ĐẶT VẤN ĐỀ Rừng là tài nguyên vô cùng quý giá, rừng đóng vai trò hết sức quan trọng đối với con ngƣời, không những cung cấp gỗ và các loại lâm sản khác, mà nó còn có giá trị bảo vệ và cải tạo môi trƣờng sinh thái, tạo cảnh quan du lịch, điều hoà khí hậu, hạn chế thiên tai, bão lũ, là khâu quan trọng trong chu trình tuần hoàn vật chất của thiên nhiên, là nơi cƣ trú của nhiều loài động vật và là nơi cung cấp thức ăn cho động vật nói chung. Hiện nay vai trò của rừng nói riêng hay ngành Lâm nghiệp nói chung không những đƣợc đánh giá ở khía cạnh kinh tế, mà còn tính đến những lợi ích to lớn về mặt xã hội, môi trƣờng mà rừng và nghề rừng mang lại. Trƣớc những tác động, khó lƣờng của biến đổi khí hậu toàn cầu, ngƣời ta càng thấy rõ hơn vai trò và ý nghĩa to lớn của rừng. Sự tác động tiêu cực đến rừng và đất lâm nghiệp không chỉ ảnh hƣởng trực tiếp đến nghề rừng và sự phát triển kinh tế - xã hội tại khu vực có rừng và đất lâm nghiệp mà còn tác động nhiều mặt đến các khu vực phụ cận cũng nhƣ nhiều ngành sản xuất khác.
Với thực trạng trên, rừng và đất lâm nghiệp có vai trò hết sức quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội. Vì vậy, để sử dụng tài nguyên rừng một cách bền vững và lâu dài, việc xây dựng phƣơng án quy hoạch hợp lý là yêu cầu cấp thiết đối với các nhà quản lý. Do đặc điểm địa hình nƣớc ta rất phong phú và đa dạng, rừng phân bố không đồng đều, điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội rất khác nhau, nhu cầu của các địa phƣơng, các ngành kinh tế khác đối với lâm nghiệp cũng không giống nhau, nên việc quy hoạch lâm nghiệp cho các cấp quản lý, các đơn vị sản xuất kinh doanh,. ngày càng trở thành một đòi hỏi thực tế khách quan.
Quy hoạch là một trong những hoạt động rất quan trọng, nó là tiền đề vững chắc cho bất kỳ giải pháp nào nhằm phát huy hết những tiềm năng to lớn, đa dạng của tài nguyên rừng và các điều kiện kinh tế - xã hội khác, góp phần vào sự nghiệp phát triển bền vững, ổn định, lâu dài ở địa phƣơng và quốc gia. Chính vì vậy, để việc sản xuất kinh doanh rừng có hiệu quả hay sử dụng nguồn tài nguyên thiên nhiên theo hƣớng bền vững, nhất thiết phải quy hoạch lâm nghiệp, nhằm bố cục hợp lý về mặt không gian tài nguyên rừng, và bố trí cân đối các hạng mục sản xuất kinh doanh. Công tác quy hoạch lâm nghiệp cần phải c 2 đƣợc đi trƣớc một bƣớc, làm cơ sở cho việc lập kế hoạch, định hƣớng trƣớc khi hoạt động sản xuất kinh doanh lâm nghiệp khác diễn ra, đáp ứng nhu cầu lâm sản cho nền kinh tế quốc dân, cho kinh tế địa phƣơng, cho xuất khẩu và cho đời sống nhân dân, đồng thời phát huy những tác dụng có lợi khác của rừng. Thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh nằm ở phía Đông Bắc tỉnh Quảng Ninh tiếp giáp với Trung Quốc.
