Tổng quan luận án

Chấn thương thận là dạng chấn thương thường gặp nhất trong các chấn thương hệ tiết niệu, chiếm tỷ lệ khoảng 10% trong chấn thương bụng kín và từ 1% đến 5% tổng số các ca chấn thương nói chung. Trong các nguyên nhân gây tổn thương, tai nạn giao thông chiếm tỷ lệ cao nhất (75,5%), tiếp theo là tai nạn lao động và tai nạn sinh hoạt. Trước đây, quan điểm xử trí chấn thương thận nặng chủ yếu là phẫu thuật mở cấp cứu tương tự như tổn thương các tạng đặc khác, dẫn đến tỷ lệ cắt bỏ thận rất cao (lên tới 64% - 67,4%). Nguyên nhân chính của tình trạng này là do các phương tiện chẩn đoán trước đây không đánh giá chính xác được mức độ thương tổn nhu mô, mạch máu và đường bài tiết, khiến nhiều trường hợp phẫu thuật mở can thiệp vào những tổn thương đã có khả năng tự cầm máu.

Sự ra đời và ứng dụng của chụp cắt lớp vi tính đa dãy (MSCT) cùng sự tiến bộ của kỹ thuật điện quang can thiệp mạch (nút mạch) và nội soi tiết niệu đặt thông JJ đã làm thay đổi căn bản chiến lược điều trị chấn thương thận. Điều trị bảo tồn không phẫu thuật mổ mở đã trở thành lựa chọn ưu tiên cho 90% - 95% các trường hợp, mở rộng sang cả chấn thương thận độ IV và một số trường hợp độ V có huyết động ổn định. Tuy nhiên, trong thực tiễn lâm sàng vẫn còn những khoảng trống cần giải quyết: quy chuẩn chỉ định chụp MSCT ban đầu và theo dõi; thái độ xử trí đối với các hình thái tổn thương mạch máu (chảy máu thể hoạt động, giả phình động mạch, thông động tĩnh mạch) và tổn thương đường bài xuất; tiêu chuẩn khi nào cần can thiệp mạch, khi nào cần đặt thông JJ; cũng như việc đánh giá phục hồi chức năng và hình thái học của thận sau điều trị can thiệp ít xâm lấn.

Luận án tiến sĩ y học của tác giả Ngô Trung Kiên, chuyên ngành Ngoại Thận và Tiết niệu (mã số: 62 72 01 26), thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Hoàng Long và PGS. Nguyễn Phú Việt tại Học viện Quân y, được tiến hành nhằm giải quyết hai mục tiêu cụ thể:

  1. Nghiên cứu giá trị của chụp cắt lớp vi tính đa dãy trong chẩn đoán và chỉ định điều trị bảo tồn chấn thương thận.
  2. Đánh giá kết quả điều trị bảo tồn chấn thương thận tại Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức.

Đối tượng nghiên cứu là các bệnh nhân được chẩn đoán chấn thương thận bằng MSCT và được điều trị bảo tồn tại Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức trong khoảng thời gian từ tháng 10 năm 2013 đến tháng 12 năm 2018.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Tổng quan y văn trong nước và quốc tế cho thấy xu hướng dịch chuyển rõ rệt từ can thiệp phẫu thuật mở sang điều trị bảo tồn đa mô thức đối với chấn thương thận:

