹ là giống Ôlong của địa phương và bố là giống Raiburi của Ấn Độ, được du nhập vào Việt Nam từ năm 2003.
Giống chè này cho sản lượng khá và ổn định tại Việt Nam. Năng suất trung bình 6 – 8 tấn/ha (Phú Thọ, Lạng Sơn). Năng suất thâm canh đạt 10 – 12 tấn/ha (Lâm Đồng). Chè có chất lượng tốt, hàm lượng tanin 28,50%, đường khử là 0,59%, chất hòa tan là 39,52%, axít amin là 1,58% và cafein tổng số là 132mg/gck… f/ Giống 1A Nguồn gốc từ chè Manipua lá đậm ở Phú Hộ, thân cây gỗ vừa, nhập nội từ Ấn Độ vào Phú Hộ năm 1920.
Năng suất: bình quân 5 năm (1980 – 1984) là 10,8 tấn/ha bằng 133,5% giống chè Trung Du. Giống chè 1A có hàm lượng tanin 34,8%, chất hòa tan 45%, hàm lượng catechin 163,5mg/g chất khô [19]. 9 Phân bố cây chè tại Việt Nam khá đa dạng, trải khắp các tỉnh thành trên cả nước với nhiều giống chè, đây là tiềm năng lớn cho sự phát triển của ngành hàng chè Việt Nam, nhiều giống chè có năng suất, chất lượng cao, chè được trồng từ Bắc vào Nam trong đó có một số vùng có diện tích lớn, lâu năm. Với nguồn nguyên liệu dồi dào, các nghiên cứu liên quan tới các cây chè, sản phẩm về cây chè có điều kiện thuận lợi thu thập mẫu cho nghiên cứu.
Dựa vào tính phổ biến, năng suất và khả năng thu thập mẫu, nghiên cứu này lựa chọn quả chè từ 4 giống: Trung du, Shan, PH1, LDP1 được trồng tại 7 tỉnh Phú Thọ, Tuyên Quang, Thái Nguyên, Yên Bái, Nghệ An, Quảng Trị, Lào Cai là đối tượng nghiên cứu. Tổng quan về hạt chè Theo Hiệp hội Chè Việt Nam (VITAS), Việt Nam có rất nhiều cơ hội và thuận lợi để phát triển các sản phẩm từ cây chè. Bên cạnh việc nghiên cứu nâng cao năng suất, cải thiện chất lượng chế biến thì việc đa dạng hóa các sản phẩm từ cây trồng này là một hướng tiếp cận quan trọng giúp tăng thu nhập của người dân. Qua kết quả điều tra cho thấy tại vùng chè thâm canh cao Mộc Châu, Sơn La năng suất hạt chè bình quân 10 tấn/ha thì sản lượng hạt chè thu được hàng năm là 20 nghìn tấn hạt chè.