Tổng quan nghiên cứu

Tỉnh Hà Nam nằm ở cửa ngõ phía Nam của Thủ đô Hà Nội, sở hữu diện tích tự nhiên 860,5 km2 cùng mật độ dân số 914 người/km2 theo niên giám thống kê năm 2013. Với đặc trưng địa hình dạng lòng chảo trũng thấp và chịu tác động trực tiếp của mạng lưới sông ngòi phức tạp gồm 38,6 km sông Hồng và 47,6 km sông Đáy, địa phương thường xuyên đối mặt với hiểm họa bão lũ và ngập úng nghiêm trọng. Vào mùa lũ kéo dài từ tháng 6 đến tháng 10 hàng năm, chênh lệch mực nước giữa lòng sông chính và đồng ruộng có thể lên tới 6 đến 7 m, đặt hệ thống đê điều và cơ sở hạ tầng trước thách thức lớn về an toàn thoát lũ.

Mục tiêu trọng tâm của nghiên cứu là ứng dụng tổ hợp mô hình toán thủy lực MIKE 11 và MIKE 21FM nhằm tính toán quy hoạch phòng chống lũ chi tiết trên các tuyến sông có đê tại Hà Nam. Đề tài tập trung xác định lưu lượng lũ thiết kế, mực nước lũ thiết kế ứng với các chu kỳ lặp lại 300 năm và 500 năm, đồng thời vạch rõ chỉ giới hành lang thoát lũ theo định hướng của Quyết định số 92/2007/QĐ-TTg và Nghị định 04/2011/NĐ-CP. Phạm vi nghiên cứu bao phủ toàn bộ vùng bãi và lòng dẫn các tuyến sông trọng yếu gồm sông Hồng, sông Đáy, sông Nhuệ và sông Châu Giang trong giai đoạn dữ liệu từ năm 1961 đến năm 2013.

Kết quả từ luận văn mang ý nghĩa thực tiễn to lớn trong việc bảo vệ an toàn cho 786.860 người dân cùng 56.142,4 ha đất nông nghiệp, tương đương 51,1% tổng diện tích tự nhiên của tỉnh. Việc thiết lập cơ sở khoa học chuẩn xác giúp địa phương giải quyết bài toán xung đột giữa phát triển kinh tế vùng bãi sông và bảo đảm không gian thoát lũ bền vững trong dài hạn.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng trên nền tảng thuyết thủy động lực học dòng chảy sông ngòi và nguyên lý lan truyền sóng lũ trong hệ thống mạng sông phân nhánh. Hai công cụ mô hình toán chủ đạo được vận dụng là MIKE 11 và MIKE 21FM. Mô hình MIKE 11 sử dụng hệ phương trình Saint-Venant một chiều đầy đủ bao gồm phương trình liên tục và phương trình động lượng để mô phỏng dòng chảy không ổn định trên toàn bộ mạng lưới sông Hồng - sông Thái Bình. Mô hình MIKE 21FM ứng dụng hệ phương trình nước nông hai chiều trung bình theo độ sâu giải bằng phương pháp thể tích hữu hạn trên lưới phi cấu trúc, cho phép tái hiện chính xác trường vận tốc hai chiều và các xoáy thủy lực cục bộ tại vùng bãi ngập.

Bên cạnh đó, nghiên cứu tích hợp các khái niệm học thuật cốt lõi: hành lang thoát lũ, bãi ngập lũ tự nhiên, mực nước lũ thiết kế theo tần suất P%, hệ số nhám Manning và mức gia tăng mực nước lũ cho phép ΔH. Sự kết hợp lý thuyết này đảm bảo khả năng đánh giá toàn diện cả về động lực học dòng chảy lẫn năng lực thoát lũ công trình.

Phương pháp nghiên cứu

Cơ sở dữ liệu đầu vào bao gồm chuỗi số liệu quan trắc khí tượng thủy văn hơn 40 năm (1970 - 2010) tại trạm Phủ Lý với lượng mưa trung bình nhiều năm đạt 1.889 mm và lượng mưa một ngày cực đại lên đến 333,1 mm trong năm 1978. Dữ liệu mực nước, lưu lượng được thu thập đồng bộ từ các trạm thủy văn quốc gia như Hưng Yên, Ba Thá, Bến Đục, Ninh Bình, Cổ Đam và Vĩnh Trị.

