Tổng quan luận án
Gãy vùng mấu chuyển và/hoặc cổ xương đùi là tổn thương giải phẫu thường gặp ở người cao tuổi do chấn thương năng lượng thấp hoặc tai nạn trong sinh hoạt. Hậu quả của bệnh lý này làm thay đổi cấu trúc giải phẫu của xương đùi, dẫn đến suy giảm hoặc mất hoàn toàn chức năng nâng đỡ và vận động của chi dưới. Trên phạm vi toàn cầu, ước tính hàng năm có trên 125.000 trường hợp gãy vùng mấu chuyển và/hoặc cổ xương đùi; con số này được dự báo sẽ tăng gấp đôi vào năm 2050 do xu hướng già hóa dân số và gia tăng tuổi thọ trung bình. Dữ liệu từ Cơ sở dữ liệu Chương trình cải thiện chất lượng phẫu thuật quốc gia của Đại học Ngoại khoa Hoa Kỳ (NSQIP giai đoạn 2006–2015) ghi nhận 17.122 bệnh nhân trên 65 tuổi mắc bệnh lý này, trong đó nữ giới chiếm 70%, độ tuổi trung bình là 80,1 ± 6,6 tuổi và tỷ lệ mắc là 9,8% ± 5,2.
Tại Việt Nam, quá trình già hóa dân số diễn ra nhanh chóng, dự báo đến năm 2049 có hơn 1/4 dân số ở độ tuổi trên 60. Sự gia tăng này kéo theo số lượng ca gãy xương vùng đầu trên xương đùi ngày càng tăng. Tuy nhiên, các dữ liệu nghiên cứu dịch tễ học lâm sàng, cận lâm sàng, thời gian chờ phẫu thuật (WTS), thời gian nằm viện (LOS), tỷ lệ biến chứng mê sảng, nhiễm trùng và các yếu tố tiên lượng kết quả can thiệp ở người cao tuổi tại Việt Nam còn hạn chế và chưa có thống kê toàn quốc mang tính hệ thống. Tại tỉnh Nghệ An, mặc dù Bệnh viện Chấn thương Chỉnh hình Nghệ An hàng năm tiếp nhận và phẫu thuật cho hàng trăm bệnh nhân cao tuổi gãy vùng mấu chuyển và/hoặc cổ xương đùi, nhưng trước đề tài này vẫn chưa có công trình nghiên cứu sâu, toàn diện và có hệ thống về đặc điểm dịch tễ lâm sàng cũng như đánh giá kết quả của các phương pháp phẫu thuật tại địa phương. Nhiều trường hợp bệnh nhân đến viện muộn hoặc gặp phải các biến cố bất lợi sau phẫu thuật như nhiễm khuẩn vết mổ, hoại tử vô mạch, cứng khớp, không liền xương, lệch chi hoặc tử vong.
Luận án tiến sĩ chuyên ngành Dịch tễ học (mã số: 972 01 17) của nghiên cứu sinh Nguyễn Hoài Nam, được thực hiện tại Viện Sốt rét - Ký sinh trùng - Côn trùng Trung ương dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS. Dương Đình Chỉnh và TS. Vũ Văn Khoa (bảo vệ năm 2022), được triển khai nhằm giải quyết các mục tiêu cụ thể sau:
- Mô tả một số đặc điểm dịch tễ lâm sàng gãy vùng mấu chuyển và/hoặc cổ xương đùi ở người cao tuổi điều trị tại Bệnh viện Chấn thương Chỉnh hình Nghệ An (2020–2021).
- Đánh giá kết quả điều trị gãy vùng mấu chuyển và/hoặc cổ xương đùi ở người cao tuổi tại Bệnh viện Chấn thương Chỉnh hình Nghệ An.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài được xác định cụ thể:
- Đối tượng nghiên cứu: Bệnh nhân từ 60 tuổi trở lên (≥ 60 tuổi) được chẩn đoán gãy vùng mấu chuyển và/hoặc cổ xương đùi điều trị tại Bệnh viện Chấn thương Chỉnh hình Nghệ An.
- Phạm vi không gian: Bệnh viện Chấn thương Chỉnh hình tỉnh Nghệ An.
- Phạm vi thời gian: Nghiên cứu thu thập số liệu và theo dõi bệnh nhân từ ngày 01/01/2020 đến ngày 31/12/2021.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Tổng quan tài liệu trong luận án tổng hợp các công trình nghiên cứu trong nước và quốc tế về dịch tễ học, yếu tố nguy cơ, phương pháp can thiệp ngoại khoa và biến chứng sau điều trị gãy vùng mấu chuyển và/hoặc cổ xương đùi ở người cao tuổi:
-
Đặc điểm dịch tễ học và các yếu tố liên quan:
- Marks R. (2010) phân tích số liệu giai đoạn 1970–2009 trên thế giới, chỉ ra rằng gãy xương vùng khớp háng có tỷ lệ tử vong sớm cao, tỷ lệ mắc khác biệt giữa các khu vực và dân tộc, với các yếu tố quyết định chính gồm tuổi cao, loãng xương và té ngã.
- Masoud ShayestehAzar (2016) tại Bệnh viện Imam-Khomeini (thành phố Sari, Iraq/Iran) ghi nhận tỷ lệ mắc và tử vong ở nữ giới cao hơn nam giới ($p < 0,01$), phẫu thuật khớp háng có tỷ lệ biến chứng và tử vong cao ở nhóm bệnh nhân lớn tuổi.
- Green C.M. (2014) phân tích 61.508 ca từ Cơ sở dữ liệu Gãy xương Quốc gia Ấn Độ (NHFD 2012), nhấn mạnh nhu cầu quản lý điều trị tiêu chuẩn và chiến lược phòng ngừa té ngã.
- Díaz A.R. (2018) nghiên cứu trên 428 bệnh nhân trên 65 tuổi, xác định 220 ca gãy vùng mấu chuyển và/hoặc cổ xương đùi (chiếm 51,4%), ghi nhận mối liên quan với giới tính nữ, tuổi cao và sự hiện diện của 5 đến 9 bệnh nội khoa kết hợp té ngã do tai nạn.
- Lehtonen E.J.I. (2018) phân tích 17.122 bệnh nhân từ cơ sở dữ liệu NSQIP Hoa Kỳ, cho thấy tỷ lệ bệnh nhân nữ chiếm 70%, phương pháp cố định trong là phổ biến nhất, tiếp theo là thay khớp háng.
-
Cấu trúc vỏ xương, loãng xương và các bệnh lý nền:
- Johannesdottir F. và cộng sự (2011) sử dụng phân tích QCT cổ xương đùi, xác định độ mỏng vỏ xương ước tính (Est CTh) ở góc phần tư siêu trước là yếu tố dự báo có ý nghĩa thống kê cho nguy cơ gãy xương ở cả phụ nữ ($p = 0,05$) và nam giới ($p < 0,01$).
- Salih Beyaz và cộng sự (2020) kết hợp hình ảnh X-quang và thuật toán di truyền học để xác định mối liên quan giữa kích thước mỏng của cổ xương đùi với nguy cơ gãy xương.
- Nguyễn Thị Ngọc Lan (2015) ghi nhận loãng xương tại Việt Nam liên quan đến lứa tuổi > 50 ở nữ và > 60 ở nam ($OR = 2,2; p < 0,05$), phụ nữ > 70 tuổi liên quan chỉ số khối cơ thể BMI ($OR = 3,5; p < 0,05$) và nam giới liên quan nghiện rượu ($OR = 1,77; p < 0,05$).
- Nguyễn Trung Hòa (2014) đo mật độ xương bằng DXA tại Thành phố Hồ Chí Minh, ghi nhận 65,1% người cao tuổi bị loãng xương và 34,9% có mật độ xương thấp.
- Đào Thị Thanh Nhạn và cộng sự (2019) ghi nhận tỷ lệ loãng xương ở phụ nữ mãn kinh là 83,0% (59,8% tại cột sống thắt lưng và 23,2% tại cổ xương đùi).
- Juhász K. và cộng sự (2016) nghiên cứu 3.783 bệnh nhân tại Hungary, phát hiện 312 trường hợp (8,2%) bị gãy xương thứ hai; nguy cơ gãy xương thứ hai cao hơn ở bệnh nhân cao tuổi ($p = 0,001$), nữ giới ($p = 0,022$), sống ở đô thị ($p = 0,024$) và thoái hóa khớp ($p = 0,001$).
- Nakanishi K. (2018) nghiên cứu 293 bệnh nhân chạy thận nhân tạo, chứng minh suy thận mạn, suy dinh dưỡng và giảm khối lượng cơ làm suy giảm mật độ xương cổ xương đùi.
- Fakler J.K. (2016) trên 209 bệnh nhân cho thấy nồng độ CRP huyết thanh $\ge 40\text{ mg/L}$ làm tăng tỷ lệ tử vong trong 1 năm lên 40% so với 16% ở nhóm có $\text{CRP} < 10\text{ mg/L}$ ($p = 0,002$), đồng thời 25(OH)D liên quan độc lập đến các biến chứng y khoa sau phẫu thuật.
-
Các phương pháp can thiệp ngoại khoa:
- Trần Trung Dũng và cộng sự (2014) điều trị thay khớp háng toàn phần đường mổ nhỏ cho 30 bệnh nhân tại Bệnh viện Đại học Y Hà Nội (tuổi trung bình 65,7 ± 8,3, nữ/nam = 2/1, 86,7% thiếu xương), đạt kết quả tốt 93,3% theo thang điểm Charnley.
- Dương Đình Toàn và cộng sự (2019) nghiên cứu 59 bệnh nhân thay khớp háng bán phần (tuổi trung bình 81,8, 100% loãng xương), ghi nhận kết quả tốt 82,0%, khá 12,0%, trung bình và xấu 6,0%.
- Báo cáo Sở Y tế Hà Tĩnh (2019) trên 136 bệnh nhân (150 khớp phẫu thuật tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh) ghi nhận 54 khớp thay bán phần, 96 khớp thay toàn phần; 28% dùng xi măng, 72% không dùng xi măng; kết quả rất tốt đạt 83,0%, tốt 9,8%, trung bình 7,2%.
- Nguyễn Phương Nam (2019) kết hợp xương bằng nẹp DHS cho 29 bệnh nhân cao tuổi tại Bệnh viện Bà Rịa, đạt tỷ lệ liền xương 96,6%, 65,5% đi lại bình thường sau 12 tháng, 20,7% ngắn chi 2–3 cm.
- Korkmaz M.F. (2014) điều trị 100 ca bằng đóng đinh đầu xương (tuổi trung bình 77,66), đạt tỷ lệ kết hợp xương > 95%.
- Min B.W. và cộng sự (2016) cố định kín cho 25 bệnh nhân > 65 tuổi, đạt kết hợp xương 24/25 ca (96,0%), độ ngắn chi trung bình là 6,5 mm.
- Fa-Xin Ju (2020) trên 73 bệnh nhân cố định trong ghi nhận tỷ lệ hoại tử chỏm xương đùi ở nhóm Pauwels I và II là 0% và 4,3%, trong khi nhóm Pauwels III là 41,7%.
- Ossendorf C. và cộng sự (2010), Yijun Liu và cộng sự (2020), Grosso M.J. và cộng sự (2017), Wang F. (2015), Xu D.F. (2017), Liang C. và cộng sự (2015) so sánh hiệu quả giữa thay khớp háng toàn phần (THA), thay khớp háng bán phần (HA/BHA) và cố định bên trong (IF).
-
Biến chứng hậu phẫu, mê sảng và phục hồi chức năng:
- Choi Y.H. (2017) ghi nhận 30,9% (110/356) bệnh nhân cao tuổi bị mê sảng sau phẫu thuật thay khớp háng bán phần; yếu tố dự đoán mê sảng sớm gồm tuổi ($OR = 1,47$) và gây mê toàn thân ($OR = 2,25; p = 0,015$); mê sảng muộn liên quan bệnh Parkinson ($OR = 5,75; p = 0,006$) và nằm tại ICU ($OR = 1,85$). Nhóm mê sảng tức thời có tỷ lệ sống sót sau 2 năm là 71,0% so với 87,8% ở nhóm chứng ($p = 0,031$).
- De Jong L. và cộng sự (2019) trên 463 bệnh nhân thay khớp háng bán phần ghi nhận 26% bị mê sảng; mô hình đa biến chứng minh mê sảng liên quan sa sút trí tuệ ($OR = 2,75; p = 0,001$), tuổi ($OR = 1,06; p = 0,005$) và nhiễm trùng khi nằm viện.
- Theodorides A.A. và cộng sự (2011) trên 10.061 bệnh nhân gãy đầu trên xương đùi ghi nhận tỷ lệ tử vong sau 30 ngày là 10% và sau 3 tháng là 31% ở nhóm nhiễm trùng hậu phẫu.
- Aranguren-Ruiz M.I. (2017) trên 202 bệnh nhân $\ge 65$ tuổi xác định tuổi cao và chỉ số Barthel thấp là các yếu tố nguy cơ độc lập gây tử vong tại các mốc 90 ngày, 1 năm và 2 năm.
- Anne M. Nyholm và cộng sự (2020) nghiên cứu 654 bệnh nhân, ghi nhận 19% phải mổ lại, trong đó 18% số ca mổ lại bị tử vong (chủ yếu ở nhóm mổ sau 24 giờ và kiểu gãy Garden IV).
- Lê Nghi Thanh Nhân (2019) sử dụng thang điểm Merle d'Aubigné - Postel và bộ câu hỏi SF-6 ở 39 bệnh nhân phẫu thuật khớp háng, ghi nhận điểm chất lượng cuộc sống tăng từ 30,30 ± 11,94 trước mổ lên 57,69 ± 10,09 sau 3 tháng và 72,25 ± 7,94 sau 6 tháng.
- Yoo J.H. và cộng sự (2017) nghiên cứu 272 bệnh nhân $> 70$ tuổi, ghi nhận 49,6% có sốt hậu phẫu; sốt sau ngày hậu phẫu thứ hai liên quan viêm phổi ($OR = 3,86; p = 0,016$) và nhiễm trùng niệu ($OR = 5,04; p = 0,009$).
| Tác giả / Năm |
Cỡ mẫu ($n$) |
Thiết kế / Đối tượng |
Chỉ số / Phát hiện chính |
| Lehtonen E.J.I. (2018) |
17.122 |
Thuần tập NSQIP (Mỹ), BN > 65 tuổi |
70% nữ; tuổi TB 80,1; phương pháp cố định trong phổ biến nhất |
| Díaz A.R. (2018) |
428 |
Mô tả cắt ngang, BN > 65 tuổi |
51,4% gãy vùng mấu chuyển/cổ xương đùi; liên quan 5–9 bệnh nền, té ngã |
| Dương Đình Toàn (2019) |
59 |
Can thiệp lâm sàng thay khớp bán phần |
100% loãng xương; kết quả tốt 82%, khá 12%, trung bình/xấu 6% |
| Korkmaz M.F. (2014) |
100 |
Đóng đinh đầu xương |
Tuổi TB 77,66; kết hợp xương > 95%; không hoại tử vô mạch |
| Choi Y.H. (2017) |
356 |
Theo dõi mê sảng sau thay khớp bán phần |
Tỷ lệ mê sảng 30,9%; mê sảng sớm giảm tỷ lệ sống 2 năm còn 71,0% ($p = 0,031$) |
| De Jong L. (2019) |
463 |
Nghiên cứu thuần tập thay khớp bán phần |
26% mê sảng; liên quan sa sút trí tuệ ($OR = 2,75$), tuổi ($OR = 1,06$) |
| Anne M. Nyholm (2020) |
654 |
Hồi cứu đa trung tâm |
19% mổ lại; 18% mổ lại tử vong; tăng ở nhóm mổ trễ > 24h và Garden IV |
Khoảng trống nghiên cứu mà luận án lựa chọn giải quyết là đánh giá toàn diện đặc điểm dịch tễ học, lâm sàng, cận lâm sàng cùng hiệu quả điều trị thực tế của hai kỹ thuật can thiệp chủ đạo (thay khớp háng bán phần và cố định bên trong) trên nhóm bệnh nhân cao tuổi tại Nghệ An, đồng thời phân tích định lượng các yếu tố ảnh hưởng đến thời gian nằm viện và tiên lượng phục hồi chức năng sau 6 tháng.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý thuyết và các phân loại chuyên ngành
Luận án áp dụng các khung phân loại và hệ thống đánh giá chức năng lâm sàng chuẩn hóa:
- Phân loại gãy cổ xương đùi theo Garden (4 mức độ):
- Type 1: Gãy không hoàn toàn (gãy dạng cài).
- Type 2: Gãy hoàn toàn nhưng không hoặc ít di lệch.
- Type 3: Gãy hoàn toàn, di lệch một phần nhưng còn tiếp xúc giữa các diện gãy.
- Type 4: Gãy hoàn toàn, di lệch hoàn toàn trên các bình diện.
- Phân loại theo Pauwels (dựa vào góc tạo bởi đường gãy với đường chân trời):
- Type 1: Góc gãy $< 30^\circ$.
- Type 2: Góc gãy từ $30^\circ$ đến $50^\circ$.
- Type 3: Góc gãy $> 50^\circ$.
- Phân loại gãy vùng liên mấu chuyển theo tiêu chuẩn AO (3 nhóm chính):
- Nhóm A1: Gãy đơn giản (A1-1: đường gãy nền cổ mấu chuyển; A1-2: đường gãy liên mấu chuyển; A1-3: đường gãy dưới mấu chuyển).
- Nhóm A2: Gãy nhiều mảnh rời (A2-1: 1 mảnh rời; A2-2: 2 mảnh rời; A2-3: > 2 mảnh rời).
- Nhóm A3: Đường gãy chéo ngược hoặc gãy ngang (A3-1: chéo chếch lên; A3-2: đường gãy ngang; A3-3: gãy kèm vỡ mấu chuyển nhỏ).
- Hệ thống đánh giá chức năng khớp háng Harris (The Harris Hip Score - HHS): Đánh giá mức độ đau, sử dụng dụng cụ hỗ trợ đi lại, khoảng cách đi bộ, khả năng sử dụng cầu thang/ngồi ghế và tổng biên độ vận động của khớp háng.
- Đánh giá mức độ tri giác và mê sảng: Thang điểm Glasgow và thang sàng lọc mê sảng hậu phẫu.
- Đánh giá mật độ xương: Đo mật độ khoáng xương (BMD) bằng phương pháp hấp thụ tia X năng lượng kép (DXA) và chỉ số T-score.
Phương pháp nghiên cứu
- Thiết kế nghiên cứu: Nghiên cứu dịch tễ học mô tả có phân tích kết hợp theo dõi dọc can thiệp lâm sàng.
- Cỡ mẫu nghiên cứu:
Áp dụng công thức ước lượng một tỷ lệ trong nghiên cứu mô tả:
$$n = Z_{1-\alpha/2}^2 \frac{p(1-p)}{\epsilon^2 p^2}$$
Trong đó:
- $p = 0,70$ (tỷ lệ loãng xương, thiếu xương ở bệnh nhân gãy vùng mấu chuyển/cổ xương đùi tham khảo từ tài liệu của Dương Đình Toàn và Juhász K.).
- $Z_{1-\alpha/2} = 1,96$ (độ tin cậy 95%).
- $\epsilon = 0,12$ (sai số tương đối mong muốn).
- Cỡ mẫu lý thuyết tính toán là $n = 114$ bệnh nhân.
- Cỡ mẫu thực tế được thu thập trong nghiên cứu là 118 bệnh nhân.
- Tiêu chuẩn lựa chọn: Bệnh nhân từ 60 tuổi trở lên ($\ge 60$ tuổi), có đủ tiêu chuẩn chẩn đoán lâm sàng và X-quang gãy vùng mấu chuyển và/hoặc cổ xương đùi, điều trị tại Bệnh viện Chấn thương Chỉnh hình Nghệ An từ 01/01/2020 đến 31/12/2021, thường trú tại tỉnh Nghệ An và đồng ý tham gia nghiên cứu.
- Tiêu chuẩn loại trừ: Bệnh nhân không đủ tiêu chuẩn chẩn đoán, bệnh nhân hoặc người nhà không đồng ý tham gia nghiên cứu, bệnh nhân mắc bệnh tâm thần.
- Kỹ thuật thu thập và xử lý số liệu: Thu thập thông tin qua bệnh án mẫu thống nhất bao gồm tiền sử chấn thương, bệnh lý nội khoa kèm theo, khám lâm sàng cơ năng - thực thể, xét nghiệm cận lâm sàng (công thức máu, protein, albumin, CRP, canxi, điện giải, urê, creatinin, X-quang, DXA), phương pháp phẫu thuật, thời gian mổ, tình trạng mê sảng, biến chứng nhiễm trùng, thời gian nằm viện và kết quả theo dõi định kỳ sau 1 tháng, 3 tháng và 6 tháng theo thang điểm Harris. Dữ liệu được phân tích đơn biến và hồi quy đa biến nhằm xác định các yếu tố liên quan đến thời gian nằm viện và tiên lượng điều trị sau 6 tháng.
- Đạo đức nghiên cứu: Đề tài tuân thủ các quy định y đức trong nghiên cứu y sinh học, bảo đảm tính tự nguyện của bệnh nhân và bảo mật dữ liệu cá nhân.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan
Chương 1 hệ thống hóa cơ sở giải phẫu học và sinh thái bệnh học vùng đầu trên xương đùi, bao gồm đặc điểm cấu trúc vùng cổ xương đùi và vùng mấu chuyển. Tác giả phân tích các cơ chế chấn thương thường gặp ở người cao tuổi, đặc biệt là tương tác giữa tình trạng giảm mật độ chất khoáng của xương (loãng xương, mỏng vỏ xương) và các sang chấn năng lượng thấp như té ngã trong sinh hoạt.
Chương này trình bày chi tiết các hệ thống phân loại gãy xương cổ điển và hiện đại (Garden, Pauwels, AO/ASIF), các phương pháp chẩn đoán hình ảnh (X-quang quy ước, chụp cắt lớp vi tính, cộng hưởng từ) cùng các chỉ số xét nghiệm huyết học, sinh hóa hỗ trợ đánh giá toàn trạng bệnh nhân trước mổ. Tổng quan đề cập sâu đến các giải pháp điều trị ngoại khoa hiện nay: thay khớp háng bán phần (HA/BHA), thay khớp háng toàn phần (THA), cố định bên trong (nẹp khóa, nẹp vít DHS, đinh nội tủy, nẹp Targon FN, kim Kirschner), kỹ thuật ghép xương tự thân/nhân tạo và phương pháp điều trị bảo tồn. Tác giả phân tích các tai biến, biến chứng trong và sau phẫu thuật gồm tử vong sớm và muộn, mê sảng chu phẫu, nhiễm khuẩn vết mổ, hoại tử vô mạch, gãy xương thứ phát, ngắn chi và mổ lại. Cuối cùng, chương 1 đề xuất các nguyên tắc phòng bệnh 3 cấp độ ở người cao tuổi từ cộng đồng đến chăm sóc phục hồi chức năng hậu phẫu.
Chương 2: Đối tượng và phương pháp nghiên cứu
Chương 2 mô tả chi tiết phương pháp luận triển khai cho hai mục tiêu nghiên cứu của luận án:
- Thiết kế nghiên cứu dịch tễ học mô tả cắt ngang có phân tích nhằm xác định đặc điểm dịch tễ, lâm sàng, cận lâm sàng của 118 bệnh nhân cao tuổi ($\ge 60$ tuổi) gãy vùng mấu chuyển và/hoặc cổ xương đùi tại Bệnh viện Chấn thương Chỉnh hình Nghệ An trong 2 năm (2020–2021).
- Thiết kế theo dõi dọc can thiệp lâm sàng để đánh giá kết quả điều trị của hai nhóm kỹ thuật: thay khớp háng bán phần và cố định bên trong.
- Trình bày chi tiết công thức tính cỡ mẫu, các tiêu chuẩn lựa chọn và loại trừ đối tượng nghiên cứu.
- Định nghĩa và quy chuẩn hóa hệ thống biến số nghiên cứu: các biến nhân khẩu học (tuổi, giới, nơi cư trú), tiền sử bệnh nền (tim mạch, tăng huyết áp, đái tháo đường, suy thận mạn, suy dinh dưỡng, béo phì), đặc điểm tổn thương (cơ chế chấn thương, thời gian từ chấn thương đến viện, hình thái gãy theo Garden và AO), chỉ số cận lâm sàng (huyết học, sinh hóa, T-score), chỉ số can thiệp (thời gian phẫu thuật, thời gian chờ mổ WTS, lượng máu mất, loại dụng cụ phẫu thuật), biến chứng hậu phẫu (mê sảng đánh giá theo Glasgow, nhiễm khuẩn vết mổ, so le chi) và các tiêu chí đánh giá chức năng sau 1, 3, 6 tháng theo thang điểm Harris.
- Xây dựng sơ đồ quy trình nghiên cứu, các biện pháp kiểm soát sai số hệ thống và sai số ngẫu nhiên, cùng cam kết thực hiện đúng các quy chuẩn đạo đức nghiên cứu y sinh học.
Chương 3: Kết quả nghiên cứu
Chương 3 trình bày các số liệu định lượng thu được từ 118 bệnh nhân nghiên cứu:
- Đặc điểm dịch tễ học và lâm sàng:
- Tỷ lệ phân bố theo nhóm tuổi, giới tính và địa bàn cư trú tại tỉnh Nghệ An.
- Tỷ lệ bệnh nhân mắc 1 bệnh nền, 2 bệnh nền và $\ge 3$ bệnh nền (các bệnh lý phổ biến gồm tăng huyết áp, đái tháo đường, suy tim, bệnh thận mạn tính).
- Hoàn cảnh và nguyên nhân chấn thương: Chủ yếu do tai nạn sinh hoạt (trượt ngã, ngã đập hông) và tai nạn giao thông; thời gian từ khi bị chấn thương đến khi nhập viện.
- Triệu chứng lâm sàng khi vào viện: Đau tại vùng khớp háng, sưng nề, bầm tím tại chỗ, biến dạng khớp háng, ngắn chi và mất vận động hoàn toàn hoặc hạn chế vận động chi tổn thương.
- Đặc điểm cận lâm sàng:
- Kết quả xét nghiệm huyết học: Tỷ lệ bệnh nhân có thiếu máu trước mổ, nồng độ hemoglobin giảm.
- Kết quả xét nghiệm sinh hóa: Tỷ lệ giảm protein toàn phần, giảm albumin huyết thanh, biến thiên nồng độ CRP, ure, creatinin và canxi máu.
- Đo mật độ xương: Đa số bệnh nhân có mật độ xương giảm, tỷ lệ loãng xương và thiếu xương chiếm tỷ lệ cao theo T-score.
- Kết quả X-quang: Tỷ lệ phân bố các kiểu gãy cổ xương đùi theo phân loại Garden (trong đó nhóm Garden III và Garden IV chiếm tỷ lệ lớn) và phân loại gãy liên mấu chuyển theo tiêu chuẩn AO (nhóm A1, A2, A3).
- Kết quả can thiệp điều trị:
- Tỷ lệ lựa chọn phương pháp can thiệp: Phẫu thuật thay khớp háng bán phần và phẫu thuật cố định bên trong.
- Thời gian thực hiện kỹ thuật trung bình của từng phương pháp phẫu thuật.
- Đánh giá tình trạng mê sảng hậu phẫu theo thang điểm Glasgow và các biểu hiện rối loạn nhận thức sớm.
- Kết quả điều trị bằng thay khớp háng bán phần và cố định bên trong sau 1, 3 và 6 tháng:
- Mức độ đau theo thang điểm Harris tại các thời điểm theo dõi 1 tháng, 3 tháng và 6 tháng.
- Nhu cầu sử dụng dụng cụ hỗ trợ đi lại (nạng, khung tập đi, gậy).
- Khoảng cách đi bộ tối đa mà bệnh nhân có thể thực hiện được.
- Khả năng tự ngồi ghế và sử dụng cầu thang.
- Tổng biên độ vận động của khớp háng phẫu thuật.
- Tỷ lệ chênh lệch chiều dài chi (so le chi) trên lâm sàng và đo đạc X-quang.
- Tỷ lệ xuất hiện biến chứng nhiễm khuẩn vết mổ và tỷ lệ tử vong tích lũy sau 1, 3 và 6 tháng.
- Tổng hợp xếp loại chức năng khớp háng theo thang điểm Harris sau 6 tháng điều trị (tốt, khá, trung bình, kém).
- Phân tích các yếu tố liên quan đến thời gian nằm viện và tiên lượng điều trị:
- Thời gian nằm viện trung bình (LOS) ở nhóm thay khớp háng bán phần và nhóm cố định bên trong.
- Kết quả phân tích đơn biến các yếu tố ảnh hưởng đến thời gian nằm viện (tuổi, số lượng bệnh nền, nồng độ albumin, thời gian chờ mổ, biến chứng hậu phẫu).
- Kết quả phân tích hồi quy đa biến xác định các yếu tố độc lập kéo dài thời gian nằm viện.
- Kết quả phân tích đơn biến và mô hình hồi quy đa biến xác định các yếu tố tiên lượng kết quả phục hồi chức năng kém sau 6 tháng điều trị.
Chương 4: Bàn luận
Chương 4 đối chiếu, bàn luận sâu các phát hiện của luận án với y văn:
- Bàn luận về đặc điểm tuổi, giới tính và tỷ lệ bệnh nền cao ở bệnh nhân gãy vùng mấu chuyển và/hoặc cổ xương đùi tại Nghệ An, tương đồng với các nghiên cứu của Lehtonen E.J.I. (Hoa Kỳ), Díaz A.R. và các tác giả trong nước như Trần Trung Dũng, Dương Đình Toàn.
- Bàn luận về chỉ định can thiệp ngoại khoa: Phân tích tính hợp lý trong việc chỉ định thay khớp háng bán phần ở nhóm bệnh nhân cao tuổi gãy di lệch nhiều (Garden III, IV hoặc gãy mấu chuyển mất vững) so với kỹ thuật cố định bên trong ở các trường hợp gãy ít di lệch, xương còn khả năng liền.
- So sánh thời gian thực hiện kỹ thuật, lượng máu mất và diễn biến phục hồi cơ năng giữa hai phương pháp phẫu thuật.
- Phân tích nguyên nhân và các yếu tố thúc đẩy biến chứng mê sảng sau mổ ở người cao tuổi, nhấn mạnh tác động của tuổi tác, phương pháp vô cảm, thời gian mổ và các rối loạn điện giải, sinh hóa máu.
- Bàn luận về tiến trình cải thiện điểm số Harris theo thời gian (1, 3 và 6 tháng), khả năng vận động sớm ở nhóm thay khớp háng bán phần so với nhóm kết hợp xương.
- Đánh giá các biến cố bất lợi: Nhiễm khuẩn vết mổ, tỷ lệ tử vong trong vòng 6 tháng, nguy cơ so le chi và ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng cuộc sống của người bệnh.
- Bàn luận về các yếu tố quyết định thời gian nằm viện và tiên lượng phục hồi chức năng sau 6 tháng qua mô hình phân tích đa biến, từ đó làm rõ vai trò của việc can thiệp phẫu thuật sớm, kiểm soát tốt bệnh nền nội khoa và tập phục hồi chức năng tích cực sau mổ.
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp về mặt khoa học và lý luận
- Cung cấp số liệu dịch tễ học lâm sàng, cận lâm sàng toàn diện và có hệ thống đầu tiên về bệnh lý gãy vùng mấu chuyển và/hoặc cổ xương đùi ở người cao tuổi tại địa bàn tỉnh Nghệ An trong giai đoạn 2020–2021.
- Minh chứng mối liên quan chặt chẽ giữa tình trạng loãng xương, suy giảm nồng độ albumin máu, sự hiện diện của các bệnh nền mạn tính kết hợp với chấn thương sinh hoạt trong cơ chế bệnh sinh gãy đầu trên xương đùi ở người cao tuổi.
- Xác lập cơ sở định lượng về tiến trình phục hồi chức năng khớp háng theo thang điểm Harris tại các mốc thời gian 1 tháng, 3 tháng và 6 tháng sau phẫu thuật thay khớp bán phần và cố định bên trong.
- Xác định mô hình các yếu tố dự báo độc lập ảnh hưởng đến thời gian nằm viện (LOS) và tiên lượng kết quả phục hồi chức năng sau điều trị 6 tháng thông qua phân tích hồi quy tương quan đa biến.
Đóng góp về mặt thực tiễn và giải pháp đề xuất
- Đánh giá hiệu quả lâm sàng cụ thể của hai kỹ thuật phẫu thuật (thay khớp háng bán phần và cố định bên trong) tại Bệnh viện Chấn thương Chỉnh hình Nghệ An, giúp các phẫu thuật viên tuyến tỉnh có căn cứ lựa chọn chỉ định điều trị thích hợp theo từng kiểu gãy và thể trạng bệnh nhân.
- Lượng hóa các tỷ lệ biến chứng thường gặp như mê sảng hậu phẫu, nhiễm khuẩn vết mổ, so le chi và tỷ lệ tử vong sau mổ, giúp thiết lập các quy trình theo dõi và can thiệp chu phẫu chủ động.
- Khuyến nghị thực tiễn:
- Tăng cường công tác phòng bệnh cấp 1: Truyền thông phòng chống té ngã trong sinh hoạt cho người cao tuổi, kiểm tra sức khỏe định kỳ, đo mật độ xương và điều trị loãng xương sớm.
- Tối ưu hóa quy trình cấp cứu và điều trị cấp 2: Rút ngắn thời gian chờ phẫu thuật (WTS), điều chỉnh các rối loạn huyết học, sinh hóa (bù protein, albumin, kiểm soát đường huyết, huyết áp), lựa chọn kỹ thuật mổ phù hợp và tuân thủ nghiêm ngặt quy trình vô khuẩn để giảm thiểu biến chứng nhiễm trùng và mê sảng.
- Đẩy mạnh công tác phục hồi chức năng cấp 3: Lập kế hoạch tập vận động sớm sau mổ, hướng dẫn sử dụng dụng cụ trợ đi đúng kỹ thuật và theo dõi định kỳ chức năng khớp háng sau xuất viện nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống cho người bệnh.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu tham khảo hữu ích cho nhiều đối tượng trong ngành y tế:
- Bác sĩ chuyên khoa Chấn thương Chỉnh hình và Ngoại khoa: Tham khảo các tiêu chí lựa chọn chỉ định phẫu thuật thay khớp háng bán phần hoặc cố định bên trong, kỹ thuật xử trí các dạng gãy xương phức tạp theo phân loại Garden và AO, cũng như phác đồ dự phòng các tai biến chu phẫu.
- Bác sĩ chuyên khoa Gây mê hồi sức, Lão khoa và Nội khoa: Tham khảo các yếu tố nguy cơ gây mê sảng hậu phẫu, kiểm soát bệnh lý nội khoa kèm theo (tim mạch, đái tháo đường, suy thận mạn) và bù trừ dinh dưỡng trước - sau đại phẫu ở bệnh nhân cao tuổi.
- Nghiên cứu sinh, học viên cao học, bác sĩ nội trú chuyên ngành Dịch tễ học, Y học lâm sàng và Y tế công cộng: Tham khảo phương pháp thiết kế nghiên cứu mô tả có phân tích kết hợp theo dõi dọc can thiệp, công thức tính cỡ mẫu dựa trên tỷ lệ hiện mắc, phương pháp thu thập biến số lâm sàng - cận lâm sàng và kỹ thuật phân tích hồi quy đa biến.
- Nhà quản lý y tế và lãnh đạo bệnh viện tuyến tỉnh: Tham khảo cơ sở thực tiễn để xây dựng quy trình chuẩn hóa điều trị gãy xương đầu trên xương đùi ở người cao tuổi, tối ưu hóa thời gian chờ phẫu thuật và rút ngắn ngày điều trị nội trú.
Câu hỏi thường gặp
1. Đối tượng và tiêu chuẩn chọn mẫu trong luận án được xác định như thế nào?
Nghiên cứu chọn mẫu toàn bộ gồm 118 bệnh nhân từ 60 tuổi trở lên ($\ge 60$ tuổi), được chẩn đoán xác định gãy vùng mấu chuyển và/hoặc cổ xương đùi, điều trị tại Bệnh viện Chấn thương Chỉnh hình Nghệ An trong khoảng thời gian từ ngày 01/01/2020 đến 31/12/2021, có hộ khẩu thường trú tại Nghệ An và đồng ý tham gia nghiên cứu. Bệnh nhân mắc bệnh tâm thần hoặc từ chối tham gia bị loại khỏi nghiên cứu.
2. Các hệ thống phân loại giải phẫu nào được luận án sử dụng để đánh giá tổn thương gãy xương?
Luận án sử dụng phân loại Garden (4 type) và phân loại Pauwels (3 type dựa trên góc đường gãy) cho tổn thương gãy cổ xương đùi, kết hợp phân loại của Hiệp hội Nghiên cứu Cố định xương bên trong (AO/ASIF với các phân nhóm A1, A2, A3) cho tổn thương gãy vùng liên mấu chuyển.
3. Luận án đánh giá kết quả điều trị của những phương pháp phẫu thuật nào?
Luận án tập trung đánh giá và so sánh kết quả điều trị của hai nhóm kỹ thuật phẫu thuật chính được thực hiện tại Bệnh viện Chấn thương Chỉnh hình Nghệ An gồm: phẫu thuật thay khớp háng bán phần (HA) và phẫu thuật kết hợp xương bằng cố định bên trong (IF).
4. Chức năng vận động của khớp háng sau phẫu thuật được đánh giá bằng công cụ gì và tại các mốc thời gian nào?
Chức năng khớp háng được đánh giá định lượng bằng Thang điểm khớp háng Harris (The Harris Hip Score - HHS), bao gồm các tiêu chí: mức độ đau, sử dụng dụng cụ hỗ trợ, khoảng cách đi bộ, khả năng leo cầu thang/ngồi ghế và tầm vận động khớp háng, được theo dõi dọc tại 3 mốc thời gian: 1 tháng, 3 tháng và 6 tháng sau phẫu thuật.
5. Luận án ghi nhận những yếu tố nào liên quan đến biến chứng mê sảng sau phẫu thuật ở người cao tuổi?
Theo tổng quan và phân tích của luận án, biến chứng mê sảng hậu phẫu liên quan chặt chẽ đến độ tuổi cao, phương pháp gây mê toàn thân (đối với mê sảng sớm $\le 24$ giờ), tiền sử bệnh thần kinh/Parkinson, tình trạng nằm điều trị tại khu hồi sức tích cực ICU (đối với mê sảng muộn $> 24$ giờ), cũng như tình trạng nhiễm trùng và rối loạn điện giải chu phẫu.
Kết luận
Luận án tiến sĩ của tác giả Nguyễn Hoài Nam đã phân tích có hệ thống đặc điểm dịch tễ học lâm sàng, cận lâm sàng và kết quả can thiệp ngoại khoa trên 118 bệnh nhân cao tuổi gãy vùng mấu chuyển và/hoặc cổ xương đùi tại Bệnh viện Chấn thương Chỉnh hình Nghệ An giai đoạn 2020–2021. Kết quả nghiên cứu làm rõ vai trò của các yếu tố nguy cơ như loãng xương, bệnh lý nền kết hợp và tai nạn sinh hoạt đối với hình thái tổn thương giải phẫu, đồng thời chứng minh hiệu quả phục hồi chức năng khớp háng qua thang điểm Harris sau 1, 3 và 6 tháng của hai kỹ thuật thay khớp háng bán phần và cố định bên trong. Luận án đã xác định các yếu tố tiên lượng độc lập ảnh hưởng đến thời gian nằm viện và kết quả điều trị sau 6 tháng, từ đó đề xuất các giải pháp khả thi về phòng bệnh, can thiệp phẫu thuật sớm và phục hồi chức năng nhằm nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe người cao tuổi tại tuyến y tế địa phương.