Đặc điểm lâm sàng và kết quả phẫu thuật chỉnh trục xương chi dưới ở bệnh nhân tạo xương bất toàn

Luận án tiến sĩ phân tích đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và kết quả phẫu thuật chỉnh trục xương chi dưới ở bệnh nhân tạo xương bất toàn.

Trường đại học

Học viện Quân y

Chuyên ngành

Ngoại khoa

Tác giả

Trần Quốc Doanh

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ y học

2020

186
2
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN

1.1. Bệnh tạo xương bất toàn

1.1.1. Tình hình nghiên cứu

1.1.1.1. Trên thế giới
1.1.1.2. Tại Việt Nam

1.1.2. Đặc điểm về dịch tễ

1.1.2.1. Trên thế giới
1.1.2.2. Tại Việt Nam

1.1.3. Đặc điểm di truyền

1.1.3.1. Di truyền trội
1.1.3.2. Di truyền lặn

1.1.4. Đặc điểm lâm sàng và phân loại

1.1.4.1. Lâm sàng
1.1.4.2. Phân loại bệnh tạo xương bất toàn
1.1.4.2.1. Týp I
1.1.4.2.2. Týp II
1.1.4.2.3. Týp III

1.2. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

1.2.1. Đối tượng, thời gian, địa điểm nghiên cứu

1.2.2. Tiêu chuẩn chọn bệnh nhân nghiên cứu

1.2.3. Tiêu chuẩn điều trị phẫu thuật

1.2.4. Tiêu chuẩn loại trừ

1.2.5. Phương pháp nghiên cứu

1.2.5.1. Thiết kế nghiên cứu
1.2.5.2. Mẫu nghiên cứu
1.2.5.3. Nội dung nghiên cứu
1.2.5.4. Chỉ tiêu nghiên cứu mục tiêu 1
1.2.5.5. Chỉ tiêu nghiên cứu mục tiêu 2
1.2.5.6. Các bước tiến hành
1.2.5.6.1. Thu thập thông tin
1.2.5.6.2. Lập hồ sơ bệnh án nghiên cứu
1.2.5.6.3. Lập phiếu đánh giá kết quả điều trị phẫu thuật
1.2.5.7. Phương pháp xử lý số liệu
1.2.5.8. Phương pháp khắc phục sai lệch
1.2.5.8.1. Kiểm soát sai lệch chọn lựa
1.2.5.8.2. Kiểm soát sai lệch thông tin
1.2.5.9. Đạo đức trong nghiên cứu

1.3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

1.3.1. Đặc điểm lâm sàng và hình ảnh Xquang xương dài, xương sọ, xương cột sống, xét nghiệm sinh hóa máu và điện giải đồ ở các bệnh nhân tạo xương bất toàn

1.3.1.1. Tuổi và giới
1.3.1.2. Tiền sử gia đình
1.3.1.3. Tiền sử: Gãy xương, số lần gãy, tần suất gãy và vị trí gãy xương
1.3.1.4. Phương pháp điều trị gãy xương chi dưới trong các lần gãy trước
1.3.1.5. Triệu chứng cơ năng ở bệnh nhân tạo xương bất toàn
1.3.1.6. Triệu chứng thực thể ở bệnh nhân tạo xương bất toàn
1.3.1.7. Tình trạng vận động của bệnh nhân tại thời điểm vào viện
1.3.1.8. Hình ảnh Xquang: Xương dài chi trên và chi dưới, xương cột sống, xương sọ
1.3.1.9. Kết quả một số xét nghiệm máu
1.3.1.10. Kết quả xét nghiệm điện giải đồ

1.3.2. Kết quả điều trị biến dạng xương chi dưới ở bệnh tạo xương bất toàn bằng kết xương bên trong có sử dụng bộ dụng cụ tự tạo

1.3.2.1. Kết quả gần
1.3.2.2. Đánh giá kết quả xa sau phẫu thuật cắt xương chỉnh trục
1.3.2.3. Kết quả phẫu thuật theo hệ thống tính điểm của El Sobk

HẠN CHẾ CỦA ĐỀ TÀI

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH CÔNG BỐ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Đặt vấn đề

Bệnh tạo xương bất toàn (TXBT) là một rối loạn bẩm sinh nghiêm trọng, gây ra bởi đột biến gen collagen loại I. Bệnh nhân mắc bệnh này thường gặp phải tình trạng xương giòn, dễ gãy và biến dạng. Việc điều trị chủ yếu tập trung vào các biện pháp hỗ trợ, như bó bột và giảm đau, nhưng không cải thiện chức năng vận động. Nghiên cứu phẫu thuật chỉnh trục xương chi dưới nhằm mục đích cải thiện chất lượng cuộc sống cho bệnh nhân. Các phương pháp phẫu thuật như cắt xương chỉnh trục (CXCT) và kết hợp xương (KHX) đã được áp dụng, nhưng vẫn cần nhiều nghiên cứu để hoàn thiện kỹ thuật và chỉ định phẫu thuật.

1.1. Tình hình nghiên cứu

Trên thế giới, nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng phẫu thuật CXCT có thể giúp giảm số lần gãy xương và cải thiện chức năng vận động cho bệnh nhân TXBT. Tại Việt Nam, nghiên cứu về bệnh này còn hạn chế, chủ yếu tập trung vào lâm sàng và xét nghiệm di truyền. Một số nghiên cứu gần đây đã áp dụng các kỹ thuật phẫu thuật mới, như sử dụng đinh nội tủy để cải thiện kết quả điều trị. Tuy nhiên, việc áp dụng các phương pháp này vẫn còn nhiều thách thức và cần được nghiên cứu thêm.

II. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu này được thực hiện tại Bệnh viện Quân y 7 A, với đối tượng là bệnh nhân mắc bệnh TXBT. Tiêu chuẩn chọn bệnh nhân bao gồm những người có triệu chứng lâm sàng rõ ràng và đã được chẩn đoán xác định. Phương pháp nghiên cứu bao gồm thu thập thông tin lâm sàng, cận lâm sàng và kết quả phẫu thuật. Các chỉ tiêu nghiên cứu được xác định rõ ràng, nhằm đánh giá hiệu quả của phẫu thuật CXCT và KHX. Việc lập hồ sơ bệnh án và phiếu đánh giá kết quả điều trị cũng được thực hiện một cách hệ thống.

2.1. Tiêu chuẩn chọn bệnh nhân

Tiêu chuẩn chọn bệnh nhân bao gồm những người có tiền sử gãy xương nhiều lần, triệu chứng lâm sàng rõ ràng và đã được chẩn đoán bệnh TXBT. Các bệnh nhân được phân loại theo mức độ nặng nhẹ của bệnh, nhằm đảm bảo rằng các phương pháp phẫu thuật được áp dụng phù hợp với tình trạng của từng bệnh nhân. Việc lựa chọn bệnh nhân cũng dựa trên các yếu tố như tuổi tác, giới tính và tiền sử gia đình, nhằm đánh giá toàn diện về bệnh lý.

III. Kết quả nghiên cứu

Kết quả nghiên cứu cho thấy phẫu thuật CXCT và KHX mang lại hiệu quả tích cực cho bệnh nhân TXBT. Các triệu chứng lâm sàng được cải thiện rõ rệt, với tỷ lệ gãy xương giảm đáng kể sau phẫu thuật. Hình ảnh Xquang cho thấy sự phục hồi cấu trúc xương và cải thiện chức năng vận động. Đặc biệt, việc sử dụng bộ dụng cụ tự tạo trong phẫu thuật đã giúp nâng cao hiệu quả điều trị. Tuy nhiên, vẫn cần theo dõi lâu dài để đánh giá kết quả xa và phát hiện các biến chứng có thể xảy ra.

3.1. Đánh giá kết quả phẫu thuật

Đánh giá kết quả phẫu thuật dựa trên các tiêu chí như tỷ lệ gãy xương sau phẫu thuật, mức độ cải thiện chức năng vận động và sự hài lòng của bệnh nhân. Kết quả cho thấy tỷ lệ gãy xương giảm đáng kể, với nhiều bệnh nhân có thể trở lại hoạt động bình thường. Hệ thống tính điểm của El Sobk được áp dụng để đánh giá mức độ cải thiện, cho thấy sự tiến bộ rõ rệt trong tình trạng sức khỏe của bệnh nhân sau phẫu thuật.

IV. Hạn chế của đề tài

Mặc dù nghiên cứu đã đạt được nhiều kết quả khả quan, nhưng vẫn còn một số hạn chế cần được khắc phục. Đầu tiên, số lượng bệnh nhân tham gia nghiên cứu còn hạn chế, điều này có thể ảnh hưởng đến tính chính xác của kết quả. Thứ hai, thời gian theo dõi sau phẫu thuật chưa đủ dài để đánh giá toàn diện về hiệu quả và các biến chứng có thể xảy ra. Cuối cùng, cần có thêm các nghiên cứu đa trung tâm để xác định rõ hơn về hiệu quả của các phương pháp phẫu thuật trong điều trị bệnh TXBT.

4.1. Đề xuất nghiên cứu tiếp theo

Đề xuất nghiên cứu tiếp theo nên tập trung vào việc mở rộng quy mô nghiên cứu, bao gồm nhiều bệnh viện và trung tâm y tế khác nhau. Cần thiết lập một hệ thống theo dõi lâu dài để đánh giá hiệu quả của phẫu thuật và phát hiện sớm các biến chứng. Ngoài ra, nghiên cứu cũng nên xem xét các yếu tố di truyền và môi trường ảnh hưởng đến tiến triển của bệnh, nhằm tìm ra các phương pháp điều trị hiệu quả hơn cho bệnh nhân TXBT.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

25/01/2025
Luận án tiến sĩ nghiên cứu đặc điểm lâm sàng cận lâm sàng và kết quả phẫu thuật chỉnh trục xương chi dưới ở bệnh nhân tạo xương bất toàn

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN 1. Bệnh tạo xương bất toàn 1. Tình hình nghiên cứu + Trên thế giới Bệnh được phát hiện khoảng từ 1.000 trước Công nguyên sau khi khôi phục lại từng phần còn lại hộp sọ của xác ướp Ai Cập trong bảo tàng nước Anh [20], [21], khi nghiên cứu bằng phân tích ADN (Acid Deoxiribonucleic) đó là phần hộp sọ của một trẻ sơ sinh bị bệnh TXBT. Phần còn lại của hộp sọ trẻ sơ sinh bị bệnh tạo xương bất toàn với hình ảnh sọ biến dạng "Tam O'Shanter " * Nguồn: Lowenstein E.

Năm 1833 Lobstein đặt ra thuật ngữ “Osteopsathyrosis” [22] – TXBT (bệnh Lobstein) và ông là một trong những người đầu tiên hiểu chính xác nguyên nhân của bệnh này. Các tên gọi khác của bệnh: Bệnh giòn xương, hội chứng củng mạc màu xanh và cũng được sử dụng trong các nghiên cứu trên thế giới [23]. luan an 4 + Tại Việt Nam Hiện nay ở Việt Nam, số người mắc bệnh TXBT không nhiều nên số lượng nghiên cứu về bệnh TXBT ở Việt Nam còn hạn chế, chủ yếu nghiên cứu về mặt lâm sàng và xét nghiệm đột biến COL1A1, COL1A2 [24]. Đặc điểm về dịch tễ + Trên thế giới - Tỷ lệ mắc khoảng 6-7/100.000 số ca sinh.

Tỷ lệ mắc và tỷ lệ mắc phải khác nhau ở mỗi týp [20], [25], [26]. Bệnh TXBT là bệnh lý hiếm gặp, tỷ lệ mắc bệnh dao động trong khoảng từ 1/10. - Năm 1979 Sillence và cs báo cáo: Týp I: Tỷ lệ mắc 3 - 4/100.000 và tỷ lệ mắc phải bệnh là 3,5/100.000 Týp II: Tỷ lệ mắc 1 - 2/100.000 (không có giá trị do BN tử vong sớm) Týp III: Tỷ lệ 1 - 2/100.000 Týp IV: Chưa có số liệu chắc chắn về tỷ lệ mắc [20] - Nam Phi: Ước tính tỷ lệ mắc bệnh TXBT týp III trong chủng tộc người da đen ở Nam Phi ở mức 1/125. Ước tính đối với tất cả các týp tỷ lệ lưu hành từ 1/10.

- Khu vực Châu Á, tỷ lệ mắc bệnh khác nhau tùy từng tác giả: Ở Ấn Độ năm 1960, tỷ lệ mắc bệnh là 1/25.000 trẻ sơ sinh; năm 1961 là 1/21. Tại Hàn Quốc (1970) có 5 trường hợp được báo cáo [29]. + Tại Việt Nam Hiện nay chưa có số liệu thống kê về tỷ lệ mới mắc hoặc tỷ lệ lưu hành bệnh theo báo cáo của Vũ Chí Dũng và cs [30], có 31 BN được chẩn đoán bệnh TXBT từ năm 2000 – 2004 tại Bệnh viện Nhi Trung ương: Týp III có tỷ lệ cao nhất 77,5% (24/31BN). Đặc điểm di truyền 1.

Di truyền trội - Nhiều thế hệ bị mắc bệnh. Nguy cơ mắc bệnh ở nam và nữ là như nhau. luan an 5 - Khi bố hoặc mẹ bị bệnh thì nguy cơ con bị bệnh là 50% và không bị bệnh là 50%. Bố truyền bệnh cho con trai [31].

Di truyền lặn - Nguy cơ mắc bệnh cao ở những anh chị em ruột của người bị bệnh. - Nam và nữ có nguy cơ mắc bệnh như nhau. - Nếu cả bố và mẹ mang gien lặn bị bệnh thì mỗi lần mang thai có 25% khả năng sinh con có cả hai gien bình thường, 50% nguy cơ con mang gien bị bệnh (trở thành người lành mang gen bệnh) và 25% nguy cơ con bị bệnh. - Kết hôn cùng huyết thống làm tăng tỷ lệ biểu hiện bệnh.

Đặc điểm lâm sàng và phân loại 1. Lâm sàng Biểu hiện lâm sàng phụ thuộc vào từng týp của bệnh TXBT nhưng xương giòn, dễ gãy xương, biến dạng xương dài là triệu chứng phổ biến của tất cả các týp. Mức độ nặng nhẹ của bệnh TXBT cũng rất khác nhau phụ thuộc vào từng thể đột biến gien [32]. Đặc trưng nổi bật về lâm sàng của bệnh TXBT là các xương dài dễ bị gãy, gãy xương xảy ra ở mọi lứa tuổi, gãy xương ngay từ trong giai đoạn mang thai, gãy xương tự phát hoặc tái phát nhiều lần gây biến dạng xương dài làm giảm chức năng vận động, củng mạc xanh (màu xanh da trời), tạo răng bất toàn (bệnh di truyền đặc trưng bởi sự tạo thành men răng bất thường với đặc điểm lâm sàng bao gồm sự thay đổi trong màu sắc của răng từ màu nâu sang màu xanh, đôi khi được mô tả như hổ phách hoặc màu xám với một ánh trắng), giảm hoặc mất thính lực và các triệu chứng khác: Khuôn mặt hình tam giác, vẹo cột sống, khớp và dây chằng lỏng lẻo, lồng ngực hình thùng, cơ thể chậm phát triển, tầm vóc thường nhỏ bé ở týp nặng, cân nặng lúc mới sinh có thể giống trẻ bình thường.

Các triệu chứng táo bón, chóng mặt, đổ mồ hôi, thoát vị thường gặp ở những BN týp nặng [3]. luan an 6 Ảnh 1. Tạo ngà răng bất toàn * Nguồn: Jesudass G. Phân loại bệnh tạo xương bất toàn Phân loại BN TXBT nhằm giúp ích trong việc đánh giá, tiên lượng và hiệu quả của các phương pháp điều trị.

Bảng phân loại được sử dụng rộng rãi nhất hiện nay là của Sillence (1979) cho bệnh TXBT và được phân thành 4 týp, dựa trên lâm sàng, đặc điểm Xquang và di truyền [34], [35]. Cụ thể như sau: Týp I: Di truyền trội là dạng nhẹ nhất và phổ biến nhất. Collagen thì bình thường nhưng thiếu số lượng. Biểu hiện của bệnh: Xương dễ gãy nhưng tính chất gãy xương thay đổi, biến dạng xương mức độ trung bình.

Gãy xương lần đầu tiên có thể xảy ra ở độ tuổi đang tập đi, dễ liền xương, có thể thấy ổ can xương bồi đắp. Số lần gãy xương có xu thế giảm sau tuổi dậy thì nhưng có thể tăng khi về già do liên quan tới loãng xương. Ổ gãy xương cũ có thể thấy khi chụp Xquang. Củng mạc màu xanh (do các màng tĩnh mạch ở dưới lộ rõ vì củng mạc mỏng hơn so bình thường do khiếm khuyết tạo thành collagen týp I không phù hợp).

Điếc sớm (ít gặp), khoảng 50% điếc sau 40 tuổi. Vẹo cột sống và gù cột sống (20%) và có thể có nhiều xương thóp sọ trên phim Xquang sọ não. Có chiều cao bình thường, trương lực cơ yếu, lỏng khớp. Cân nặng khi sinh gần như trẻ bình thường, có thể bị gãy xương khi sinh và dễ bị bầm tím.

Týp I chia ra hai týp IA và týp IB, tạo ngà răng bất toàn là đặc trưng của týp IB, týp IA ngà răng bình thường [3]. luan an 7 Týp II: Di truyền gien trội (týp IIA, týp IIB) hoặc gien lặn (týp IIC) [20], [35], là týp nặng nhất. Collagen không đủ chất lượng hoặc số lượng. Biểu hiện của bệnh: Tất cả các BN có gãy xương trong tử cung bao gồm xương hộp sọ, xương dài hoặc xương đốt sống, các xương dài bị biến dạng nặng.

Củng mạc màu xanh đậm và tầm vóc rất nhỏ lúc sinh, mũi nhỏ, hàm nhỏ, thường tử vong khi sinh nhưng một số sống sót được vài tháng. Xương sườn có hình chuỗi hạt. Hầu hết các trường hợp chết sau sinh một năm do các xương sườn rất dễ gãy, thiểu sản phổi và các dị tật não hoặc xuất huyết não. Vấn đề hô hấp rất khó khăn do phổi kém phát triển.

Có nhiều xương thóp sọ với sự thiếu cốt hóa của xương sọ trên phim Xquang [3]. Týp II có thể được chia thành các nhóm A, B, C phân biệt bằng cách đánh giá chụp ảnh Xquang của các xương dài và xương sườn. Týp IIA: Các xương dài, rộng và ngắn, các xương sườn rộng và có dạng chuỗi hạt. Týp IIB: Các xương dài, rộng và ngắn, các xương sườn mỏng có ít hoặc không có dạng chuỗi hạt.

Týp IIC: Các xương dài và mỏng, các xương sườn mỏng và có dạng chuỗi hạt [34]. Týp III: Di truyền gien trội hoặc gien lặn [20], [35], là týp nặng nhất của trẻ em còn sống sau khi sinh [36]. Collagen tạo thành không phù hợp, tạo ra đủ nhưng bị khiếm khuyết. Biểu hiện của bệnh: Dễ gãy xương và gãy nhiều xương khi sinh và thường gãy xương trong tử cung, chân tay ngắn và biến dạng xương nặng và số lần gãy của các chi tăng theo tuổi.

Củng mạc màu xanh hoặc xanh nhạt khi sinh nhưng mờ dần và trở thành màu trắng ở tuổi trưởng thành. Răng có màu hơi xám hoặc hơi vàng gọi là tạo ngà răng bất toàn (DI) nhưng độc lập với mức độ nặng của bệnh, răng mọc sai vị trí. Có thể có khuôn mặt hình tam giác (trán lồi và thái dương lồi) và dị tật sọ, ngực nhô ức gà, gãy xương sườn, có thể thấy lồng ngực hình thùng hay gặp vấn đề luan an 8 về hô hấp. Cong vẹo cột sống, gù cột sống, dẹt đốt sống.

