Chương 1 CƠ SỞ LÍ THUYẾT CỦA ĐỀ TÀI 1. Khái quát về từ Mong muốn của các nhà ngôn ngữ học là đưa ra một định nghĩa chung, khái quát, đầy đủ về từ cho tất cả mọi ngôn ngữ, tiếc thay, cho đến nay vẫn chưa đạt được và có lẽ sẽ không thể đạt được. Chúng ta đồng tình với L.Serba khi ông cho rằng từ trong các ngôn ngữ khác nhau, sẽ khác nhau …, và không thể có được một khái niệm về từ nói chung. Tuy thế, để có cơ sở tiện lợi cho việc nghiên cứu, người ta vẫn thường chấp nhận một khái niệm nào đó về từ tuy không có sức bao quát toàn thể nhưng cũng chỉ để lọt ra ngoài phạm vi của nó một số lượng không nhiều các trường hợp ngoại lệ.
[3 ; 135] Theo GS Nguyễn Thiện Giáp: Từ trong hệ thống từ vựng tiếng Việt có những đặc trưng sau: + Chúng đều là những cấu trúc vừa có tính hoàn chỉnh, không thể xen thêm một đơn vị nào vào giữa, vừa có tính độc lập, có thể tách rời khỏi những đơn vị khác một cách dễ dàng. Về mặt ngữ âm, chúng đều là những âm tiết cấu tạo theo đúng nguyên tắc ngữ âm của tiếng Việt hiện đại. Về mặt chính tả, chúng được viết liền thành một khối theo đúng quy tắc chính tả hiện hành. + Chúng đều biểu thị những sự vật, hiện tượng và những quan hệ của thực tại.
Có những đơn vị vừa có chức năng định danh, lại vừa có chức năng dẫn xuất, vừa có chức năng biểu niệm như: nhà, cây, đi, cười, đẹp,… Có những đơn vị vừa có chức năng dẫn xuất và chức năng biểu niệm mà không có chức năng định danh như: và, với, tuy, nhưng,… Lại có những đơn vị chỉ dẫn xuất tình thái, cảm xúc nào đó trong thực tại chứ không có chức năng định danh như: à, ôi, ối, ái,… Những đơn vị như: tôi, nó, đấy, đó, nọ, kia,… tự thân không biểu thị khái niệm, cũng không dẫn xuất, định danh cái gì cả, những chúng vẫn có ý nghĩa và ý nghĩa đó chỉ bộc lộ trong những hoàn cảnh nhất định. 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com + Các đơn vị như vừa nêu trên đều tham gia cấu tạo câu nói. Tùy theo tính chất, ý nghĩa của mình, chúng có thể đảm nhận những chức năng ngữ pháp khác nhau ở trong câu. Những đơn vị như: bàn, nhà, đi, đẹp, tốt,… có thể làm chủ ngữ, vị ngữ, bổ ngữ,…Những đơn vị như: của, để, vì, bởi, nên, và, với, mà, thì,… làm chức năng liên kết các từ, nhóm từ hay mệnh đề trong câu.
Còn những đơn vị như: à, hả, ái, ối, ôi, ơi,… thì đem lại cho câu nói tính tình thái nào đó. Những đặc trưng của cả mặt phương tiện vật chất lẫn mặt chức năng, ý nghĩa trên đây đã làm cho những đơn vị đang xét trở thành một loại đơn vị thực tại, hiển nhiên nhất đối với mỗi người nói tiếng Việt, tức là trở thành từ của tiếng Việt. Từ trong hệ thống từ vựng tiếng Việt có những đặc điểm sau: + Từ tiếng Việt là đơn vị nhỏ nhất có nghĩa, mỗi từ là một âm tiết, nếu phân tích từ thành những bộ phận nhỏ hơn nữa thì chỉ có thể thu được những âm vô nghĩa. + Từ tiếng Việt có thể có biến thể ngữ âm (ví dụ: lời và nhời, trăng và giăng, nhăn và dăn) nhưng không có biến thể hình thái học.
Dù đứng trong câu hay đứng lẻ một mình, bao giờ chúng cũng giữ nguyên một hình thức. + Ý nghĩa từ vựng và ý nghĩa ngữ pháp gắn bó chặt chẽ với nhau ở trong từ tiếng Việt. Vì vậy, ý nghĩa của từ tiếng Việt thường có tính chất trừu tượng, khái quát. Chỉ khi kết hợp với các từ khác, ý nghĩa của nó mới được cụ thể hóa.