Thành phố có tổng diện tích tự nhiên là: 51.958,66 ha (chiếm 8,5% tổng diện tích tự nhiên toàn Tỉnh); Trong đó diện tích đất lâm nghiệp 29.839,25 ha chiếm 57,4 % diện tích đất tự nhiên toàn Thành phố, do đó rừng có vai trò quan trọng trong việc phòng hộ và phát triển nền kinh tế xã hội của Thành phố. Trên địa bàn Thành phố gồm có 17 xã, phƣờng, hiện có 93.800 nhân khẩu, mật độ 181ngƣơi/1km2, trong đó ngƣời dân tộc Kinh chiếm tới hơn 90% dân số của Thành phố, ngoài ra còn có ngƣời Dao, Hoa và một vài dân tộc khác, có 70.424 ngƣời ở độ tuổi lao động trong đó nông lâm nghiệp chiếm 90% còn lại là tiểu thủ công nghiệp và thƣơng mại dịch vụ, do sức ép về tốc độ dân số tăng nhanh nên số lao động dôi dƣ sẽ tăng theo, chất lƣợng lao động thấp chủ yếu là lao động giản đơn chƣa qua đào tạo, trình độ văn hoá thấp. Thành phố Móng Cái nằm trong vùng bán sơn địa ven biển có vùng đồi núi rộng và có điều kiện tự nhiên phù hợp cho việc phát triển những loại cây trồng giá trị chế biến và xuất khẩu nhƣ: thông, quế, hồi, nấm hƣơng, cây dƣợc liệu, gỗ giấy, chè, mía, cây ăn quả. đây là thế mạnh cho Thành phố phát triển kinh tế trang trại sản xuất nông lâm sản hàng hoá.
Với thực trạng trên, rừng và đất lâm nghiệp có vài trò hết sức quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội của Thành phố. Để sử dụng triệt để, hợp lý, có hiệu quả nguồn tài nguyên đất đai, bảo vệ cảnh quan môi trƣờng sinh thái đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội một cách ổn định bền vững theo hƣớng công nghiệp hoá hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn. Việc xây dựng Quy hoạch bảo vệ phát triển rừng bền vững thành phố Móng Cái đến năm 2020, định hƣớng đến năm 2030 có ý nghĩa hết sức quan trọng, trong việc phát triển kinh tế chung của Thành phố, việc khai thác một cách có hiệu quả về tác dụng nhiều mặt của rừng, khai thác sử dụng tiềm năng từ nguồn sinh thuỷ, nguồn đất đai tài nguyên rừng trong khu vực phòng hộ và c 3 sản xuất là việc làm rất cần thiết trong giai đoạn hiện nay. Với những ý nghĩa quan trọng đó, việc nghiên cứu đề xuất phƣơng án quy hoạch lâm nghiệp hợp lý, có cơ sở khoa học sẽ góp phần quản lý tài nguyên rừng bền vững, đóng góp tăng trƣởng kinh tế chung của Thành phố, tăng thu nhập, cải thiện đời sống của ngƣời làm nghề rừng, thực hiện xoá đói giảm nghèo và đƣa kinh tế-xã hội miền núi phát triển hoà nhập với tiến trình phát triển kinh tế-xã hội của Thành phố là hết sức cần thiết.
Trong những năm gần đây, Nhà nƣớc đã ban hành một số chủ trƣơng chính sách mới có tác động một cách sâu sắc đến công tác quy hoạch lâm nghiệp nhƣ: Luật Bảo vệ và Phát triển rừng năm 2004; Luật Đất đai năm 2013; Quyết định số 57/QĐ-TTg ngày 09/01/2012 v/v Phê duyệt kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng, giai đoạn 2011-2020; Quyết định số 07/2012/QĐ-TTg ngày 08/12/2012 Ban hành một số chính sách tăng cƣờng công tác bảo vệ rừng; Chỉ thị số 38/2005/CT-TTg ngày 05/12/2005 về việc rà soát, quy hoạch lại 3 loại rừng … Các văn bản của địa phƣơng nhƣ: Quyết định số 1588/QĐ-UBND ngày 28/7/2014 phê duyệt Quy hoạch xây dựng vùng tỉnh Quảng Ninh đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050 và ngoài năm 2050; Quyết định số 3599/QĐ-UBND ngày 30/12/2013 Phê duyệt Quy hoạch chế biến gỗ trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh đến năm 2020; Quyết định số 2669/QĐ- UBND ngày 14/11/ 2014 của UBND tỉnh Quảng Ninh Phê duyệt Quy hoạch Bảo vệ và phát triển rừng tỉnh Quảng Ninh đến năm 2020… Xuất phát từ những vấn đề nêu trên, để có những cơ sở khoa học góp phần quy hoạch phát triển lâm nghiệp thành phố Móng Cái theo hƣớng ổn định, bền vững lâu dài, nâng cao đời sống ngƣời dân địa phƣơng cũng nhƣ cải thiện điều kiện môi trƣờng sinh thái khu vực, đó là lý do tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Nghiên cứu cơ sở khoa học đề xuất một số nội dung cơ bản quy hoạch lâm nghiệp thành phố Móng Cái - tỉnh Quảng Ninh, giai đoạn 2017 – 2020, định hướng phát triển đến năm 2030”. c 4 Chƣơng 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU Tài nguyên rừng trên thế giới cũng nhƣ Việt Nam đã và đang bị thu hẹp dần về diện tích, giảm về chất lƣợng, môi trƣờng bị suy thoái, ô nhiễm ngày càng nghiêm trọng dẫn đến thiên tai, hạn hán, lũ lụt, dịch bệnh xảy ra ngày càng nhiều. Chính vì vậy, việc quy hoạch sử dụng hợp lý và bền vững tài nguyên rừng không còn là trách nhiệm riêng của một quốc gia nào mà là công việc chung của toàn nhân loại. Trên thế giới.