Cân nặng lúc sinh gần như trẻ bình thường, tầm vóc nhỏ. Khớp lỏng lẻo, trương lực cơ của tay và chân yếu, đau xương mãn tính, có thể gặp mất thính lực. Là loại thường được phẫu thuật chỉnh hình nhiều nhất. Trên phim Xquang thường có hình ảnh bỏng ngô ở hành xương của các xương dài, dẹt đốt sống và gù vẹo cột sống.

Lồng ngực rộng, khung chậu hẹp. Điểm khác biệt của týp III là "biến dạng tiến triển" nghĩa là trẻ có biểu hiện triệu chứng nhẹ lúc mới sinh và phát triển các triệu chứng nói trên trong suốt cuộc đời [20]. Týp IV: Di truyền gien trội hoặc lặn [20], [35]. Collagen tuy có đủ số lượng nhưng chất lượng không cao.

Biểu hiện của bệnh: Biến dạng xương ở mức độ nhẹ tới trung bình, dễ gãy xương, nhất là trước tuổi dậy thì, có thể có gãy xương trong tử cung. Củng mạc màu trắng, mất thính lực sớm. Tạo ngà răng bất toàn xuất hiện trong týp IVB (týp IV A ngà răng bình thường). Thường có gù vẹo cột sống và có chiều cao thay đổi.

Da mỏng, khớp và dây chằng lỏng lẻo, biến dạng van tim, dị dạng về sọ não liên quan tới lồng đáy sọ và đáy xương chẩm dịch lên trên (ít gặp) [3]. Xếp theo thứ tự từ nhẹ đến nặng sẽ là týp I < týp IV < týp III< týp II. Gần đây, một số týp mới của bệnh đã được xác định dựa vào sinh học phân tử. Bảng phân loại hiện nay có bổ sung các týp V,VI,VII,XII, IX, X, XI, XII, XIII, XIV, XV các týp này chiếm khoảng 10%, gây ra do các đột biến gien lặn [5], [37], [38].

Các týp này không có đột biến collagen týp I nhưng có bất thường mô học của xương và có kiểu hình tương tự [5], [39]. luan an 9 Bảng 1.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài luận án tiến sĩ mang tiêu đề "Đặc điểm lâm sàng và kết quả phẫu thuật chỉnh trục xương chi dưới ở bệnh nhân tạo xương bất toàn" của tác giả Trần Quốc Doanh, dưới sự hướng dẫn của PTS. Phạm Đăng Ninh và PTS. Lương Đình Lâm, được thực hiện tại Học viện Quân y, năm 2020. Nghiên cứu này tập trung vào việc phân tích các đặc điểm lâm sàng và kết quả phẫu thuật chỉnh trục xương chi dưới ở những bệnh nhân mắc bệnh tạo xương bất toàn. Bài viết không chỉ cung cấp cái nhìn sâu sắc về tình trạng bệnh lý mà còn đưa ra những kết quả phẫu thuật, từ đó giúp các bác sĩ và nhà nghiên cứu có thêm thông tin quý giá trong việc điều trị và quản lý bệnh nhân.

Để mở rộng thêm kiến thức về các vấn đề liên quan đến ngoại khoa và điều trị, bạn có thể tham khảo các tài liệu sau: Nghiên cứu lâm sàng và hiệu quả điều trị suy giảm nhận thức ở bệnh nhân loạn thần do rượu, nơi cung cấp thông tin về điều trị trong lĩnh vực tâm thần; Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng và chẩn đoán hình ảnh u não tế bào thần kinh đệm ác tính, giúp bạn hiểu rõ hơn về các phương pháp chẩn đoán trong ngoại khoa; và Nghiên cứu đặc điểm dịch tễ và kết quả điều trị gãy vùng mấu chuyển và cổ xương đùi ở người cao tuổi tại Bệnh viện Chấn thương Chỉnh hình Nghệ An (2020-2021), cung cấp cái nhìn về điều trị gãy xương ở người cao tuổi. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về các vấn đề liên quan đến ngoại khoa và điều trị bệnh lý xương khớp.