Chương 1: Cơ sở lý luận về quản trị nội dung thể thao trên truyền hình 10 Chương 2: Thực trạng quản trị nội dung thông tin thể thao ở Đài Truyền hình Việt Nam Chương 3: Giải pháp nâng cao chất lượng quản quản trị nội dung thông tin thể thao ở Đài Truyền hình Việt Nam trong thời gian tới 11 l CHUONG 1: CO SO LY LUAN VE QUAN TRI NOI DUNG THE THAO TREN TRUYEN HINH 1. Một số khái niệm cơ bản 1.1 Truyền hình, chương trình truyền hình, chương trình truyền hình thể thao Chúng ta đang sống trong một cuộc sống tràn ngập thông tin, với sự tương tác đa chiều thông qua nhiều phương tiện như phát thanh, truyền hình, sách báo và cả internet. Có rất nhiều định nghĩa khác nhau về thông tin, nhưng chúng ta có thé tong kết một cách ngắn ngọn thông tin là sự thông báo, trao đồi, giải thích về một đối tượng cụ thể nào đó và được thê hiện thông qua các dạng tín hiệu như âm thanh, chữ số, chữ viết, v. nhằm giải thích một sự vật, sự kiện nao đó cho đối tượng tiếp nhận thông tin.
Có nhiều phương thức dé truyền tải thông tin đến người tiếp nhận thông tin, và một trong những phương thức phô biến nhất là cách thức truyền tải thông tin qua truyền hình. Truyền hình, theo diễn giải của Dương Xuân Sơn trong Giáo trình báo chí truyền hình như sau: “Truyền hình là một phương tiện thông tin đại chúng truyền đạt thông tin nhờ phương tiện kỹ thuật đến đối tượng tiếp nhận là người xem. Thông tin truyền hình gồm hình ảnh và âm thanh” [60]. Chương trình truyền hình là một đơn vị nội dung được phát sóng trên truyền hình.
Đồng thời, đây là còn là phương thức giao tiếp của truyền hình với khán giả. Các Tivi show này còn là sự kết hợp, sắp xếp, bồ trí các nội dung về giáo dục, giải trí, thông tin, v. trong một khung giờ nhất định và tuân thủ quy định về chủ đề và phạm vi nội dung. Chương trình truyền hình bao gồm nhiều thể loại như: Talk show, Gameshow, Bản tin, Phim truyện, Phim sitcom, v.
Trong đó, gameshow và truyền hình trực tiếp là một trong những chương trình truyền hình phổ biến và thu hút tại Việt Nam. Các chương trình truyền hình 12 được phân loại dựa trên quy trình sản xuất. Tùy vào phương thức sản xuất khác nhau cho ra hai loại chương trình là: Chương trình sản xuất theo phương thức điện ảnh và chương trình truyền hình sản xuất theo phương thức trường quay. Không chỉ vậy, theo thời điểm phát sóng lại chia ra: chương trình phát sóng trực tiếp và chương trình phát sóng có hậu kỳ.
Có thể thấy, chỉ mới đề cập đến định nghĩa đã thấy sản xuất chương trình truyền hình là một lĩnh vực không hề đơn giản. Chỉ có những đơn vị truyền thông chuyên nghiệp mới có khả năng đảm bảo tạo ra những show chuyên nghiệp và thu hút đông đảo lượt xem từ khán giả. Trên cơ sở phân tích ở trên có thể khái quát “Chương trình truyền hình thé thao là những thông tin về những sự kiện, sự việc thé thao mới xảy ra, đang xảy ra có ý nghĩa quan trọng hoặc có ảnh hưởng mạnh mẽ ở nhiều quốc gia được truyền tải một cách sinh động, ngắn gọn thông qua các bản tin, các chương trình truyền hình chuyên biệt về thể thao dưới dạng hình ảnh và âm thanh”. Trong phạm vi nghiên cứu của luận văn này, chương trình truyền hình về thể thao sẽ được xem xét như bản tin, phóng sự, chương trình chuyên đề, v.