Các nghiên cứu trên thế giới

  • Santucci (2001): Tổng kết y văn ghi nhận hầu hết chấn thương nhu mô thận kín ở người lớn và phần lớn trẻ em có thể điều trị bảo tồn không phẫu thuật thành công.
  • Wessells H. và cộng sự: Khảo sát tại Hoa Kỳ trên 1.360 bệnh nhân vỡ thận, ghi nhận chỉ có 23% trường hợp cần phẫu thuật, nhưng tỷ lệ cắt thận ở nhóm phẫu thuật lên tới 64%.
  • Nghiên cứu tại trung tâm chấn thương cấp I: Trong 221 bệnh nhân chấn thương thận có 45 ca chấn thương nặng độ III - V (chiếm 20%). Tỷ lệ phẫu thuật ở nhóm chấn thương nặng là 26%, tỷ lệ cắt thận theo phân độ lần lượt là: độ III (9%), độ IV (22%) và độ V (83%). Điều trị bảo tồn ở nhóm độ III - V có huyết động ổn định đạt tỷ lệ thành công 74%.
  • Nghiên cứu điều trị bảo tồn chấn thương thận độ cao (2004 - 2013): Trên 47 bệnh nhân chấn thương thận độ IV và độ V, chỉ có 6,3% mổ cấp cứu ngay, 93,7% được điều trị bảo tồn với tỷ lệ thành công đạt 93,2%; trong đó nút mạch thành công 9,1% (4 ca) và nội soi đặt thông JJ là 2,3% (1 ca).
  • Nghiên cứu trên 2.998 bệnh nhân chấn thương thận kín: Tỷ lệ điều trị bảo tồn chấn thương thận độ IV đạt 92,5% (211/228 trường hợp) và độ V đạt 38,3% (31/81 trường hợp).
  • Arunan Sujenthiran (2017): Kết luận điều trị bảo tồn là phương pháp an toàn, hiệu quả cho các trường hợp chấn thương thận nặng có huyết động ổn định.
  • Saour M. và cộng sự: Báo cáo 52 bệnh nhân chấn thương thận độ III - V theo AAST; nhóm điều trị không phẫu thuật gồm 47 bệnh nhân, trong đó 24 trường hợp được chụp và nút mạch với tỷ lệ thành công 91%.
  • Nuss G. và cộng sự (2009): Nghiên cứu trên 194 bệnh nhân tại Dallas (Hoa Kỳ) giai đoạn 1999 - 2004, xác định 4 thông số kích thước khối máu tụ quanh thận trên CLVT có giá trị tiên lượng nguy cơ phải can thiệp mạch: độ dày khối máu tụ (PRD) $\ge$ 4 cm, diện tích khối máu tụ (HA) $\ge$ 128,3 cm², tỷ lệ diện tích máu tụ/thận (HKR) $\ge$ 2,75 và chênh lệch diện tích máu tụ so với diện tích thận (HKD) $\ge$ 76,5 cm².

Các nghiên cứu tại Việt Nam

  • Vũ Nguyễn Khải Ca và cộng sự (2001): Khảo sát 190 bệnh nhân chấn thương thận tại Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức (1995 - 2000), chỉ định bảo tồn chủ yếu ở độ I, II, III (51,6%); khi mổ cấp cứu độ IV và V tỷ lệ cắt thận lên tới 67,4%. Tác giả ghi nhận 34,4% bệnh nhân có khối máu tụ hố thắt lưng và nhấn mạnh vai trò của chụp CLVT.
  • Hoàng Long (2012): Công bố kết quả điều trị bảo tồn 124 bệnh nhân chấn thương thận kín với tỷ lệ thành công 91,1%, can thiệp nút mạch 6,2% do chảy máu thể hoạt động trên CLVT, điều trị bảo tồn 32 ca độ IV (19,2%), tỷ lệ truyền máu 21,8%, sốc chấn thương 14,5% và kết quả tốt theo dõi xa đạt 81,4%.
  • Trần Quốc Hòa (2019): Nghiên cứu phẫu thuật nội soi điều trị chấn thương thận trên 70 bệnh nhân (2011 - 2017), ghi nhận tỷ lệ phẫu thuật nội soi thành công 94,3%, tỷ lệ bảo tồn thận đạt 92,9%, tỷ lệ biến chứng 8,6%.

Vị trí và khoảng trống nghiên cứu của luận án

Luận án kế thừa các thành tựu của các tác giả đi trước, đồng thời tập trung giải quyết việc ứng dụng hệ thống phân loại AAST 2018 sửa đổi trên hình ảnh MSCT đa pha để phân loại chính xác tổn thương mạch máu và hệ thống bài tiết. Từ đó, luận án chuẩn hóa quy trình chỉ định can thiệp ít xâm lấn (nút mạch chọn lọc DSA, nội soi đặt thông JJ) phối hợp với điều trị nội khoa đơn thuần tại Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức, cung cấp dữ liệu theo dõi dọc về hình thái và chức năng thận sau bảo tồn.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở giải phẫu và hình ảnh học

  • Giải phẫu học thận: Thận nằm sau phúc mạc từ N12 đến L3, kích thước trung bình cao 12 cm, rộng 6 cm, dày 3 cm, nặng khoảng 150 g. Thận được bao bọc bởi bao xơ và cố định bởi mạc Gerota gồm hai lá trước - sau. Khoang quanh thận kín ở phía trên, ngoài và trong, nhưng mở xuống dưới tiểu khung, giúp tạo áp lực tự cầm máu khi mạc thận còn nguyên vẹn.
  • Hệ mạch máu thận: Động mạch thận (ĐMT) tách từ động mạch chủ bụng ngang L1, chia nhánh trước và sau rồi phân thành 4 - 5 nhánh động mạch phân thùy (tận cùng, không có vòng nối), tiếp tục chia thành động mạch gian thùy, động mạch cung và động mạch gian tiểu thùy. Tỷ lệ biến thể có nhiều động mạch thận theo Trịnh Xuân Đàn (1999) ở người Việt Nam là 30,3%; động mạch cực thận chiếm 14,7% (cực trên 9,30%, cực dưới 5,43%).
  • Hệ thống đài bể thận: Bể thận hình phễu tiếp nối niệu quản tại vị trí khoảng 1 cm dưới bờ rốn thận; mặt trước bể thận được che phủ bởi các nhánh ĐMT ngoài xoang.
  • Kỹ thuật chụp MSCT 4 thì:
    • Thì không tiêm cản quang: Nhận diện tổn thương nhu mô, tụ máu dưới bao và tụ máu quanh thận (tăng tỷ trọng nhẹ).
    • Thì động mạch (tủy vỏ): Thực hiện sau 15 giây kể từ khi đậm độ động mạch chủ đạt 100 HU (hoặc 30 giây sau tiêm), lớp cắt mỏng 0,5 - 1,25 mm, phát hiện đứt ĐMT, huyết khối, giả phình, thông động tĩnh mạch và dòng chảy máu hoạt động.
    • Thì nhu mô (tĩnh mạch cửa): Đạt được ở 70 - 80 giây sau tiêm, lớp cắt 2,5 - 5 mm, tối ưu để đánh giá rách vỡ nhu mô, nhồi máu phân thùy, tổn thương tĩnh mạch thận và thương tổn tạng ổ bụng phối hợp.
    • Thì bài tiết muộn: Thực hiện từ 3 phút trở lên sau tiêm, phát hiện thoát nước tiểu do tổn thương đài bể thận, rách/đứt khúc nối bể thận - niệu quản (lớp cắt 1,5 - 3 mm). Kỹ thuật dựng hình: MPR, MIP và VR.

Bảng phân loại chấn thương thận theo AAST sửa đổi năm 2018

Độ Tiêu chí tổn thương trên cắt lớp vi tính (CLVT)
Độ I - Đụng dập nhu mô đơn thuần.
- Tụ máu dưới bao.
Độ II - Đường vỡ nhu mô thận < 1 cm không lan tới đường bài tiết.
- Tụ máu quanh thận khu trú trong cân Gerota.
Độ III - Đường vỡ nhu mô thận > 1 cm không lan tới đường bài tiết.
- Tất cả các tổn thương độ thấp đi kèm với tổn thương mạch máu hoặc chảy máu thể hoạt động giới hạn trong cân Gerota.
Độ IV - Đường vỡ nhu mô thận lan tới đường bài tiết.
- Rách bể thận hoặc đứt rời bể thận - niệu quản.
- Tổn thương hoặc nhồi máu động mạch hoặc tĩnh mạch phân thùy.
- Chảy máu thể hoạt động vào khoang sau hoặc trong phúc mạc.
- Nhồi máu phân thùy thận hoặc thận do tắc mạch.
Độ V - Rách động mạch hoặc tĩnh mạch thận chính hoặc đứt rời cuống thận.
- Thiếu máu thận hoàn toàn do chảy máu.
- Vỡ thận phức tạp (shattered kidney).

Phương pháp nghiên cứu

  • Thiết kế nghiên cứu: Nghiên cứu tiến cứu mô tả, có phân tích lâm sàng, theo dõi dọc không có nhóm đối chứng.
  • Cỡ mẫu nghiên cứu: Tính theo công thức ước lượng một tỷ lệ trong nghiên cứu mô tả:

$$n = Z^2_{1-\alpha/2} \cdot \frac{1-p}{\epsilon^2 \cdot p}$$

Trong đó:

  • $p = 0,9$ (tỷ lệ điều trị bảo tồn thành công tham chiếu từ y văn).
  • $\alpha = 0,05 \Rightarrow Z_{1-\alpha/2} = 1,96$.
  • $\epsilon = 0,07$ (độ chính xác tương đối 7%).

Số lượng bệnh nhân tối thiểu tính toán là 87. Luận án đã thu thập đủ 90 bệnh nhân đáp ứng tiêu chuẩn.

  • Tiêu chuẩn lựa chọn: Bệnh nhân chấn thương thận mọi lứa tuổi, giới tính; được chẩn đoán xác định bằng chụp MSCT; được chỉ định điều trị bảo tồn tại Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức; bao gồm chấn thương thận đơn thuần hoặc phối hợp đa chấn thương không có chỉ định mổ mở thận.
  • Tiêu chuẩn loại trừ: Bệnh nhân có rối loạn đông máu nặng, dị ứng thuốc cản quang, bệnh nhân đang mang thai, hoặc bệnh nhân/gia đình không đồng ý tham gia nghiên cứu.
  • Xử lý số liệu: Thu thập thông tin theo bệnh án nghiên cứu thống nhất, phân tích dịch tễ, lâm sàng, cận lâm sàng, hình ảnh MSCT và kết quả theo dõi điều trị ngắn hạn và dài hạn.

Nội dung chính theo từng chương

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN

Chương này trình bày toàn diện cơ sở lý luận và y văn chuyên ngành:

  • Phân tích giải phẫu định khu, hệ mạch máu cuống thận, mạc Gerota và cấu trúc đài bể thận niệu quản liên quan trực tiếp đến cơ chế bệnh sinh.
  • Cơ chế chấn thương: Chấn thương trực tiếp (80% - 85%) và chấn thương gián tiếp do giảm tốc đột ngột (gây rách nội mạc, huyết khối động mạch thận hoặc đứt cuống thận, rách chỗ nối bể thận - niệu quản).
  • Triệu chứng học lâm sàng: Đái máu (chiếm tỷ lệ lớn nhưng không tương xứng với mức độ tổn thương, vắng mặt trong 25% - 40% ca tổn thương nặng như đứt cuống mạch hoặc đứt rời bể thận niệu quản); đau vùng thắt lưng chướng bụng; khối máu tụ hố thắt lưng (34,4%); hội chứng mất máu và sốc chấn thương.
  • Chẩn đoán hình ảnh: Đánh giá vai trò siêu âm (sàng lọc ban đầu, độ nhạy 80%, độ đặc hiệu 98% đối với tổn thương tạng/dịch tự do nhưng hạn chế trong đánh giá sau phúc mạc); khẳng định chụp MSCT 4 thì là tiêu chuẩn vàng.
  • Mô tả chi tiết các dấu hiệu hình ảnh trên MSCT: Tụ máu dưới bao thận (hình thấu kính hai mặt), tụ máu quanh thận, đụng dập nhu mô, đường rách nhu mô nông/sâu, thoát thuốc cản quang thì bài tiết do rách đài bể thận (gặp tới 26,8% trong chấn thương), thận vỡ phức tạp (shattered kidney), nhồi máu phân thùy (hình tam giác đáy quay ra ngoại vi), rách hoặc đứt rời chỗ nối bể thận niệu quản, chảy máu thể hoạt động (vùng thoát thuốc hình ngọn lửa tăng đậm độ ở các thì sau), giả phình động mạch, thông động tĩnh mạch, tổn thương thân động/tĩnh mạch thận chính.
  • Phân tích các phương pháp điều trị bảo tồn: Nội khoa đơn thuần (bất động, hồi sức, theo dõi MSCT lại sau 48 giờ ở độ cao); can thiệp nút mạch qua da DSA (nút mạch chọn lọc/siêu chọn lọc cầm máu thành công 94,9% ở độ III, 89% ở độ IV, 52% ở độ V); nội soi tiết niệu đặt thông JJ (chỉ định khi có rò rỉ nước tiểu, chiếm 29% các ca thoát nước tiểu).
  • Chỉ định và kỹ thuật phẫu thuật mổ mở cấp cứu/trì hoãn và phẫu thuật nội soi xử trí biến chứng.
  • Các biến chứng sớm (chảy máu thứ phát trong 4 tuần đầu chiếm tới 25% ở độ III - IV, nhiễm trùng khối máu tụ, rò nước tiểu, áp xe quanh thận) và biến chứng muộn (tăng huyết áp sau chấn thương chiếm 0% - 9,4% do tăng tiết Renin, teo thận, xơ hóa sau phúc mạc, suy giảm chức năng thận).

CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Chương này mô tả chi tiết phương pháp luận triển khai đề tài:

  • Xác định quần thể 90 bệnh nhân chấn thương thận được điều trị bảo tồn tại Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức từ tháng 10/2013 đến 12/2018 theo tiêu chuẩn chọn mẫu và loại trừ nghiêm ngặt.
  • Thiết kế nghiên cứu tiến cứu, mô tả cắt ngang có phân tích lâm sàng và theo dõi dọc.
  • Quy trình thực hiện: Bệnh nhân vào viện được khám lâm sàng, đánh giá huyết động, làm xét nghiệm sinh hóa - huyết học, siêu âm sàng lọc ổ bụng và chụp MSCT đa dãy 4 thì có tiêm thuốc cản quang.
  • Quy trình phân loại và điều trị bảo tồn tại Bệnh viện Việt Đức:
    • Điều trị nội khoa đơn thuần: Áp dụng cho các độ chấn thương có huyết động ổn định, không có chảy máu hoạt động hoặc rò nước tiểu lớn.
    • Can thiệp mạch (DSA): Chỉ định khi có dấu hiệu thoát thuốc cản quang thể hoạt động trên MSCT, giả phình động mạch, thông động tĩnh mạch hoặc đái máu tái phát/huyết động không ổn định.
    • Nội soi đặt thông JJ: Chỉ định khi rách đường bài tiết, thoát nước tiểu ra quanh thận kéo dài hoặc có ứ trệ bể thận.
  • Bộ chỉ tiêu theo dõi: Đánh giá lâm sàng (mạch, huyết áp, đái máu, khối máu tụ), cận lâm sàng (hồng cầu, huyết sắc tố, hematocrit, ure, creatinin máu), diễn biến hình ảnh MSCT kiểm tra, thời gian nằm viện, biến chứng sớm, tỷ lệ chuyển mổ mở/nội soi và kết quả theo dõi xa (hình thái, chức năng thận).

CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Chương này trình bày toàn bộ số liệu thu thập từ 90 bệnh nhân nghiên cứu:

  • Đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng: Phân tích phân bố theo lứa tuổi, giới tính, nguyên nhân chấn thương (tai nạn giao thông chiếm ưu thế), thời gian từ khi bị tai nạn đến khi nhập viện. Tần suất các triệu chứng cơ năng (đau thắt lưng, mức độ đái máu), toàn thân (tỷ lệ sốc chấn thương khi vào viện, mức độ thiếu máu, xét nghiệm chức năng thận) và tổn thương phối hợp (chấn thương gan, lách, ngực, sọ não, xương).
  • Giá trị chẩn đoán của chụp MSCT:
    • Đánh giá độ chính xác của MSCT trong việc xác định các thương tổn giải phẫu: Tụ máu dưới bao, khối máu tụ quanh thận, đụng dập nhu mô, đường vỡ nhu mô, tổn thương đài bể thận, thoát nước tiểu thì bài tiết muộn.
    • Phát hiện tổn thương mạch máu: Chảy máu thể hoạt động, giả phình mạch, rò động tĩnh mạch, nhồi máu phân thùy.
    • So sánh đối chiếu năng lực chẩn đoán tổn thương thận và tổn thương tạng phối hợp giữa siêu âm và chụp MSCT đa dãy.
    • Phân độ tổn thương theo thang điểm AAST 2018 sửa đổi trên hình ảnh MSCT.
  • Kết quả điều trị bảo tồn:
    • Kết quả xử trí trong 24 giờ đầu: Tỷ lệ đáp ứng điều trị nội khoa, chỉ định can thiệp cấp cứu.
    • Kết quả nhóm điều trị nội khoa đơn thuần: Diễn biến giảm đau, hết đái máu, ổn định huyết động và thời gian hồi phục theo từng độ chấn thương.
    • Kết quả điều trị can thiệp mạch: Tỷ lệ chỉ định nút mạch, đối chiếu hình ảnh tổn thương giữa MSCT và DSA, vị trí nhánh mạch tổn thương, tỷ lệ nút mạch thành công cầm máu, diễn biến lâm sàng sau nút mạch.
    • Kết quả nội soi đặt thông JJ: Thời điểm can thiệp, sự cải thiện tình trạng thoát nước tiểu và dẫn lưu đài bể thận trên lâm sàng và siêu âm/MSCT kiểm tra.
    • Biến chứng và xử trí biến chứng sớm: Tỷ lệ xuất hiện biến chứng (chảy máu thứ phát, nhiễm khuẩn ổ tụ dịch/máu quanh thận), các biện pháp xử trí bảo tồn bổ sung hoặc can thiệp phẫu thuật nội soi/mổ mở khi thất bại.
    • Phân loại kết quả chung: Đánh giá kết quả điều trị khi ra viện và mối liên quan giữa kết quả điều trị bảo tồn với phân độ chấn thương thận, tổn thương mạch máu và sự hiện diện của dấu hiệu thoát thuốc cản quang thể hoạt động.
    • Kết quả theo dõi xa: Đánh giá biến chứng muộn (tăng huyết áp, teo thận, ứ nước bể thận) và phục hồi chức năng/hình thái thận trên MSCT kiểm tra.

CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN

Tác giả phân tích, đối chiếu kết quả nghiên cứu với y văn trong nước và quốc tế:

  • Bàn luận đặc điểm bệnh học: Phân tích đặc điểm dịch tễ chấn thương thận tại Việt Nam, cơ chế chấn thương do tai nạn giao thông, sự che lấp triệu chứng của các chấn thương phối hợp và giá trị của các dấu hiệu lâm sàng/xét nghiệm trong định hướng chẩn đoán ban đầu.
  • Bàn luận giá trị của MSCT:
    • Khẳng định tính ưu việt của chụp MSCT 4 thì so với siêu âm và niệu đồ tĩnh mạch (NĐTM). MSCT cho phép đánh giá chính xác vị trí, kích thước khối máu tụ, chiều sâu đường rách nhu mô và tình trạng tưới máu thận.
    • Nhấn mạnh giá trị của thì động mạch trong việc phát hiện thoát thuốc cản quang thể hoạt động, giả phình và thông động tĩnh mạch; giá trị của thì muộn trong chẩn đoán rách đường bài tiết.
    • Phân tích sự phù hợp và tính ứng dụng của thang phân độ AAST sửa đổi năm 2018 trên phim chụp MSCT trong việc tiên lượng và chỉ định điều trị.
  • Bàn luận kết quả điều trị bảo tồn:
    • Nội khoa đơn thuần: Đánh giá tính an toàn ở chấn thương thận độ I, II, III và một phần độ IV có huyết động ổn định; thảo luận về chế độ bất động và thời gian theo dõi MSCT lại sau 48 giờ.
    • Can thiệp nút mạch: Phân tích hiệu quả cầm máu của kỹ thuật nút mạch siêu chọn lọc qua DSA dưới hướng dẫn của MSCT, giúp kiểm soát chảy máu thể hoạt động mà không làm mất diện tích lớn nhu mô thận lành, hạn chế tối đa nguy cơ suy thận cấp và hội chứng sau nút mạch.
    • Nội soi đặt thông JJ: Bàn luận về vai trò giải áp đài bể thận, tạo điều kiện liền sẹo tự nhiên đường bài xuất và giảm hình thành khối tụ nước tiểu sau phúc mạc.
    • Theo dõi xa và tiên lượng: Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến sự phục hồi chức năng thận, nguy cơ tăng huyết áp do thiếu máu cục bộ thận và giá trị của MSCT trong việc phát hiện sớm các di chứng teo thận sau chấn thương.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp về mặt lý luận và khoa học

  • Khẳng định và chuẩn hóa vai trò của chụp cắt lớp vi tính đa dãy 4 thì (không cản quang, động mạch, nhu mô, bài tiết muộn) như một tiêu chuẩn vàng bắt buộc trong chẩn đoán, đánh giá toàn diện thương tổn giải phẫu và tưới máu thận trong chấn thương thận.
  • Cung cấp bằng chứng thực tiễn về giá trị ứng dụng của bảng phân loại chấn thương thận AAST 2018 sửa đổi tại Việt Nam, đặc biệt là việc nâng độ các tổn thương mạch máu có thoát thuốc cản quang thể hoạt động vào nhóm chấn thương nặng để chỉ định can thiệp kịp thời.

Đóng góp về mặt thực tiễn lâm sàng

  • Xây dựng và hoàn thiện quy trình phối hợp đa chuyên khoa (Ngoại Tiết niệu - Chẩn đoán hình ảnh/Điện quang can thiệp) trong điều trị bảo tồn chấn thương thận tại Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức.
  • Xác định rõ tiêu chuẩn chỉ định các can thiệp ít xâm lấn:
    • Can thiệp nút mạch chọn lọc cấp cứu qua DSA khi phát hiện thoát thuốc cản quang thể hoạt động hoặc các biến chứng mạch máu (giả phình động mạch, thông động tĩnh mạch) trên MSCT.
    • Nội soi đặt thông niệu quản JJ ngược dòng đối với tổn thương rách đài bể thận, thoát nước tiểu dai dẳng.
  • Mở rộng chỉ định điều trị bảo tồn thành công cho các chấn thương thận độ cao (độ IV và một số trường hợp độ V) có huyết động ổn định, giúp giảm thiểu đáng kể tỷ lệ phẫu thuật mở cắt thận không cần thiết, bảo tồn tối đa nhu mô và chức năng thận của người bệnh.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Nghiên cứu được thực hiện tại một trung tâm ngoại khoa tuyến cuối (Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức), tập trung vào nhóm bệnh nhân điều trị bảo tồn (đã loại trừ các trường hợp sốc mất máu không hồi phục phải mổ mở cấp cứu ngay hoặc bệnh nhân có chống chỉ định tiêm thuốc cản quang/rối loạn đông máu nặng). Cỡ mẫu nghiên cứu dừng lại ở 90 bệnh nhân.
  • Hướng nghiên cứu tiếp:
    • Tiếp tục mở rộng nghiên cứu đa trung tâm với cỡ mẫu lớn hơn để chuẩn hóa phác đồ điều trị bảo tồn chấn thương thận cho các tuyến y tế cơ sở có trang bị máy MSCT.
    • Theo dõi dài hạn hơn nữa chức năng thận riêng biệt sau chấn thương bằng phương pháp chụp xạ hình thận (đồng vị phóng xạ - ĐVPX) và theo dõi biến chứng tăng huyết áp thứ phát qua xét nghiệm nồng độ Renin máu.

Giá trị tham khảo

Luận án có giá trị tham khảo thiết thực cho:

  • Bác sĩ Ngoại Tiết niệu, Ngoại Chấn thương và Cấp cứu: Tham khảo quy trình chẩn đoán, tiêu chuẩn theo dõi lâm sàng và lưu đồ chỉ định điều trị bảo tồn, giảm thiểu can thiệp phẫu thuật mở không cần thiết.
  • Bác sĩ Chẩn đoán hình ảnh và Điện quang can thiệp: Tham khảo quy trình chụp MSCT đa dãy 4 thì tối ưu trong chấn thương thận, các dấu hiệu nhận diện tổn thương mạch máu tinh tế và kỹ thuật nút mạch chọn lọc điều trị chảy máu.
  • Học viên sau đại học, nghiên cứu sinh: Là tài liệu chuyên khảo chuyên ngành Ngoại Thận và Tiết niệu (mã số 62 72 01 26), cung cấp phương pháp luận nghiên cứu lâm sàng tiến cứu và tổng hợp y văn giải phẫu, bệnh học hệ tiết niệu.

Câu hỏi thường gặp

1. Kỹ thuật chụp MSCT trong chẩn đoán chấn thương thận gồm những thì nào và thời điểm thực hiện ra sao?

Kỹ thuật chụp MSCT trong chấn thương thận cần thực hiện qua 4 thì:

  • Thì không cản quang: Chụp ban đầu trước khi tiêm thuốc để phát hiện đụng dập nhu mô, tụ máu dưới bao và tụ máu quanh thận.
  • Thì động mạch (tủy vỏ): Thực hiện sau 15 giây kể từ khi đậm độ thuốc ở động mạch chủ bụng đạt 100 HU (hoặc 30 giây sau tiêm), giúp phát hiện rách, đứt, huyết khối động mạch thận, giả phình, rò động tĩnh mạch và dòng chảy máu hoạt động.
  • Thì nhu mô (tĩnh mạch cửa): Thực hiện ở 70 - 80 giây sau tiêm, giúp đánh giá rách vỡ nhu mô, tổn thương tĩnh mạch và các tạng ổ bụng phối hợp.
  • Thì bài tiết muộn: Thực hiện từ 3 phút trở lên sau tiêm, giúp đánh giá sự toàn vẹn của đài bể thận, khúc nối bể thận niệu quản và hiện tượng rò rỉ nước tiểu ra khoang quanh thận.