Mẫu nghiên cứu bao trùm toàn diện 6 trục sông chính và sông nội đồng với tổng chiều dài 178,86 km, trong đó có 38,6 km sông Hồng, 47,6 km sông Đáy, 45,83 km sông Châu Giang, 14,5 km sông Nhuệ, 19,82 km sông Sắt và 12,81 km sông Duy Tiên. Phương pháp chọn mẫu toàn diện theo hệ thống mặt cắt địa hình thực địa kết hợp dữ liệu vận hành của 4 hồ chứa thủy điện cắt lũ thượng nguồn (Hòa Bình, Sơn La, Tuyên Quang, Thác Bà) được lựa chọn nhằm bảo đảm tính liên tục không gian.

Lý do lựa chọn phương pháp phân tích mô hình kép MIKE 11 - MIKE 21FM xuất phát từ tính phức tạp của lưu vực: MIKE 11 cho phép tích hợp nhanh quy mô toàn hệ thống sông Hồng với sức tải tính toán lớn, trong khi MIKE 21FM giải quyết triệt để bài toán biến dạng dòng chảy hai chiều tại các điểm nghẽn dòng như thành phố Phủ Lý. Quá trình hiệu chỉnh và kiểm định mô hình được thực hiện khắt khe qua các trận lũ lịch sử tháng 9/1985 và tháng 8/1996, cho hệ số tương quan Nash-Sutcliffe đạt trên 0,85, khẳng định độ tin cậy của phương pháp.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, tính toán thủy lực cho thấy sự hiện diện của 4 hồ chứa thượng nguồn kết hợp phương án phân lũ 2.500 m3/s vào sông Đáy giúp kiểm soát mực nước lũ thiết kế trên sông Hồng qua Hà Nam ở mức 6,90 m tại trạm Như Trác, thấp hơn đỉnh lũ lịch sử 7,81 m năm 1971 khoảng 11,65%.

Thứ hai, đối với sông Đáy, trong kịch bản tiếp nhận 2.500 m3/s từ sông Hồng sau khi cải tạo lòng dẫn đến Ba Thá, mực nước thiết kế tại trạm Tân Lang xác định ở cao trình 6,80 m, cao hơn mức lũ lịch sử 4,94 m năm 1985 khoảng 37,65%, đòi hỏi các biện pháp bảo vệ đê điều nghiêm ngặt.

Thứ ba, mô hình MIKE 21FM đã lượng hóa chính xác chỉ giới hành lang thoát lũ tại thành phố Phủ Lý và các huyện phụ cận. Mức dềnh mực nước lũ tính toán gia tăng ΔH được khống chế dưới 0,1 m, đồng thời vận tốc dòng chảy qua hành lang duy trì trong phạm vi an toàn từ 0,8 đến 1,5 m/s.

Thứ tư, nghiên cứu chỉ ra sự suy giảm khả năng thoát lũ tự nhiên của sông Đáy do lòng dẫn co hẹp và lượng bùn cát lơ lửng sông Đà qua hạ lưu hồ Hòa Bình giảm 50 triệu tấn/năm (từ 60,9 triệu tấn xuống 10,9 triệu tấn trong thời kỳ 1986 - 1997), gây hiện tượng mất cân bằng bùn cát và xói lở cục bộ bờ bãi tại một số đoạn xung yếu.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân chính dẫn đến sự biến động mực nước lũ tại Hà Nam bắt nguồn từ tính chất giao thoa thủy lực đa nguồn. Tỷ lệ trùng đỉnh lũ giữa sông Nhuệ và sông Đáy lên tới 91%, giữa sông Đáy và sông Châu Giang đạt 86%, kết hợp ảnh hưởng của nhật triều vịnh Bắc Bộ làm chậm tốc độ tiêu thoát nước ra biển. So sánh với các nghiên cứu trước đây vốn chỉ xem xét đơn lẻ lưu vực sông Hồng, kết quả nghiên cứu này đã tích hợp đầy đủ kịch bản vận hành liên hồ chứa và quy chế phân lũ khẩn cấp theo Nghị định 04/2011/NĐ-CP.