Các chương trình truyền hình về thé thao có những ưu thé mạnh mẽ về tính chất thông tin, về hình thức thé hiện thông tin và về mục dich của thông tin. Cụ thé: Về tính chất thông tin: Thông tin phải chính xác, nhanh chóng, kịp thời, trung thực, đúng định hướng, thiết thực với công chúng. Trong cuốn Thời sự truyền hình, tác giả Victoria Mc Cullough Caroll đã khang định “Tin tức truyền hình đó là một cuộc cạnh tranh theo đúng nghĩa. Người ta vẫn nói rằng những người làm việc trong chương trình thời sự lúc nào cũng “ngửi thấy” mùi cạnh tranh nhưng điều đó giúp họ giữ vững được vị trí của mình” [73].
Nghĩa là, tin tức truyền hình cần nhanh chóng, tức thời. Về hình thức thông tin: Thông tin truyền hình được thể hiện bằng hình ảnh và âm thanh sống động. Và đây chính là đặc điểm phân biệt tin tức 13 truyền hình và tin tức ở các loại hình báo chí khác. Theo Tạ Ngọc Tấn: “Thông tin truyền hình tái hiện cuộc sống hiện thực trong trạng thái sống.
Nghĩa là truyền hình có thể là một phạm vi, một bộ phận nguyên dạng những gì đang diễn ra ngoài đời nhưng nó được cho là rõ hơn, đẹp hơn. Người xem truyền hình có cảm giác như họ đang có mặt, trực tiếp chứng kiến hay đang tham gia vào sự kiện thực tế đó” [62, tr. Về mục đích thông tin: Thông tin truyền hình giúp khán giả trong một khoảng thời gian ngắn nhất, nhanh nhất biết có sự kiện gì xảy ra, ngoài ra còn giúp nếu kịp còn cho biết và hiểu sâu về sự kiện đó. Đặc điểm nội dung chương trình truyền hình về thé thao Tir điển tiếng Việt định nghĩa “Nội dung là mặt bên trong của sự vật cái được hình thức chứa đựng hoặc biểu hiện” [56, tr 523].
Với định nghĩa trên ta có thể hiểu được nội dung là thông tin và trải nghiệm hướng tới người dùng cuối hoặc khán giả. Nội dung là trang thái bên trong của những gi chứa đựng hoặc thé hiện qua hình thức. Về cơ bản, hình thức được hiểu là một phạm trù dùng dé chỉ cách thức tồn tại và phát triển của sự vật. Hình thức là một hệ thong các mối quan hệ tương đối ôn định giữa các yêu tố của sự vật đó.
Nội dung và hình thức có mối quan hệ chặt chẽ. Nội dung của hình thức có vai trò quyết định đối với quá trình vận động, phát triển của sự vật, hiện tượng. Ké từ đó, nội dung bao giờ cũng là mặt đồng nhất, có khuynh hướng chủ đạo đó là biến đổi. Còn hình thức là mặt tương đối bền vững, có khuynh hướng chủ dao là sự ôn định.
Sự thay đổi và phát triển của các sự vật luôn khởi đầu từ sự thay đôi và phát triển nội dung. Hình thức cũng thay đổi, nhưng chậm hon là nội dung thay đổi và cần thích ứng với nội dung mới hơn. Nội dung và hình thức không chỉ có mối quan hệ chặt chẽ mà còn thống nhất và gắn bó với nhau. Moi thứ đồng thời phải có hình thức và nội dung.
Không có gì chỉ có hình thức mà không có nội dung, hoặc nội dung không có hình thức. Vì vậy, nội dung và 14 hình thức phải nhất quán thì mới tồn tại được. Sự vật gồm nhiều yếu tố, nhiều mặt khác nhau nhưng các yếu tố này liên kết với nhau, không tách rời nhau. Do đó, các yếu tô này vừa là chất liệu tạo nên nội dung, vừa tham gia vào các mỗi quan hệ tạo nên hình thức.
