Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN TRỊ QUAN HỆ KHÁCH HÀNG TRONG NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Khách hàng của ngân hàng thương mại 1. Khái niệm khách hàng Theo tiêu chuẩn ISO 9000: 2000: Khách hàng là tổ chức hay cá nhân nhận một sản phẩm hay dịch vụ. Trong bối cảnh cạnh tranh mạnh mẽ và xu thế hội nhập kinh tế quốc tế, tự do hóa thương mại thì doanh nghiệp hay ngân hàng cần phải có quan niệm đầy đủ hơn về khách hàng như sau: Khách hàng không chỉ đơn thuần là người mua hàng mà rộng hơn, khách hàng còn là những người mà doanh nghiệp phục vụ, những người tham gia vào quá trình cung ứng dịch vụ của doanh nghiệp.
Dựa trên nhiều phương diện khác nhau, KH được chia làm nhiều loại: - Theo mục đích mua hàng: + KH tiêu dùng là những người mua sản phẩm, dịch vụ của doanh nghiệp với mục đích tiêu dùng. Họ thường là những người mua với số lượng nhỏ, mua nhiều lần, quy trình mua đơn giản và ít chịu ảnh hưởng của môi trường trong tiến trình mua, họ chịu ảnh hưởng nhiều bởi giá. + KH tổ chức là những KH mua sản phẩm, dịch vụ để phục vụ cho quá trình sản xuất của mình, đó là đầu vào của quá trình sản xuất. Họ thường là những người mua với số lượng lớn, tiến trình mua chuyên nghiệp, ít chịu ảnh hưởng bởi giá nhưng chất lượng và quy trình phục vụ ảnh hưởng đáng kể đến quyết định mua của họ.
- Theo lịch sử mua hàng: + KH hiện có: là những tổ chức hay cá nhân đã, đang tiêu thụ sản phẩm, hàng hóa hay dịch vụ của doanh nghiệp. Nói cách khác, KH hiện có là Luan van 4 người đang có quan hệ mua bán với doanh nghiệp. KH hiện có của doanh nghiệp được chia thành nhiều cấp bậc là KH mua hàng lần đầu, KH mua hàng lặp lại, KH mua thường xuyên và KH trung thành. Làm hài lòng KH hiện có là mục tiêu luôn hướng đến của bất kỳ doanh nghiệp nào.
Khi KH hiện có của doanh nghiệp được thỏa mãn tố nhu cầu thì họ là nguồn cung cấp thông tin hiệu quả nhất đến các KH tiềm năng cho doanh nghiệp. + KH tiềm năng: là tổ chức hoặc cá nhân có khả năng trở thành hoặc không trở thành KH hiện có của doanh nghiệp trong tương lai. Chi phí để tìm kiếm một KH mới có thể gấp 5- 15 lần so với chi phí giữ KH cũ, nhưng để mở rộng khu vực hoạt động, tìm kiếm những thị trường mới và tìm kiếm nguồn lợi nhuận lâu dài trong tương lai… bắt buộc các doanh nghiệp phải “quan tâm” đến KH tiềm năng. - Theo phạm vi hoạt động: + KH bên trong: là đội ngũ ở bên trong tổ chức mà công việc của họ phụ thuộc vào công việc của các bộ phận khác, cần phải cung cấp cho họ những điều họ cần để họ có thể thực hiện công việc một cách tố nhất.
+ KH bên ngoài: là những người bên ngoài tổ chức mua hàng hóa, dịch vụ do tổ chức cung cấp. Khách hàng nào cũng quan trọng và có mối quan hệ biện chứng với nhau, có khách hàng bên ngoài thì doanh nghiệp và khách hàng bên trong mới tồn tại. Ngược lại, nhờ có sự phối hợp, tương tác giữa các bộ phận bên trong doanh nghiệp thì doanh nghiệp và khách hàng bên ngoài mới có mối quan hệ trao đổi, mua bán. Tuy nhiên, trong luận văn này, khi nói đến khách hàng thì chủ yếu là nói về khách hàng bên ngoài.