Dữ liệu thủy lực có thể được trình bày trực quan thông qua đồ thị đường mặt nước dọc tuyến sông và hệ thống bản đồ số 2D biểu diễn vector trường vận tốc dòng chảy. Bảng phân tích cao trình ngập lụt theo các cấp lưu lượng từ 1.000 m3/s đến 2.500 m3/s cung cấp góc nhìn rõ nét về phạm vi ảnh hưởng trên từng km đê, giúp các nhà quản lý dễ dàng nhận diện điểm thắt dòng chảy để ưu tiên giải phóng mặt bằng.

Đề xuất và khuyến nghị

Một là, tiến hành cắm mốc chỉ giới hành lang thoát lũ trên thực địa dọc 47,6 km sông Đáy và 38,6 km sông Hồng trong giai đoạn 2016 - 2020. Ủy ban nhân dân tỉnh Hà Nam chủ trì, phối hợp với Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn thực hiện nhằm ngăn chặn triệt để tình trạng lấn chiếm bãi sông, duy trì mức gia tăng mực nước lũ không vượt quá 0,1 m.

Hai là, triển khai dự án nạo vét và chỉnh trị lòng dẫn sông Đáy từ Ba Thá đến cửa biển với mục tiêu bảo đảm khả năng thông thoát lưu lượng thiết kế 2.500 m3/s, giảm 0,25 đến 0,35 m mực nước lũ dâng tại ngã ba sông Phủ Lý. Dự án do Ban Quản lý Đầu tư và Xây dựng Thủy lợi triển khai hoàn thành trước năm 2025.

Ba là, củng cố và nâng cấp toàn diện các tuyến đê xung yếu đạt chuẩn chống lũ chu kỳ 500 năm (tần suất 0,2%) với lưu lượng thiết kế sông Hồng tại Sơn Tây 48.000 m3/s. Chi cục Đê điều và Phòng chống lụt bão cần hoàn thành tu bổ 100% các đoạn đê cấp I, cấp II trên địa bàn tỉnh trong giai đoạn 2016 - 2022.

Bốn là, hiện đại hóa hệ thống quan trắc và cảnh báo lũ tự động, tích hợp mô hình dự báo thời gian thực giúp nâng cao độ chính xác dự báo trước 24 đến 48 giờ. Trung tâm Khí tượng Thủy văn tỉnh phối hợp các cơ quan chuyên môn liên ngành vận hành thường xuyên nhằm phục vụ công tác điều hành xả lũ an toàn.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Cơ quan quản lý nhà nước và chính quyền địa phương: Lãnh đạo Ủy ban nhân dân các cấp và Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Hà Nam có thể ứng dụng trực tiếp các chỉ giới hành lang thoát lũ và mực nước thiết kế để quy hoạch sử dụng đất bãi bồi, cấp phép xây dựng công trình và điều hành công tác hộ đê.

Các viện nghiên cứu và đơn vị tư vấn thủy lợi: Các kỹ sư quy hoạch có thể kế thừa bộ thông số thủy lực mô hình MIKE 11 và MIKE 21FM đã được hiệu chỉnh chính xác để mở rộng tính toán cho các lưu vực phụ cận như sông Hoàng Long, sông Đào Nam Định.

Giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên cao học: Giới học thuật thuộc các trường đại học chuyên ngành Thủy văn, Tài nguyên nước có thể khai thác luận văn như một công trình tham khảo về tích hợp công nghệ mô hình toán 1D và 2D trong giải quyết bài toán quy hoạch phòng chống thiên tai.

Chủ đầu tư và doanh nghiệp phát triển hạ tầng ven sông: Các đơn vị quản lý khu công nghiệp, cụm tiểu thủ công nghiệp tại Duy Tiên, Kim Bảng có thể nắm bắt chính xác cao trình ngập lũ thiết kế để định vị cốt san nền công trình, phòng tránh tối đa thiệt hại tài sản trong mùa mưa bão.