Quy hoạch lâm nghiệp lbộ phận cấu thành của quy hoạch tổng thể phát triển nông thôn và thuộc phạm trù của Quy hoạch vùng. Dà một o đó, công tác quy hoạch lâm nghiệp cần có sự phối hợp chặt chẽ với quy hoạch phát triển nông thôn nhằm tránh sự chồng chéo, hạn chế lẫn nhau giữa các ngành và tuân thủ theo các nguyên tắc, định hƣớng của Quy hoạch vùng. Thực chất của công tác quy hoạch nói chung là tổ chức không gian và thời gian phát triển chung cho kinh tế, xã hội, môi trƣờng hoặc cho một ngành hoặc một lĩnh vực sản xuất trong từng giai đoạn cụ thể. Mỗi ngành kinh tế muốn tồn tại, phát triển thì nhất thiết phải tiến hành quy hoạch, sắp xếp một cách hợp lý, mà trong đó công tác điều tra cơ bản phục vụ cho quy hoạch phát triển phải đƣợc đi trƣớc một bƣớc.
Quy hoạch vùng Quy hoạch vùng tuân theo học thuyết Mác-Lê Nin về phân bố và phát triển lực lƣợng sản xuất theo lãnh thổ và sử dụng các phƣơng pháp của chủ nghĩa duy vật biện chứng. Các Mác và Ăng Ghen đã chỉ ra “Mức độ phát triển lực lƣợng sản xuất của một dân tộc thể hiện rõ nét hơn hết ở sự phân công lao động của dân tộc đó đƣợc phát triển đến mức độ nào” Lê Nin đã chỉ ra “Sự nghiên cứu tổng hợp tất cả các đặc điểm tự nhiên kinh tế - xã hội của mỗi vùng là nguyên tắc quan trọng để phân bố sản xuất”. Vì vậy, nghiên cứu các đặc điểm đặc trƣng cho sự phân bố lực lƣợng sản xuất cho mỗi vùng trong quá khứ và hiện tại để xác định khả năng tiềm tàng và tƣơng lai phát triển của vùng đó. c 5 Dựa vào học thuyết của Mác và Ăng Ghen.
Lê Nin đã nghiên cứu có hƣớng cụ thể về kế hoạch hoá phát triển lực lƣợng sản xuất trong xã hội chủ nghĩa. Sự phân bố lực lƣợng sản xuất đƣợc xác định theo các nguyên tắc sau: Phân bố lực lƣợng sản xuất có kế hoạch trên toàn lãnh thổ của đất nƣớc, tỉnh, huyện, nhằm thu hút các nguồn tài nguyên thiên nhiên và lao động của tất cả các vùng và quá trình tái sản xuất mở rộng. Đƣa các xí nghiệp, công nghiệp đến gần nguồn tài nguyên để hạn chế chi phí vận chuyển. Kết hợp tốt lợi ích Nhà nƣớc và nhu cầu kinh tế của từng tỉnh, vùng.
Tăng cƣờng toàn diện tiềm lực kinh tế, …Kết hợp chặt chẽ các ngành kinh tế từng vùng, từng huyện nhằm nâng cao năng xuất lao động và sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên.