Chương 1: Cơ sở lí luận về dạy học định hướng STEAM theo quy trình tư duy thiết kế nhằm phát trién năng lực định hướng nghé nghiệp. + Chương 2: Xây dựng kế hoạch bai dạy một số kiến thức trong chuyên dé: “Mo dau về điện tử học” trong chương trình giáo dục phô thông môn Vật lí (2018) định hướng giao dục STEAM theo quy trình tư duy thiết ke. + Chương 3: thực nghiệm su phạm. CHUONG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN DẠY HỌC THEO TƯ DUY THIẾT KE Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHO THONG 1.
Tư duy thiết kế trong giáo dục phô thông 1. Khái niệm tư duy thiết kế Cum từ: “tư duy thiết kế” được dich từ tiếng anh: “Design Thinking”. Tư duy thiết kế (TDTK) được nhiều nhà khoa học, nhà kinh doanh, các kỹ sư nghiên cứu và tiếp cận ở nhiều khía cạnh khác nhau trong mỗi lĩnh vực. Trong khóa luận nảy, chúng tôi tiếp cận khái nhiệm “tu duy thiết kế" trong ngữ cảnh giáo dục.
Theo (Tshiteem, 2017): “Design Thinking is Human-centered problem solving tool which emphasize on Empathy, Collaboration, Co-creation and Stakeholder feedback to unlock Creativity and Innovation, which devises feasible and viable Big idea/solutions”. Tam dich: “tư duy thiết kế là công cụ giải quyết van dé lay con người làm trung tâm, nhẫn mạnh vào sự đồng cảm, sự hợp tác, cùng nhau sáng tạo và sự trao đổi giữa các người tham gia (nhà thiết kế, người thụ hưởng) dé mở khóa óc sáng tạo và đôi mới, điều này khiến các giải pháp khả thi hơn và đạt được thành công". Theo công ty Institut Dominicain d'Etudes Orientales du Caire (IDEO, 2013): “Design thinking is about believing we can make a diference, and having an intentional process in order to get to new, relevant solutions that create positive impact. It gives you a process for transforming difcult challenges into opportunities for design”.
Tam dich: “tu duy thiết kế là việc tin rằng chúng ta có thê tạo ra sự khác biệt và thực hiện một quy trình có chủ đích dé đạt được các giải pháp mới, phù hợp, tạo ra tác động tích cực. Tư duy thiết kế dẫn HS từ những thách thức khó khăn thành cơ hội cho việc thiết kế”. Khi xem xét khái niệm tư duy thiết kế dưới quan điểm này, tác giả (Tạ Thanh Trung, 2020) cho rằng: Cách tiếp cận nay sẽ không đưa ra một câu trả lời cho một van đề. Thay vào đó, thông qua việc tuân theo quy trình thiết kế phi tuyến tính, lặp đi lặp lại giữa cảm hứng, ý tưởng và thực hiện, quá trình thiết kế sẽ không ngừng khám pha được các giải pháp mới cho van dé Tu duy thiết kế (Design Trinking) So đồ I.I Mô hình tư duy thiết kế Nguồn: (Danah Henriksen, 2019) Ban dich theo (Ta Thanh Trung, 2020) Như vay, trong giới han khóa luận, chúng tôi tiếp cận TDTK như một quy trình day học: fe duy thiết kế là mot quy trình dạy học giúp HS giải quyết van dé thực tiên, từ chỗ đồng cam để xác định được van đề; hình thành ]' tưởng; dé xuất, lựa chọn gidi pháp có tính mới, sang tạo và thực hiện sản phẩm dựa trên như cau cua một đổi tượng trong bồi cảnh cu thể.
Theo (IDEO, 2013) mọi quy trình thiết kế đều bat đầu với một vấn dé cụ thé và có chủ đích cần giải quyết: điều này được gọi là một van dé thiết kế. Một vẫn đề thiết kế phải dé tiếp cận, dé hiểu, có thé tìm ra phương án dé giải quyết và nó phải được xác định phạm vi rõ rang, không quá lớn hoặc quá nhỏ, không quá mơ hỗ hoặc quá đơn giản. Đặc trưng của tư duy thiết kế Theo (Annette Diefenthaler, 2017): “Four mindsets typically guide the behavior of a designer and offer the potential for encouraging a mindshift to design thinking”. Tam dich: “Bốn loại tư duy đặc trưng chi phối hành vi của một nha thiết kế và đem lại tiềm năng để họ thực hiện công việc thiết kế".