Khách hàng đang là của doanh nghiệp hôm nay nhưng chưa chắc là khách hàng của doanh nghiệp ngày mai. Ngược lại, hôm nay họ chưa phải là khách hàng của doanh nghiệp nhưng có thể ngày mai họ Luan van 5 lại là khách hàng của mình. Điều này có nghĩa là doanh nghiệp luôn có khách hàng hiện tại và khách hàng tương lai. Để liên tục phát triển và kinh doanh có hiệu quả thì doanh nghiệp phải giữ khách hàng cũ, khách hàng trung thành và phải chú ý tìm kiếm, phát triển khách hàng mới.
Khách hàng là người quan trọng nhất đối với doanh nghiệp, vai trò của KH được thể hiện: - KH quyết định sự sống còn của doanh nghiệp, doanh nghiệp chỉ có thể tồn tại khi có được niềm tin của KH. - KH là mục tiêu của doanh nghiệp, doanh nghiệp phải tìm hiểu nhu cầu của KH và đáp ứng các nhu cầu đó. - KH là nguồn lợi nhuận mà doanh nghiệp hướng tới, là tài sản quý giá nhất của doanh nghiệp. Sự cạnh tranh gay gắt đã và đang đặt ra cho doanh nghiệp nhiều thách thức.
KH ngày càng có nhiều sự lựa chọn đối với cùng một loại hàng hóa hay dịch vụ. Thực tế đã chứng minh rằng các doanh nghiệp có chiến lược và kế hoạch đầu tư hiệu quả nguồn nhân lực cho việc nâng cao giá trị KH thì thường là các doanh nghiệp dành được thị phần lớn trong thương trường. Rất nhiều doanh nghiệp đã nhận thức được vấn đề này nhưng không phải doanh nghiệp nào cũng thực hiện thành công. Trở thành doanh nghiệp định hướng KH có thể kéo theo các thay đổi về cơ cấu, quá trình, năng lực nhân sự… Những thay đổi đó phải được thể hiện trong một lộ trình rõ ràng.
Đặc điểm KH của ngân hàng Các KH của ngân hàng có thể là cá nhân và hộ gia đình, các tổ chức, thậm chí KH của nó có thể là một ngân hàng đồng nghiệp, một tổ chức tài chính tín dụng bất kể quốc tịch hay họ cư trú nơi đâu. a) KH cá nhân và hộ gia đình (tiêu dùng) Luan van 6 - Những người đóng vai trò chủ chốt, nắm vai trò quyết định trong gia đình, tối thiểu là không phải trẻ vị thành niên sẽ giữ vai trò quan trọng trong việc mua dịch vụ của ngân hàng. - KH nhiều và thường phân tán về mặt địa lý. - Thói quen thích giao dịch gần.
- Nhu cầu nhỏ, đàn hồi cao. - Ít có những mối quan hệ qua lại, ràng buộc với ngân hàng. - Thông thường, việc giao dịch là để phục vụ cho đời sống và sinh hoạt. - Tính chuyên nghiệp trong giao dịch thấp.
- Thời gian có liên quan đến quyết định thường ngắn hơn và không mang tính chất hình thức. - Việc mua dịch vụ chịu nhiều nhân tố ảnh hưởng: tâm lý, văn hóa, xã hội và các nhân tố thuộc về bản thân họ. b) Đặc điểm KH tổ chức - Số lượng người mua ít hơn so với loại thị trường là các cá nhân và hộ gia đình. - Thường tập trung về mặt địa lý.
- Nhu cầu của tổ chức là nhu cầu thứ phát và kém đàn hồi, thất thường, biến động lớn, nhưng có qui mô lớn, số lượng mua nhiều. - Có nhiều người tham gia vào tiến trình ra quyết định. - Có một bộ phận chuyên đảm trách việc giao dịch. - Mối quan hệ giữa ngân hàng và KH thường gần gũi hơn, có mối quan hệ qua lại, ràng buộc lẫn nhau.
