Đồ án HCMUTE: Nghiên cứu quy trình sản xuất phô mai tươi sử dụng enzyme transglutaminase

Đồ án nghiên cứu hcmute nghiên cứu quy trình sản xuất phô mai tươi sử dụng enzyme transglutaminase, thiết kế chi tiết, tính toán kỹ thuật theo tiêu chuẩn, đánh giá tính khả thi dự

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Khóa Luận Tốt Nghiệp

2019

88
5
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1. Tổng quan về phô mai

1.2. Giới thiệu chung

1.3. Phân loại

1.4. Định nghĩa

2. CHƯƠNG 2: VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP

3. KẾT QUẢ VÀ BIỆN LUẬN

4. CHƯƠNG 4: KẾT LUẬN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan về phô mai tươi

Phô mai tươi là một sản phẩm từ sữa, được sản xuất bằng cách đông tụ sữa hoặc các nguyên liệu từ sữa như sữa gầy, sữa tách béo, kem, nhờ vào hoạt động của enzym rennet hoặc các tác nhân đông tụ khác. Theo FAO/WHO, phô mai tươi có thể được sử dụng ngay sau khi sản xuất mà không cần qua quá trình ủ chín. Việc sản xuất phô mai tươi không chỉ mang lại giá trị dinh dưỡng cao mà còn góp phần làm đa dạng các sản phẩm từ sữa, tạo đầu ra cho nguồn sữa tươi, từ đó làm tăng doanh thu cho ngành công nghiệp sữa. Phô mai tươi có thể được phân loại theo nhiều tiêu chí như độ ẩm, hàm lượng chất béo, và phương pháp sản xuất. Các loại phô mai tươi phổ biến bao gồm Cottage, Quark, và Ricotta. Những sản phẩm này thường có hàm lượng chất khô thấp hơn so với các loại phô mai ủ chín, nhưng vẫn cung cấp nhiều chất dinh dưỡng cần thiết cho cơ thể.

1.1. Nguyên liệu sản xuất phô mai tươi

Nguyên liệu chính trong sản xuất phô mai tươi là sữa, thường là sữa bò, nhưng cũng có thể sử dụng sữa từ các loài động vật khác như cừu, dê. Sữa chứa nhiều protein, chất béo, và các vitamin cần thiết cho sức khỏe. Enzyme transglutaminase, một loại enzyme vi sinh, được sử dụng để cải thiện cấu trúc và chất lượng của phô mai tươi. Enzyme này giúp tạo liên kết giữa các protein trong sữa, từ đó làm tăng độ đồng nhất và cải thiện tính chất cảm quan của sản phẩm. Việc sử dụng enzyme trong sản xuất phô mai tươi không chỉ giúp tối ưu hóa quy trình sản xuất mà còn nâng cao giá trị dinh dưỡng của sản phẩm cuối cùng.

II. Quy trình sản xuất phô mai tươi

Quy trình sản xuất phô mai tươi bao gồm nhiều bước quan trọng, từ việc chuẩn bị nguyên liệu đến quá trình đông tụ và chế biến. Đầu tiên, sữa được xử lý để loại bỏ tạp chất và vi khuẩn có hại. Sau đó, enzyme transglutaminase được thêm vào sữa để kích thích quá trình đông tụ. Nồng độ enzyme, nhiệt độ và thời gian xử lý là những yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm. Nghiên cứu cho thấy, nồng độ enzyme tối ưu là 2,2 U/g protein, nhiệt độ 40℃ và thời gian 4,5 giờ, giúp đạt hiệu suất thu hồi phô mai tươi lên đến 47,07%. Sau khi đông tụ, phô mai được tách ra và xử lý thêm để đạt được các chỉ tiêu chất lượng mong muốn.