2. Thang phân độ AAST 2018 sửa đổi có điểm gì mới so với các phân loại trước đây?

Thang phân độ AAST 2018 sửa đổi đã cập nhật chi tiết các tổn thương mạch máu trên phim chụp cắt lớp vi tính. Cụ thể: tổn thương độ thấp đi kèm tổn thương mạch máu hoặc chảy máu thể hoạt động khu trú trong cân Gerota được xếp vào độ III; tổn thương động/tĩnh mạch phân thùy, nhồi máu phân thùy thận hoặc chảy máu thể hoạt động lan ra ngoài cân Gerota vào khoang sau phúc mạc/trong phúc mạc được xếp vào độ IV; tổn thương cuống mạch chính (rách, đứt rời ĐTMT chính) hoặc thiếu máu thận hoàn toàn do chảy máu được xếp vào độ V.

3. Các dấu hiệu nào trên MSCT dự đoán nguy cơ và chỉ định can thiệp nút mạch trong chấn thương thận?

Các dấu hiệu dự đoán nguy cơ và chỉ định nút mạch gồm: dấu hiệu thoát thuốc cản quang thể hoạt động (chảy máu hoạt động hình ngọn lửa), hình ảnh túi giả phình động mạch, thông động tĩnh mạch, tổn thương đường vỡ thận phức tạp ở vùng giữa thận, và kích thước khối máu tụ quanh thận lớn (với các thông số dự báo của Nuss G.: độ dày khối máu tụ PRD $\ge$ 4 cm, diện tích máu tụ HA $\ge$ 128,3 cm², tỷ lệ HKR $\ge$ 2,75).

4. Chỉ định và vai trò của nội soi tiết niệu đặt thông JJ trong điều trị bảo tồn chấn thương thận là gì?

Nội soi đặt thông JJ được chỉ định cho các trường hợp chấn thương thận có vỡ lan vào đài bể thận gây thoát nước tiểu dai dẳng ra khoang sau phúc mạc hoặc rách một phần chỗ nối bể thận niệu quản. Thủ thuật giúp dẫn lưu nước tiểu thông suốt từ đài bể thận xuống bàng quang theo đường tự nhiên, giảm áp lực tại ổ thương tổn, giúp đường rách nhanh liền và ngăn ngừa hình thành khối áp xe, bọc nước tiểu quanh thận (urinoma).

5. Những biến chứng sớm và muộn nào cần theo dõi trong điều trị bảo tồn chấn thương thận?

  • Biến chứng sớm (trong 4 tuần đầu): Chảy máu thứ phát (thường do vỡ túi giả phình hoặc thông động tĩnh mạch, xuất hiện trung bình sau 12 ngày), nhiễm trùng khối máu tụ, rò rỉ nước tiểu kéo dài, áp xe quanh thận, ứ nước thận do cục máu đông bít tắc niệu quản.
  • Biến chứng muộn: Tăng huyết áp sau chấn thương (do thiếu máu cục bộ nhu mô thận gây tăng tiết renin quá mức), xơ teo nhu mô thận, chít hẹp đường bài xuất gây thận ứ nước mạn tính và mất chức năng thận chấn thương.

Kết luận

Luận án tiến sĩ y học của tác giả Ngô Trung Kiên đã nghiên cứu toàn diện giá trị của chụp cắt lớp vi tính đa dãy (MSCT) trong chẩn đoán và định hướng điều trị bảo tồn chấn thương thận trên 90 bệnh nhân tại Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức. Kết quả nghiên cứu khẳng định MSCT đa pha là tiêu chuẩn vàng giúp phân loại chính xác mức độ tổn thương nhu mô, mạch máu và đường bài tiết theo AAST 2018 sửa đổi. Sự kết hợp đồng bộ giữa điều trị nội khoa, can thiệp nút mạch cấp cứu qua DSA và nội soi đặt thông JJ đã tối ưu hóa hiệu quả điều trị bảo tồn, kiểm soát tốt các biến chứng sớm và muộn, đồng thời bảo tồn tối đa cấu trúc giải phẫu và chức năng thận của người bệnh.