Chương 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan nghiên cứu về cây thuốc 1. Tổng quan nghiên cứu cây thuốc trên thế giới Trong các xã hội cổ xưa, thậm chí đến tận ngày nay, người ta nghĩ rằng bệnh tật là do sự trừng phạt của các thế lực siêu tự nhiên. Do đó các thầy lang đã chữa bệnh bằng các lời cầu nguyện, nghi lễ cúng thần linh và ma lực của cây cỏ.
Cây cỏ làm thuốc được lựa chọn bởi màu sắc, mùi, hình dáng hay sự hiếm có của chúng. Việc sử dụng cây cỏ làm thuốc là một quá trình đúc rút kinh nghiệm trải qua nhiều thế hệ. Trong quá trình hình thành xã hội loài người, mỗi quốc gia đều có những dân tộc đại diện rất khác nhau, do đó mỗi nước cũng hình thành nền Y học cổ truyền riêng của mình. Các nghiên cứu khảo cổ cho thấy người Neanderthal cổ ở Iraq từ 60.000 năm trước đã biết sử dụng một số cây cỏ mà ngày nay vẫn thấy sử dụng trong Y học cổ truyền như Cỏ thi, Cúc bạc.
Người bản xứ Mêhicô từ nhiều nghìn năm về trước đã biết sử dụng các loài xương rồng Mêhicô mà theo khoa học ngày nay cho biết là có chứa các chất gây ảo giác và kháng khuẩn.[1] Các tài liệu cổ xưa nhất về sử dụng cây thuốc đã được người Ai Cập cổ đại ghi chép trong thời gian khoảng 3.600 năm trước đây với 800 bài thuốc và trên 700 cây thuốc trong đó có cây Lô hội, Kỳ nham, Gai dầu. Người Trung Quốc cổ đại ghi chép trong bộ Thần nông bản thảo 365 vị và loài cây thuốc (khoảng 5.000 năm trước đây).[2] Nền y học cổ truyền của Trung Quốc và Ấn Độ đều ghi nhận lịch sử sử dụng các cây cỏ làm thuốc có cách đây 3. Vào đầu thế kỷ thứ II ở Trung Quốc, người ta đã biết dùng các lá của cây chè (Thea LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.) đặc để rửa các vết thương và tắm ghẻ [8]. Thần Nông là người đầu sưu tầm, ghi chép nên 365 vị thuốc Đông Y trong cuốn sách "Mục lục thuốc thảo mộc" từ hàng ngàn năm trước đây.
Từ thời cổ xưa các chiến binh La Mã đã dùng cây Lô hội (Aloe barbadensis Mill.) để rửa các vết thương cho chóng lành sẹo [8] mà ngày nay đã được các nhà khoa học trong và ngoài nước chứng minh [9, 10, 14]. Kinh nghiệm của người cổ Hy Lạp và La Mã dùng vỏ quả Óc chó (Juglans regia L.) dùng để chữa loét vết thương lâu ngày [8,15]. Ở các nước Nga, Đức, Trung Quốc người ta đã dùng cây Mã đề (Plantago major L.) sắc nước hoặc giã lá tươi đắp chữa trị vết thương [8]. Ở Cuba người ta dùng bột papain lấy từ mủ cây Đu đủ (Carica papaya L.) để kích thích tổ chức các hạt ở vết thương phát triển [8].
Người Haiti hay ở Đôminic thường dùng cây Cỏ lào (Eupatorium odoratum L.) để làm thuốc chữa các vết thương bị nhiễm khuẩn hay cầm máu, áp xe, vết loét lâu ngày không liền sẹo. [8, 16, 17, 18]Từ lâu đời người dân Pê Ru đã dùng hạt cây Sen cạn (Tropaeolum majus L.) để điều trị bệnh phổi và đường tiết niệu [19, 20, 10]. Người dân Ấn Độ từ lâu đã dùng lá của cây Ba ché (Desmodium triangulare (Retz.) để chữa kiết lị và tiêu chảy [23]. Người dân Phillipin dùng vỏ cây Bồ cu vẽ (Breynia fruticosa (L.f) để làm thuốc cầm máu, chữa lở loét chóng lành.
Người dân Malaysia dùng cây Húng chanh (Coleus amboinicus Lour.) dùng cho phụ nữ sau khi sinh nở, cây Hương nhu tía (Ocimum sanctum L.) chữa bệnh sốt rét và bệnh ngoài da rất tốt [9]. Người dân Bungari thì dùng cây Hoa hồng là biểu trưng của đất nước để chữa nhiều chứng bệnh [24]. Đông y Trung Quốc dùng cây Ngải cứu (Artemisia rulgaris L.) trị thổ huyết trực tràng xuất huyết và các bệnh phụ nữ rất có hiệu quả. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 Trong sách "Cây thuốc Trung Quốc" xuất bản năm 1985 đã liệt kê một loạt các cây cỏ chữa bệnh như Gấc (Monordica cochinchinensis (Lour.) chữa nhọt độc viêm tuyến hạch, hạt chữa sưng tấy đau khớp, tụ máu.
Cải soong (Nasturtium officinale R.) giải nhiệt, chữa lở mồm, chảy máu chân răng. Đời nhà Hán năm 168 Trước Công Nguyên tại Trung Quốc trong cuốn sách "Thủ hận bị cấp phương" tác giả đã liệt kê 52 đơn thuốc chữa bệnh từ các loài cây cỏ. Vào giữa Thế kỷ XVI đời Lý, Lý Thời Trân đã thống kê được 12.000 vị thuốc trong tập "Bản thảo cương mục" được nhà xuất bản Y học trích dẫn năm 1963 [25]. Trong chương trình điều tra cơ bản nguồn tài nguyên thiên nhiên khu vực Đông Nam Á, Perry đã nghiên cứu hơn 1.000 tài liệu khoa học về thực vật và dược liệu đã được công bố và được các nhà khoa học kiểm chứng và tổng hợp thành cuốn sách về cây thuốc vùng Đông và Đông Nam Á "Medicinal Plants of East and South east Asia" 1985 [27].
Theo thống kê của tổ chức Y học thế giới (WHO) thì đến năm 1985 đã có gần 20.000 loài thực vật (trong tổng số 250.000 loài đã biết) được sử dụng làm thuốc hoặc cung cấp các hoạt chất để chế biến thuốc [7].000 loài [6, 7], Trung Quốc có khoảng 5.000 loài [27], vùng nhiệt đới Châu Mỹ có hơn 1. Cũng theo WHO thì mức độ sử dụng thuốc y học cổ truyền ngày càng cao, ở Trung Quốc tiêu thụ hàng năm hết khoảng 700.000 tấn dược liệu [27]. Sản phẩm y học dân tộc đạt giá trị hơn 1.7 tỷ USD vào năm 1986 [28]. Nhật Bản năm 1979 nhập 21.000 tấn, đến năm 1980 tăng lên 22.640 tấn dược liệu tương đương 50 triệu USD [6, 7].
Điều đó chứng tỏ đối với các nước công nghiệp phát triển thì việc sử dụng cây thuốc phục vụ cho nền y học cũng phát triển mạnh. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 Ngày nay theo thống kê của WWF trên thế giới có khoảng 250.000 loài thực vật bậc cao thì có đến 35.000 loài được sử dụng vào mục đích chữa bệnh [29, 30]. Trong đó Trung Quốc có trên 10.000 loài [32], Ấn Độ có khoảng 7.000 loài [33, 34], Indonesia có khoảng 7.500 loài, Malaysia có khoảng 2.000 loài [25], Hàn Quốc có khoảng 1.000 loài có thể sử dụng được trong y học truyền thống [36]. Châu Mỹ La Tinh nơi có chứa 1/3 số loài thực vật trên thế giới cũng có truyền thống sử dụng cây cỏ làm thuốc, đặc biệt là ở người dân bản địa.
Schule đã phát hiện gần 2.000 loài cây thuốc được sử dụng ở vùng Amazon thuộc Colombia [37]. Các quốc gia Châu Phi số loài cây thuốc ít hơn như Somalia có 200 loài [38], Botswana có 314 loài [2]. Các hoạt động mưu cầu cuộc sống của con người ngày nay đã và đang gây sức ép lên sự sinh tồn của các loài cây thuốc trên thế giới. Nhiều loài thuốc quý hiếm bị khai thác bừa bãi nên đang đứng trước nguy cơ bị tuyệt chủng hoặc đã bị tuyệt chủng.