[19 ; 67] Theo Mai Ngọc Chừ, Vũ Đức Nghiệu, Hoàng Trọng Phiến, từ trong tiếng Việt có thể được phát biểu như sau: Từ là đơn vị nhỏ nhất có nghĩa, có kết cấu vỏ ngữ âm bền vững, hoàn chỉnh, có chức năng gọi tên, được vận dụng độc lập, tái hiện tự do trong lời nói để tạo câu. Các lớp từ vựng tiếng Việt Do tiếng Việt vốn có một khối lượng từ ngữ khá đồ sộ nên cần phải sắp xếp từ vựng thành một hệ thống cụ thể để tạo điều kiện cho việc học tập và nghiên cứu tiếng Việt, đồng thời giúp cho tiếng Việt hoàn thiện và phát triển. Hệ thống đó chính là các lớp từ. Lớp từ vựng tiếng Việt được hiểu là một tập hợp các đơn vị gồm nhiều đặc điểm giống nhau về nguồn gốc, phạm vi sử dụng, mức độ sử dụng và về mặt phong 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com cách học.
Nhìn chung, các lớp từ vựng tiếng Việt có thể được trình bày theo mô hình sau: Các từ thuần Việt Về mặt nguồn gốc Các từ ngữ gốc Hán Các từ ngữ gốc Ấn - Âu Từ vựng toàn dân Từ địa phương Về mặt phạm vi sử dụng Tiếng lóng Lớp từ vựng Từ ngữ nghề nghiệp tiếng Việt Thuật ngữ Từ vựng tích cực và từ vựng tiêu cực Về mặt mức độ sử dụng Từ ngữ cổ và từ ngữ lịch sử Từ ngữ mới và ý nghĩa mới Từ vựng trung hòa Về mặt phong cách học Từ vựng hội thoại Từ vựng sách vở 1. Các lớp từ vựng tiếng Việt xét về mặt nguồn gốc 1. Các từ thuần Việt và giải thuyết về nguồn gốc tiếng Việt Theo Nguyễn Thiện Giáp: Ngoài những từ có thể xác định chắc chắn là tiếng Việt tiếp nhận của tiếng Hán và các ngôn ngữ Ấn - Âu, tất cả các từ còn lại thường được gọi là các từ thuần Việt. Những từ được gọi là thuần Việt thường trùng với bộ phận từ vựng gốc của tiếng Việt, chúng biểu thị những sự vật, hiện tượng cơ bản nhất, chắc chắn phải tồn tại từ rất lâu.
Các nhà ngôn ngữ học đã đưa ra nhiều giải thuyết khác nhau về nguồn gốc của tiếng Việt. Có ba khuynh hướng chính như sau: - Cho tiếng Việt bắt nguồn từ các ngôn ngữ Môn - Khơme (Nam Á). - Cho tiếng Việt bắt nguồn từ các ngôn ngữ Tày - Thái. - Cho tiếng Việt sinh ra do sự hỗn hợp của ngôn ngữ Nam Á và Tày - Thái.
[19 ; 236] Theo Mai Ngọc Chừ, Vũ Đức Nghiệu, Hoàng Trọng Phiến: Lớp từ thuần Việt là các từ gốc Nam Phương, bao gồm cả Nam Á và Tày Thái. Những kết quả 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com nghiên cứu gần đây chp thấy rằng nhiều bộ phận, nhiều nhóm của lớp từ thuần Việt có những tương ứng, những quan hệ hết sức phức tạp với nhiều ngôn ngữ hoặc nhóm ngôn ngữ trong vùng: - Tương ứng Việt - Mường: vợ, chồng, ông, ăn, uống, cười, bơi, nằm, khát, trốn, gáy, mỏ, môm, rá, chum, nồi, vại, váy, cơm, cây, củ, rạ, mây, cau, cỏ, gà, trứng,… - Tương ứng Việt - Tày Thái: đường, rẫy, bắt, bóc, buộc, ngắt, gọt, đẵn, bánh, vắng, mo, ngọn, méo, vải, mưa, đồng, móc, nụ, gà, chuột,… - Tương ứng với các ngôn ngữ nhóm Việt - Mường đồng thời với nhóm Bru - Vân Kiều: trời, trăng, đêm, bụng, ruột, kéo, bốc, ngáy, khạc, củi, hột, rắn, khô,… - Tương ứng với nhóm ngôn ngữ Môn - Khmer ở Tây Nguyên Việt