Câu hỏi thường gặp

Mô hình MIKE 11 và MIKE 21FM đóng vai trò gì trong việc xác định hành lang thoát lũ? Mô hình MIKE 11 tính toán thủy lực mạng lưới diện rộng cho toàn bộ lưu vực sông Hồng - Thái Bình và điều tiết liên hồ chứa. Mô hình MIKE 21FM mô phỏng chi tiết trường lưu tốc 2 chiều tại các đoạn sông cong và ngã ba sông Phủ Lý, giúp xác định chuẩn xác ranh giới ngập lũ với mức dềnh cho phép dưới 0,1 m.

Tiêu chuẩn phòng chống lũ cho các tuyến sông tỉnh Hà Nam được quy định như thế nào? Theo Quyết định số 92/2007/QĐ-TTg, hệ thống sông Hồng được thiết kế chống lũ chu kỳ 500 năm với lưu lượng tại Sơn Tây là 48.000 m3/s, tương ứng mực nước sông Hồng tại Hà Nội là 13,4 m. Đối với sông Đáy, tiêu chuẩn thiết kế đảm bảo chuyển tải an toàn lưu lượng phân lũ 2.500 m3/s từ sông Hồng kết hợp lũ nội địa.

Tại sao sông Đáy qua Hà Nam thường bị ngập kéo dài nhiều ngày trong mùa mưa lũ? Sông Đáy thoát nước chậm do lòng dẫn co hẹp ở hạ lưu và chịu tác động đồng thời của lũ sông Hoàng Long, sông Đào Nam Định với tỷ lệ trùng đỉnh lũ đạt trên 76%. Ngoài ra, ảnh hưởng của chế độ nhật triều vịnh Bắc Bộ gây cản trở dòng chảy ra biển, duy trì mực nước cao nhiều ngày.

Hiệu quả cắt giảm lũ của các hồ chứa thủy điện thượng nguồn đối với tỉnh Hà Nam ra sao? Hệ thống 4 hồ chứa Sơn La, Hòa Bình, Thác Bà và Tuyên Quang giúp cắt giảm đáng kể đỉnh lũ trên sông Hồng. Tại trạm Như Trác thuộc huyện Lý Nhân, mực nước thiết kế được kiểm soát ở mức 6,90 m, thấp hơn 0,91 m so với đỉnh lũ lịch sử 7,81 m xảy ra năm 1971.

Chỉ giới hành lang thoát lũ mang lại lợi ích gì cho công tác quản lý đô thị và đê điều? Chỉ giới hành lang thoát lũ tạo khung pháp lý minh bạch để ngăn chặn việc xây dựng trái phép trên bãi sông, duy trì vận tốc dòng chảy từ 0,8 đến 1,5 m/s, bảo vệ an toàn cho thân đê và tạo không gian phát triển kinh tế bãi bồi ổn định.

Kết luận

  • Luận văn đã ứng dụng thành công tổ hợp mô hình toán MIKE 11 và MIKE 21FM trong tính toán thủy lực quy hoạch phòng chống lũ chi tiết trên các tuyến sông có đê tỉnh Hà Nam.
  • Nghiên cứu đã xác định chuẩn xác lưu lượng và mực nước lũ thiết kế cho 6 tuyến sông chính ứng với chu kỳ lặp lại 300 đến 500 năm trong bối cảnh có sự điều tiết của liên hồ chứa.
  • Đề tài đã thiết lập bản đồ chỉ giới hành lang thoát lũ chi tiết cho từng cung sông, khống chế mức dềnh mực nước lũ dưới 0,1 m và duy trì vận tốc an toàn.
  • Kết quả nghiên cứu cung cấp luận cứ khoa học quan trọng phục vụ điều chỉnh quy hoạch phòng chống lũ và quy hoạch sử dụng đất tỉnh Hà Nam theo Luật Đê điều.
  • Các đề xuất công trình và phi công trình cần được triển khai theo lộ trình 2016 - 2025, trọng tâm là nạo vét lòng dẫn sông Đáy và cắm mốc chỉ giới thoát lũ.

Đóng góp nổi bật của luận văn là đã chuẩn hóa phương pháp luận mô hình hóa kết hợp 1D-2D trong quản lý lưu vực sông phức tạp. Các nhà quản lý, nhà nghiên cứu và cơ quan hoạch định chính sách có thể tham khảo và áp dụng các kết quả này vào công tác quản trị rủi ro thiên tai và phát triển kinh tế xã hội bền vững tại địa phương.