2.1. Các phương pháp phân tích chất lượng phô mai

Để đánh giá chất lượng phô mai tươi, nhiều phương pháp phân tích được áp dụng. Các chỉ tiêu hóa lý như hàm lượng protein, chất béo, và độ ẩm được xác định thông qua các phương pháp tiêu chuẩn. Ngoài ra, các chỉ tiêu vi sinh cũng được kiểm tra để đảm bảo sản phẩm an toàn cho người tiêu dùng. Kết quả phân tích cho thấy, phô mai tươi có tổng hàm lượng chất khô đạt 26,5%, hàm lượng protein 9,73% và hàm lượng chất béo 11,8%, phù hợp với các tiêu chuẩn chất lượng hiện hành. Hình ảnh vi cấu trúc của phô mai tươi qua kính hiển vi quét (SEM) cho thấy sự đồng nhất trong cấu trúc, nhờ vào việc sử dụng enzyme transglutaminase trong quy trình sản xuất.

III. Ứng dụng thực tiễn của nghiên cứu

Nghiên cứu quy trình sản xuất phô mai tươi với enzyme transglutaminase không chỉ có giá trị lý thuyết mà còn mang lại nhiều ứng dụng thực tiễn. Việc tối ưu hóa quy trình sản xuất giúp nâng cao hiệu suất thu hồi phô mai tươi, từ đó giảm thiểu lãng phí nguyên liệu và tăng lợi nhuận cho các nhà sản xuất. Sản phẩm phô mai tươi có chất lượng cao, đáp ứng nhu cầu tiêu dùng ngày càng tăng của thị trường. Hơn nữa, việc sử dụng enzyme trong sản xuất thực phẩm đang trở thành xu hướng phổ biến, giúp cải thiện chất lượng sản phẩm và đáp ứng các tiêu chuẩn an toàn thực phẩm. Điều này không chỉ có lợi cho ngành công nghiệp thực phẩm mà còn góp phần nâng cao sức khỏe cộng đồng.

3.1. Tương lai của sản xuất phô mai tươi

Với sự phát triển của công nghệ và nhu cầu tiêu dùng ngày càng cao, sản xuất phô mai tươi có triển vọng lớn trong tương lai. Việc nghiên cứu và ứng dụng các enzyme như transglutaminase sẽ mở ra nhiều cơ hội mới cho ngành công nghiệp thực phẩm. Các nhà sản xuất có thể phát triển các sản phẩm phô mai tươi đa dạng hơn, đáp ứng nhu cầu của thị trường. Đồng thời, việc cải tiến quy trình sản xuất sẽ giúp giảm thiểu chi phí và tăng cường tính cạnh tranh cho sản phẩm. Sự kết hợp giữa công nghệ hiện đại và nguyên liệu tự nhiên sẽ tạo ra những sản phẩm phô mai tươi chất lượng cao, an toàn và bổ dưỡng cho người tiêu dùng.

01/02/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Tổng quan về phô mai 1. Giới thiệu chung Phô mai (pho mát) là tên gọi chung của một nhóm các sản phẩm từ sữa, được sản xuất trên toàn thế giới với đủ các hương vị, màu sắc, độ mềm cứng khác nhau (Caric và cộng sự, 1993; Cogan và Hill, 1993). Theo định nghĩa của FAO/WHO, phô mai là sản phẩm rắn hoặc bán rắn, ở dạng tươi hoặc đã qua ủ chín, thu được bằng cách làm đông tụ sữa hoặc các nguyên liệu từ sữa: sữa gầy, sữa tách béo, kem, whey cream, nhờ hoạt động của enzym rennet hoặc các tác nhân đông tụ thích hợp khác và làm tách một phần nước khỏi quện sữa đông (Walstra và cộng sự, 2006).

Phô mai là thực phẩm lâu đời, bắt nguồn từ khu vực nằm giữa hai con sông Tigris và Euphrates, nay là Iraq, cách đây khoảng 8000 năm (Fox và cộng sự, 2004). Phô mai được phát hiện lần đầu tiên ở Trung Đông và dạng sơ khai nhất là một dạng sữa bị hỏng. Phô mai được một du mục Ả Rập khám phá đầu tiên (Fox và cộng sự, 2004). Nghề làm phô mai phát triển và được người châu Á đưa sang châu Âu, sau đó từ châu Âu sang châu Mỹ.