Nam: trời, mây, mưa, sấm, sét, bàn, chân, đầu gối, da, óc, thịt, mỡ, bố, mẹ, mày, nó, nuốt, cắn, nói, kêu, còi, mặc, nhắm, bếp, chổi, đọi,… - Tương ứng với nhóm Việt - Mường và các ngôn ngữ Môn - Khmer khác: sao, gió, sông, đất, nước, lửa, đá, người, tóc, mặt, mắt, mũi răng, lưỡi, cổ, lưng, tay, chân, máu, xương, cằm, đít, con, cháu,… - Tương ứng với nhóm Việt Mường và Tày Thái: bão, bể, bát,dao, gạo, ngà voi, than, phân, cày, đen, gạo, giặt,… - Tương ứng Việt - Inddooneexxia: bố,ba, bu, mẹ, bác, ông, cụ, đất, trâu, sông, cái, cây, núi, đồng, mất, nghe, đèn, đêm, trắng, tuổi, ăn, cướp, bướm, sáng, rất, nấu, này, là, rằng, ngày,… [3 ; 218] 1. Các từ ngữ gốc Hán a. Quá trình tiếp xúc giữa tiếng Việt và tiếng Hán trong lịch sử Tiếng Việt và tiếng Hán đều là những ngôn ngữ có lịch sử lâu đời.
Sự tiếp xúc giữa hai ngôn ngữ này bắt đầu khi phong kiến nhà hán của Trung Quốc xâm chiếm nước ta, biến nước ta thành những quận, huyện của chúng. Trong quá trình tiếp xúc giữa hai ngôn ngữ, tiếng Việt đã tiếp nhận một khối lượng từ ngữ rất lớn của tiếng Hán để làm giàu thêm kho từ ngữ của mình. Hiện tượng tiếp nhận này diễn ra không giống nhau trong các thời kì, Nếu hiện tượng tiếp nhận từ ngữ Hán của tiếng Việt ở giai đoạn đầu chỉ có tính chất lẻ tẻ, rời rạc, chủ yếu bằng con đường khẩu ngữ qua sự tiếp xúc trực tiếp của người Việt với người 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Hán thì đến đời Đường, tiếng Việt đã tiếp nhận các từ ngữ Hán một cách có hệ thống bằng con đường sách vở. Tuy nhiên, chỉ được phép coi là từ Việt gốc Hán những từ Hán nào thực sự nhập vào hệ thống từ vựng tiếng Việt, chịu sự chi phối của các quy luật ngữ âm, ngữ nghĩa và ngữ pháp của tiếng Việt.
Như vậy, từ gốc Hán trong tiếng Việt sẽ gồm hai bộ phận chính: + Các từ ngữ gốc Hán đọc theo âm Hán - Việt, gọi tắt là các từ Hán - Việt. + Các từ ngữ gốc Hán không đọc theo âm Hán - Việt. Các từ ngữ gốc Hán đọc theo âm Hán - Việt (các từ Hán - Việt) Các từ ngữ tiếp nhận của tiếng Hán đọc theo âm Hán - Việt là bộ phận chủ yếu trong các từ ngoại lai của tiếng Việt. Những từ ngữ Hán - Việt được tiếp nhận từ đời Đường và các triều đại tiếp theo cho đến ngày nay.
Do có quan hệ trực tiếp hoặc gián tiếp một cách lâu dài với tiếng Hán nên tiếng Việt đã tiếp nhận có hệ thống một khối lượng to lớn các từ ngữ của tiếng Hán thuộc đủ mọi lĩnh vực hoạt động. Ví dụ: chính trị có: hoàng thượng, chế độ, triều đình, giám sát, áp chế, bá chủ, dân chủ, xã hội, cách mạng,… Kinh tế có: công nghiệp, nông nghiệp, thương mại, nội thương, ngoại thương, xuất khẩu, nhập khẩu, năng suất, thặng dư, lợi nhuận,… Y học có: viêm nhiệt, thương hàn, chướng khí, thương tích, bệnh nhân, bệnh viện,… … Đối với các từ tiếp nhận kiểu này cần phân biệt hai loại nhỏ: - Những từ tiếng Việt trực tiếp nhận của tiếng Hán Loại này chiếm tuyệt đại đa số các từ Hán - Việt. Nghĩa của các từ Hán - Việt loại này có quan hệ với nghĩa gốc của các từ Hán tương ứng.