Bốn loại tư duy kể trên gồm: (1) Lay con người la trung tâm (Human-Centered); (2) Dé cao sự hợp tác (Collaborative); (3) Nêu cao tỉnh thần lạc quan (Optimistic); (4) Học tập dựa trên trải nghiệm (Experimental). % Lấy con người là trung tâm Theo (Brown, 2009): “Being human-centered is foundational to the mindset of designers”, tam địch: “Lay con người lam trung tâm là nén tang cho tư duy của các nhà thiết kế`. Theo (Annette Diefenthaler, 2017): “A bielief that meaningful and inovative solutions are rooted in empathy”, tạm dich: “Lay con người làm trung tâm nghĩa la có niềm tin rằng những giải pháp ý nghĩ va sáng tạo được bắt nguồn từ su đồng cảm”. Đây chính là nguồn cảm hứng và là cơ sở đẻ tạo ra những giải pháp phù hợp với đối tượng sử dụng sản pham của một nha thiết kế.
Việc tìm hiéu nhu cầu của người sử dụng bắt dau từ sự lắng nghe họ, quan sát trong bối cảnh làm việc của họ dé cải tiễn san pham hoặc thiết kế một sản phâm mới (ví dụ: quan sát người đầu bếp sử dụng dụng cụ nấu ăn, quan sát vận động viên điền kinh khi sử dụng giày thé thao,. Trong ngữ cảnh giáo dục, đặc điểm nay được thé hiện ở GV thông qua hoạt các động giáo dục và dạy học. GV cần tìm hiệu những kiến thức. kĩ năng, phâm chat ma mỗi HS cần có dé học tập và làm việc.
Bên cạnh đó, GV phải linh hoạt khi sử dụng các PP, KTDH đề tô chức day học các kiến thức tương ứng với từng đối tượng HS, lắng nghe những ý kiến phản hôi của HS về bài giảng của minh dé từ đó có những điều chính phù hợp. % Đề cao sự hợp tác Theo (Annette Diefenthaler, 2017): “Collaborative is an attitude that regards more minds as better than one”, tạm dịch: “Hợp tac là một thai độ coi trọng ý tưởng của nhiều thành viên hơn là một”. Trong các giai đoạn của QT TDTK (trình bay rõ ở phan sau), việc thiết kế sẽ có những giai đoạn cần dé xuất ý tưởng dé giải quyết van dé, tìm nguồn thông tin, bản thiết kế cho sản phẩm.và lựa chọn giải pháp cho mỗi hoạt động đó. Do đó cần có sự phối hợp của nhiều người trong vi¢c giải quyết một vấn đề thiết kế.
Mặt khác, làm việc nhóm cũng giúp mỗi cá nhân HS rèn luyện, phát triển được NL giao tiếp — hợp tác, đáp ứng yêu cau trong chương trình Giáo dye pho thông tong thé 2018. Nêu cao tỉnh than lạc quan Theo (Annette Diefenthaler, 2017): “Optimistic is the beliefin your agency to create a diferent outcome”, tạm dich: “Lac quan là niém tin vao chinh ban dé tao ra một kết qua khác biệt”. Thái độ lạc quan giúp HS nhận thấy bản thân như như những người thiết kế. Đầu tiên, thái độ lạc quan giúp các em có niềm tin vào khả năng của ban thân.
Khi tiếp nhận van dé thiết kế có thé chính các em sẽ không nghĩ ra được một ý tưởng thiết kế nào. Tuy nhiên, nếu em HS đã nhiều lan sử dụng QT TDTK thì các em sẽ có niềm tin rằng chắc chin mọi van đề đều có cách giải quyết chỉ cần bản thân luôn tim toi những ý tưởng đẻ giải quyết van đề (việc này có thé mat nhiều thời gian). Tiếp đến, thái độ lạc quan có thê đem đến cho HS bài học rằng dẫu ý tưởng thiết kế của bản thân không được triển khai hoặc ý tưởng bị thất bại sau khi tạo mẫu thì HS vẫn có cơ hội dé lam tốt hơn ở những bai học sau. Điều này thé hiện rõ trong giai đoạn lên ý tưởng trong QT TDTK.
NL của HS có thê đáp ứng mục tiêu của hoạt động học hoặc không. Tuy nhiên, HS vẫn biết va có niềm tin rằng chắc chắn phải có một giải pháp hiệu quả dé giải quyết vấn dé mà HS được giao nhiệm vụ. s* Học tập dựa trên trải nghiệm Theo (Annette Diefenthaler, 2017): “Experimantal is an attitude that learning includes iteration and failure”, tam dich: ' “Thử nghiệm là một thai độ khi học bao gom lặp đi lặp lại va that bại". Học tập dựa trên trải nghiệm là “chiếc chia khóa thành công” cho những người làm công việc thiết kế.
Thực tế, việc trải nghiệm thường được hiểu là HS sẽ tham gia vào một hoạt động nào đó để hoàn thành một nhiệm vụ nào đó. Ví dụ: học sinh thực hiện thí nghiệm vật lí để phát hiện ra một kiến thức vật lí mới, hay thực hiện trồng giá từ hạt đậu nanh, .Sau khi hoàn thành các công việc đó, HS đã có thêm trải nghiệm về các lĩnh vực khác nhau. Trong quá trình trải nghiệm, sẽ không it HS không thé hoàn thành nhiệm vụ của mình. Đây cũng là một cơ hội dé HS nhìn nhận vào chính những thất bại của mình dé thay đôi suy nghĩ, điều chỉnh hành động.
Theo thời gian HS dan tích lũy kinh nghiệm, rèn luyện được sự điềm tĩnh của mình giúp HS không mắc phải những sai lầm đã từng phạm trước đó, cần lưu ý rằng việc trải nghiệm của HS không phải là sự ngẫu nhiên mà nằm trong kế hoạch sư phạm của người giảng dạy và có kế hoạch, mục tiêu đạy học cụ thẻ. Trong quá trình dạy học, GV có thể cho phép HS sáng tạo khi đề xuất các ý tướng nhưng đông thời cũng phải định hướng cho các em sử dụng những giải pháp khoa học, kiến thức chính xác. Dạy học theo tư duy thiết kế ở trường trung học pho thông 10 Trong ngữ cảnh giáo dục, TDTK được vận dụng như một quy trình day hoc nhằm phát trién các NL của người học ở thé ki XXI (Sandorova, Design thinking - A revolutionary new approach in tourism cducation, 2020). Quy trình này được vận dụng một cách linh hoạt và phi tuyên tính (không theo trình tự và có thé thực hiện đồng thời hai giai đoạn).
Theo (Sandorova, Design Thinking Gives STEAM to Teaching: A Framework That Breaks Disciplinary Boundaries, 2019) quy trình nay còn có thé sử đụng cho GV: “While design process has increasingly been noted as a framework for integrating STEAM, it may also be a productive avenue for teachers to use in their thinking processes as they look toward curriculum design”. Tam dich: “Mac dù QT TDTK ngày càng được coi là một cach thức đề tích hợp STEAM, nhưng nó cũng có thé là một con đường hiệu quả dé giáo viên sử dụng khi họ cần thiết kế chương trình giáng dạy/ kế hoạch bài day”. Theo (Stefanie Panke, 2019) Hiện nay, có rất nhiều quy trình tư duy thiết kế khác nhau trong giáo dục. Tuy nhiên, trong giới hạn khóa luận, chúng tôi sẽ trình bày QT TDTK của học viện thiết kế Hasso-Plattner (Plattner, An Introduction to Design Thinking PROCESS GUIDE, 2010) thuộc trường dai học Stanford (Hasso Plattner Institute of Design) thường được gọi là d.School hay còn gọi la Stanford model (day là quy trình được thiết kế cho các trẻ em trong chương trình phổ thông).