Trong đế chế La Mã cổ đại, phô mai đã trở thành món ăn hết sức phổ biến, được các tu sĩ trong các tu viện ở châu Âu nghiên cứu và cải thiện chất lượng. Việc sản xuất và tiêu thụ phô mai tăng mạnh ở thị trường mới này. Ngành công nghiêp buôn bán phô mai được sinh ra và tăng trưởng ở nửa sau của những năm 1800 và kéo dài đến hiện tại (Condron và cộng sự, 2009). Nhờ hương vị đặc biệt và giá trị dinh dưỡng cao, dần dần phô mai được sản xuất ở nhiều nơi trên thế giới từ các phòng bếp gia đình cho đến các trang trại, nhà máy quy mô công nghiệp.

Rất nhiều nguồn sữa được sử dụng để làm phô mai như sữa bò, cừu, dê, thậm chí cả sữa ngựa nhưng chủ yếu vẫn là sữa bò. Việc phát hiện ra cách ủ chín phô mai cùng với phương pháp tiệt trùng Pastuer đã mang lại hiệu quả cao trong quá trình bảo quản cũng như tạo ra hương vị hấp dẫn cho loại thực phẩm giàu dinh dưỡng này. Phô mai cung cấp nhiều chất đạm, có hàm lượng canxi cao và chất dinh dưỡng dồi dào. Các protein, chất béo trong phô mai đều ở dạng dễ hấp thu, có đầy đủ các 1 do an axit amin không thay thế, các vitamin và khoáng chất như canxi, photpho, kẽm,… (Lâm Xuân Thanh, 2003), (Fox và cộng sự, 1998).

Trong phô mai chứa khoảng 5 – 20% protein dưới dạng các amino axit, 1 – 30% lipid tùy vào từng loại phô mai, các muối khoáng và các vitamin (A, B1, B2, C…). Ngoài ra, trong phô mai còn có chất kẽm rất tốt cho não, da và hệ miễn dịch (Fox, 1993). Phô mai không chỉ mang lại giá trị dinh dưỡng cao mà sản xuất phô mai còn góp phần làm đa dạng các sản phẩm từ sữa, tạo đầu ra cho nguồn sữa tươi, từ đó làm tăng doanh thu cho ngành công nghiệp sữa, góp phần phát triển kinh tế xã hội. Phân loại Hiện nay có hơn 1000 loại phô mai được sản xuất trên thế giới (Fox và cộng sự, 2004).

Phô mai được phân loại theo nhiều cách khác nhau: tên nước sản xuất, loại sữa sử dụng, loài động vật nuôi lấy sữa, hàm lượng chất béo, độ ẩm, cấu trúc, tác nhân đông tụ casein, loại vi sinh vật tham gia vào quá trình ủ chín, quy trình công nghệ làm phô mai, độ ẩm trong thành phần chất rắn không béo. Những tiêu chí này được sử dụng độc lập hoặc kết hợp với nhau.  Phân loại theo độ ấm Tùy theo độ ẩm và cấu trúc, phô mai được chia thành các loại như trong bảng 1. Phân loại phô mai theo độ ẩm và cấu trúc Loại phô Độ ẩm Chất béo Mô tả Sản phẩm mai (%) (%) chung Phô mai tươi, không ủ chín: Cottage, Phô mai Mềm, Ricotta, Quarg, Mozzarella 55 - 80 < 40 mềm trắng Phô mai ủ chín bề mặt bằng nấm mốc: Brie, Camenbert Phô mai Chắc, có Phô mai có quá trình ủ chín: Limburger, 41 - 55 < 35 bán cứng thể cắt lát Gorgonzola, Roquefort Phô mai ủ chín có cấu trúc mắt: Rất chắc, Phô mai Emmental 20 - 40 < 30 dày, có thể cứng Phô mai ủ chín không có cấu trúc mắt: có lỗ Cheddar, Cheshire Nguồn: Fellows, 2008; Cogan và cộng sự, 1997; Quintans và cộng sự, 2008.

2 do an  Phân loại theo hàm lượng chất béo trong sản phẩm Tùy theo hàm lượng chất béo có trong sản phẩm mà phô mai tươi được chia thành các loại như trong bảng 1. Phân loại phô mai theo hàm lượng chất béo trong sản phẩm Hàm lượng STT Loại phô mai chất béo, % 1 Phô mai có hàm lượng béo rất cao >60 2 Phô mai có hàm lượng béo cao 45 – 60 3 Phô mai có hàm lượng béo trung bình 25 – 45 4 Phô mai có hàm lượng béo thấp 10 – 25 5 Phô mai gầy <10 Nguồn: Lâm Xuân Thanh, 2003  Phân loại theo tác nhân đông tụ và phương thức sản xuất  Phân loại theo tác nhân đông tụ: là rennet hay là acid. Có một số loại vừa là kết quả của sự đông tụ casein bằng acid và bằng cả rennin, ví dụ như cottage cheese.  Theo phương thức sản xuất chia thành 2 loại: phô mai tươi và phô mai ủ chín.

Trong quá trình sản xuất phô mai, casein trong sữa có thể được đông tụ bởi acid hoặc/và enzyme. Đối với các sản phẩm phô mai tươi làm từ sữa đông tụ bởi rennet như Morazella hoặc sử dụng acid citric thường có thời gian sản xuất ngắn nhưng không mang hương vị đặc trưng. Ngược lại, các phô mai tươi sử dụng vi khuẩn lactic để lên men, mặc dù thời gian lên men sữa dài nhưng lại tạo ra các đặc điểm cảm quan về hương thơm và vị cho sản phẩm. Vi khuẩn lactic sử dụng thường là sự kết hợp của các chủng vi khuẩn lactic ưa ấm: Cottage, cream, cheddar hoặc là sự kết hợp của các chủng ưa ấm và ưa nhiệt như phô mai Manchego, Montasio (Fox và cộng sự, 2004).

Các phô mai tươi thường có thời gian bảo quản tương đối ngắn (2 – 4 tuần) (Fellows, 2008). Để kéo dài thời gian sử dụng, phô mai thường được ủ chín hoặc được nấu chảy thành dạng phô mai chế biến. Khác với phô mai truyền thống, nguyên liệu chính là sữa, phô mai chế biến được làm từ các loại phô mai khác nhau và được bổ sung thêm các nguyên liệu khác, phô mai được gia nhiệt tới 85 – 95℃ trong vài phút để tạo ra loại phô mai chế biến. 3 do an Một đặc điểm đặc trưng của phô mai chế biến là hệ vi sinh vật trong sản phẩm đã bị tiêu diệt ở giai đoạn xử lý nhiệt trong quy trình sản xuất.

Do đó, phô mai chế biến dễ vận chuyển và bảo quản hơn các sản phẩm phô mai truyền thống (Fox và cộng sự, 2004). Các loại phô mai A - Phô mai Gouda và Cheddar; B - Phô mai Roquefort; C - Phô mai cứng Thụy Sĩ; D - Phô mai Brie (trái) và phô mai Limburger (phải); E - Phô mai Cottage; F - Phô mai Quark Phô mai Gouda và Cheddar được nhận ra bằng đặc điểm riêng biệt do lớp màng và lớp sáp đỏ phủ trên bề mặt. Phô mai Roquefort có dạng vụn, vùng có màu tối là do Penicillium sinh trưởng. Phô mai cứng Thụy Sỹ, loại phô mai cứng có chứa các lỗ do tạo thành CO2 từ quá trình lên men của vi khuẩn Propionibacterium.

Phô mai Brie (trái) và phô 4 do an mai Limburger (phải) là loại phô mai mềm, khi chín trên bề mặt có sự sinh trưởng của Penicillium camemberti (Brie) và Brevibacterium linens (Limburger). Phô mai dạng kem như Cottage (thường được phết vào bánh), là loại phô mai không được ủ chín, chúng được bán ngay sau khi tạo thành sản phẩm. Phô mai Quark là sản phẩm truyền thống của Đức, cũng là loại phô mai tươi không quan giai đoạn ủ chín và có cấu trúc mềm, màu trắng và thường không có hạt. Ngoài ra, trên thị trường có loại phô mai chế biến, tức là phô mai được bổ sung thêm sữa bột, các sản phẩm từ casein, hương, màu, chất bảo quản, chất ổn định, đóng thành bánh, hoặc đóng khuôn ở dạng tấm mỏng, có bọc sẵn màng film để tiện dùng hoặc được sử dụng như đồ ăn sẵn.