- Việc giao dịch chủ yếu là để thực hiện kinh doanh hoặc thực hiện một chức năng nào đó. Họ thường quan tâm đến vấn đề lợi nhuận, giảm chi phí, đàm phán kỹ về giá cả và hay đòi hỏi có giảm giá trong những trường hợp Luan van 7 nhất định, hoặc khả năng thỏa mãn những yêu cầu cho công việc, chẳng hạn như yêu cầu về kế hoạch cung cấp, số lượng, chất lượng, địa điểm… - Là KH có trình độ. - Quyết định mua thường kéo dài và phức tạp hơn. - Trong quá trình giao dịch, KH và ngân hàng thường có tác động qua lại lẫn nhau, các KH thường tìm kiếm các giải pháp, cung cấp thông tin, tư vấn.
- Hành vi giao dịch là trực tiếp và có nhân nhượng lẫn nhau. - Việc giao dịch chịu các nhân tố ảnh hưởng không giống KH tiêu dùng, bao gồm: + Các nhân tố thuộc về môi trường vĩ mô và vi mô. + Các nhân tố thuộc về tổ chức: quan điểm, chính sách, quy trình, cơ cấu tổ chức… + Các nhân tố tương hỗ: thẩm quyền, vị trí, tình cảm, sự thuyết phục… + Các nhân tố cá nhân của người có liên quan đến việc mua: tuổi tác, văn hóa, vị trí công việc, nhân cách, thái độ… 1. Hành vi của KH ngân hàng Để có thể thành công trong Marketing dịch vụ nói chung và Marketing ngân hàng nói riêng, nhà quản trị cần phải hiểu được cách thức mà người tiêu dùng đánh giá và lựa chọn dịch vụ.
Về cơ bản, người tiêu dùng dịch vụ cũng trải qua những giai đoạn của tiến trình mua. Tuy nhiên, xuất phát từ những đặc thù của hoạt động dịch vụ so với sản phẩm vật chất nên tiến trình mua dịch vụ cũng có những điểm khác biệt. Nhìn chung, tiến trình mua của KH dịch vụ cũng có thể trải qua 5 bước cơ bản theo mô hình: Đánh giá Nhận Quyết Hành vi Tìm các thức vấn định sau khi kiếm phương đề mua mua thông tin án Luan van 8 Với những loại dịch vụ khác nhau, đặc điểm KH khác nhau, trong những tình huống mua khác nhau, các KH khác nhau có thể có những dạng hành vi mua không giống nhau (xét ở những giai đoạn mà họ trải qua trong tiến trình mua và ở cái cách mà họ thực hiện những hoạt động trong mỗi giai đoạn…) Do những đặc điểm riêng có của dịch vụ nói chung và dịch vụ ngân hàng nói riêng, tiến trình giao dịch của KH ngân hàng cũng có những nét riêng biệt xuất hiện một cách phổ biến so với trường hợp anh ta đi mua sản phẩm vật chất. Những sự khác biệt này cần được người làm Marketing lưu ý.
* Các dạng hành vi của KH ngân hàng Để xem xét các dạng hành vi mua hàng của KH, hai tiêu thức có tính đặc thù được sử dụng: - Mức độ liên đới (bận tâm) của KH, được thể hiện ở mong muốn kiểm soát và tham gia tích cực vào tình huống dịch vụ. - Mức độ tin tưởng phụ thuộc vào sự phức tạp của sản phẩm và tính chắc chắn của kết quả. Với hai mức độ cho mỗi tiêu thức, có 4 dạng hành vi mua sau: Lặp lại- Thuần lý- thụ động chủ động Sự tin tưởng của KH Quan hệ- Không mua phụ thuộc Sự liên đới Hình 1.1: Các dạng hành vi mua Luan van 9 a) Kiểu lặp lại- thụ động - KH thể hiện một mức độ bận tâm thấp đối với dịch vụ ngân hàng nhưng có sự tin tưởng khá lớn. - Họ sẽ lặp lại các giao dịch mà không chủ động tìm kiếm các phương án: “trung thành về hành vi”.