Theo Raven (1987) và Ole Harmann (1988) trong vòng hơn một trăm năm trở lại đây, có khoảng 1.000 loài thực vật đã bị tuyệt chủng, khoảng 60.000 loài bị gặp rủi ro hoặc sự tồn tại bị đe dọa vào thế kỷ sau. Trong số những loài thực vật bị đe dọa có một tỷ lệ không nhỏ của thực vật có khả năng làm thuốc, hoặc khả năng này con người chưa phát hiện mà đã bị tuyệt chủng [39]. Theo WB, tri thức truyền thống về y học ở Châu Phi, Châu Á, Châu Mỹ La Tinh rất dễ bị đe dọa. Tri thức này đang bị mất với tốc độ nhanh hơn các di sản trí tuệ bản địa khác [40].
Trên thế giới có khoảng 1.000 loài cây thuốc đang đối mặt với nguy cơ tuyệt chủng. Trong số đó có khoảng 120 loài ở Ấn Độ [40], 77 loài ở Trung Quốc, 75 loài ở Maroco [37], 61 loài ở Thái Lan [41] và 35 loài ở Băngladet [42]. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 Trước tình hình suy thoái các nguồn gen động thực vật nói chung, trên thế giới đã quan tâm đến vấn đề ngăn chặn sự tuyệt chủng, bảo vệ các nguồn gen quý hiếm từ rất sớm. Công ước CITES (ngày 30 tháng 03 năm 1973) tại Washington với mục tiêu về buôn bán quốc tế các loài động thực vật hoang dã nguy cấp.
Đây chính là công cụ hỗ trợ các quốc gia ngăn chặn buôn bán quốc tế bất hợp pháp không bền vững động thực vật hoang dã, nâng cao nhận thức về bảo tồn loài. Tại Hội nghị quốc tế về bảo tồn quỹ gen cây thuốc họp từ ngày 21 - 27 tháng 03 năm 1983 tại Chiềng Mai - Thái Lan, hàng loạt các công trình nghiên cứu về tính đa dạng và việc bảo tồn cây thuốc đã được đặt ra [28]. Công ước đa dạng sinh học của hội nghị thượng đỉnh về môi trường tại Rio de Janiero năm 1992 có các mục tiêu về bảo tồn đa dạng sinh học, sử dụng các thành phần của đa dạng sinh học, chia sẻ công bằng lợi ích thu được từ việc sử dụng nguồn gen. Công ước nhấn mạnh đến tầm quan trọng của việc bảo tồn trong các điều kiện tự nhiên với các hoạt động hỗ trợ cho bảo tồn các khu tự nhiên, giải quyết các nhu cầu xác định và giám sát các thành phần đa dạng sinh học quan trọng.
Công ước là chìa khóa quan trọng để ngăn chặn sự tuyệt chủng của các loài động thực vật hoang dã nói chung và thực vật làm thuốc nói riêng trong thế kỷ 21. Tổng quan nghiên cứu cây thuốc ở Việt Nam Việt Nam được đánh giá là nước đứng thứ 16 trên thế giới về sự phong phú và đa dạng sinh vật. Trong đó hệ thực vật cũng rất phong phú và đa dạng. Hiện nay, đã biết 10.386 loài thực vật bậc cao có mạch, dự đoán có thể tới 12.000 loài cây có ích, được sử dụng làm thuốc, rau ăn, lấy gỗ, thuốc nhuộm.Nguồn tài nguyên cây cỏ chủ yếu tập trung ở 6 Trung tâm đa dạng sinh vật trong cả nước là Đông Bắc, Hoàng Liên Sơn, Cúc Phương, Bạch Mã, Tây Nguyên và Cao nguyên Đà Lạt [43].
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 Việt Nam có nguồn y học cổ truyền giàu truyền thống, phong phú về các cây thuốc, bài thuốc và vị thuốc.000 năm dựng nước và giữ nước người Việt Nam phải đấu tranh với thiên nhiên, bệnh tật và chiến tranh, dần dần đã tích lũy được kinh nghiệm và tri thức trong sử dụng cây thuốc. Việt Nam có 54 dân tộc khác nhau. Từ ngàn đời nay, họ đã có nhiều kinh nghiệm sử dụng nguồn cây cỏ và động vật sẵn có để bồi bổ sức khỏe và làm thuốc phòng chữa bệnh.