Định nghĩa Phô mai tươi là phô mai không qua ủ chín, được sản xuất bằng cách đông tụ sữa, kem hoặc whey sử dụng acid, hỗn hợp acid và rennet hoặc kết hợp sử dụng acid có qua xử lý nhiệt. Phô mai tươi là loại phô mai có thể sử dụng ngay sau khi sản xuất. Ở mỗi quốc gia khác nhau sẽ có các loại phô mai tươi đặc trưng cho nền văn hóa truyền thống của họ. Tuy nhiên, với sự toàn cầu hóa ngày càng tăng và sự phát triển của ngành du lịch, các loại phô mai tươi này dần được lan rộng ra ngoài khu vực xuất xứ của chúng.

Trong đó, Cream cheese, Cottage cheese, Quark hoặc Tvorog, Fromage frais và Ricotta là một trong những sản phẩm nổi tiếng nhất (Fox và cộng sự, 2004). Quark và Cream cheese đều có thể được dùng trong các món ăn ngọt hoặc mặn. Hầu hết phô mai tươi đều có nhiều tác dụng và đặc biệt thích hợp để chế biến thành các chế phẩm phô mai tươi hoặc các món ăn khác nhau như bánh phô mai, nước sốt, các món tráng miệng… (Fox và cộng sự, 2004). Phân loại Phô mai tươi được chia thành nhiều loại khác nhau như theo phương pháp đông tụ: đông tụ bằng acid, hỗn hợp acid - rennet, acid - nhiệt…; theo tính nhất quán: dạng paste, có hạt hoặc dạng gel; theo nguyên liệu sản xuất: sữa hoặc whey (Bảng 1.

5 do an Bảng 1. Phân loại phô mai tươi Tiêu chí STT Đặc điểm Sản phẩm đại diện phân loại Loại được đông tụ bởi acid, không bổ sung hoặc bổ sung rất ít rennet. Acid Cottage, Quark, thường được tạo ra bằng lactic acid Cream và phô mai bacteria (LAB). Tuy nhiên có một số loại tươi Bắc Mỹ.

phô mai tươi được acid hóa trực tiếp bởi gluconodelta – lactone. Phân loại Quesco, Balnco, 1 theo tác nhân Loại được đông tụ bởi rennet, không bổ Quesco Fresco, đông tụ sung hoặc bổ sung rất ít LAB. Halloumi, phô mai tươi từ Ý Ricotta (Ý), Channa Loại được đông tụ bởi acid ở nhiệt độ và Paneer (Ấn Độ), cao: sản phẩm có độ ẩm cao nhưng chắc.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài viết "Nghiên cứu quy trình sản xuất phô mai tươi với enzyme transglutaminase" cung cấp cái nhìn sâu sắc về quy trình sản xuất phô mai tươi, nhấn mạnh vai trò quan trọng của enzyme transglutaminase trong việc cải thiện chất lượng và độ bền của sản phẩm. Bài viết không chỉ giải thích cách enzyme này hoạt động mà còn chỉ ra những lợi ích mà nó mang lại cho ngành công nghiệp thực phẩm, như tăng cường cấu trúc và hương vị của phô mai. Độc giả sẽ tìm thấy thông tin hữu ích về cách áp dụng công nghệ enzyme trong sản xuất thực phẩm, từ đó mở rộng kiến thức và khả năng ứng dụng trong lĩnh vực này.

Nếu bạn quan tâm đến các nghiên cứu liên quan đến enzyme và ứng dụng trong thực phẩm, hãy khám phá thêm bài viết về nghiên cứu ứng dụng enzyme amylase, protease và nấm men trong sản xuất rượu vang nếp. Ngoài ra, bạn cũng có thể tìm hiểu về đánh giá đặc tính xúc tác của enzyme horseradish peroxidase, một nghiên cứu thú vị về enzyme trong công nghệ thực phẩm. Cuối cùng, bài viết về khảo sát hoạt tính liên kết sắt và đồng của dịch thủy phân protein từ phụ phẩm cá hồi cũng sẽ cung cấp thêm thông tin bổ ích cho bạn trong lĩnh vực này.