Nội dung và hình thức sẽ không thể tách rời nhau, có quan hệ mật thiết với nhau. Không có nội dung mà không có hình thức và không có hình thức nào mà không có nội dung. Nội dung có thể có nhiều hình thức trong bat ky tình huống nào, và ngược lai, cùng một hình thức có thé thé hiện các nội dung khác nhau. Trong cuốn Tác phẩm báo chí của Học viện Báo chí và Tuyên truyền [35] đã chỉ ra nội dung một tác phẩm báo chí được hình thành bởi các thành phân như đề tài, chủ đề và chỉ tiết.
Những thành phần này giúp truyền tải thông tin đến cho khán giả hay người tiêu dùng cuối. Vậy, nội dung chương trình truyền hình có thê hiểu đó là thông tin, thông điệp (đề tài, chủ đề, chỉ tiết) về một hoặc nhiều sự kiện thể thao được gửi đến công chúng qua loại hình chương trình truyền hình. Trong khuôn khổ nghiên cứu của luận văn này, tôi xin định nghĩa khái niệm nội dung chương trình truyền hình về thé thao theo nghĩa rộng hơn. Nội dung chương trình truyền hình về thé thao là một kết cấu hoàn chỉnh, ở đó nội dung thé thao được chuyên tải trong một hình thức cụ thé, được thê hiện thông qua lời nói, hình ảnh hoặc văn bản và đến được với người tiếp nhận thông tin.
Nội dung chương trình thé thao bao gồm chương trình tin tức thê thao và chương trình chuyên đề thê thao. Chương trình tin tức thé thao là chương trình đưa đến khán giả những thông tin cập nhật về các sự kiện trong nước và quốc tế hàng ngày, và có thời lượng không quá 5 phút. Chương trình tin tức hướng tới việc cập nhật tin tức một cách nhanh nhất, ngắn gọn và giàu thông tin nhưng không có tính chuyên môn, chuyên sâu. 15 Chương trình chuyên đề về thê thao là một chương trình đặt nặng tính chuyên môn, chuyên sâu, chuyên biệt về một chủ đề cụ thê trong thê thao, được biểu hiện qua nhiều góc độ nhằm làm rõ bản chất của sự việc, hiện tượng thể thao đang diễn ra hoặc đã diễn ra nhưng có giá trị ý nghĩa cao đối với công chúng.
Thế mạnh của chương trình chuyên đề về thê thao là tính bao quát trên diện rộng về chủ đề, bên cạnh đó thời lượng đối với mỗi chương trình chuyên đề về thé thao thương dai hơn với chương trình tin tức. Do đó, các chương trình chuyên đề thé thao có thời lượng dé đưa ra những phân tích, đánh giá, góc nhìn mới lạ ở nhiều khía cạnh về những vấn đề được khán giả quan tâm trong đời sống thé thao, qua đó cung cấp thêm cho khán giả những hiéu biết sâu hơn về một vấn đề cụ thể. Từ những sự kiện mới diễn ra hoặc đang diễn ra là những đề tài nóng hồi của cuộc sông thể thao cho đến những sự kiện đã trải qua một thời gian tương đối dài và tưởng chừng đã cũ nhưng được làm mới với những góc tiếp cận khác biệt dé làm nổi bật giá tri về tri thức, nghiên cứu và tham khảo. Bên cạnh các chương trình mang nặng tính chuyên môn, chuyên sâu về thé thao, truyền hình thé thao còn mang lại cho khán giả những giờ phút giải trí đặc sắc, phong phú và lôi cuốn.
Các kênh thé thao sở hữu nhiều nội dung thé thao đặc sắc trong đó phải kể tới các giải dau của Đội tuyển Quốc gia Việt Nam. Bên cạnh đó là rất nhiều giải dau thé thao đỉnh cao trong nước và quốc tế. Các môn thé thao được tường thuật bao gồm bóng đá, tennis, golf, bóng 16, bong chuyén và võ thuật, v.