CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỂ KINH TÊ HÀNG HOÁ VÀ VAI TRÒ CỦA TÍN DỤNG NGÂN HÀNG Đ ố i VỚI VIỆC PHÁT TRIEN k i n h t ê HÀNG HOÁ TRONG NÔNG NGHIỆP, NÔNG THÔN Ở VIỆT NAM. Lý luận chung về kinh tê hàng hoá 1. Những nhận thức cơ bản về nền kinh tê hàng hoá. Lịch sử xã hội loài người trải qua quá trình phát triển từ thấp đến cao, mỗi hình thái kinh tế xã hội với tính chất và đặc điểm của nó đều tồn tại một hình thức tổ chức sản xuất phù hợp tương ứng, phản ánh sự phát triển của lực lượng sản xuất xã hội và mối quan hệ biện chứng, phù hợp giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất; trong đó sự phát triển của quan hệ sản xuất phải phù hợp với tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất.
Kinh tê tự nhiên: Hình thức tổ chức sản xuất mang tính xã hội đơn giản nhất là tự cung tự cấp, hay còn gọi là kinh tế tự nhiên, trong đó người ta chỉ sản xuất ra những sản phẩm phục vụ cho nhu cầu của chính mình hay những người trong cộng đồng nhỏ bao gồm một sô ít người nhất định. Với mô hình kinh tế tự nhiên, việc sản xuất ra sản phảm gì, sản xuất như thế nào, sản xuất với số lượng bao nhiêu do chính nhu cầu của những người trực tiếp sản xuất quyết định. Chính vì vậy, đặc trưng nổi bật của nền kinh tế tự nhiên là sản xuất để phục vụ cho chính mình. Đặc điểm chính của kinh tế tự nhiên là: - Mục đích của quá trình sản xuất là tạo ra giá trị sử dụng.
Trong nền kinh tế tự nhiên, quá trình sản xuất là để phục vụ chính người sản xuất, sự trao đổi sản phẩm giữa những người sản xuất cho nhau diễn ra rất hạn chê và cũng chỉ để thoả mãn nhu cầu bức thiết của cuộc sống nên những người đem sản phẩm của mình để đổi lấy sản phẩm của người khác cũng chỉ quan tâm 6 đến cái mình đổi được sẽ thoả mãn được những nhu cầu gì cho mình mà thôi. - Người sản xuất đồng thời chính là người tiêu dùng. - Các quan hệ kinh tế ở trình độ thấp và mang hình thái hiện vật là chủ yếu. Xuất phát từ hai đặc trưng trên, nếu người sản xuất ra sản phẩm này cần một sản phẩm khác thì họ tìm đến người có thứ mình cần để trao đổi với cái mình làm ra.
Tính chất của nền kinh tế tự nhiên một mặt do sự phát triển của lực lượng sản xuất cũng như mối quan hệ giao lưu kinh tế thời kỳ đó quyết định; mặt khác những đặc trưng của nền kinh tế tự nhiên lại cản trở sự phát triển của lực lượng sản xuất; hạn chế sự phát triển và nâng cao tay nghề. Trong nền kinh tế tự nhiên, năng suất lao động đạt thấp, sản xuất có tính chất bó hẹp trong từng vùng và phụ thuộc nhiều vào điều kiện tự nhiên. Về quan hệ sản xuất, do tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất thấp kém và lạc hậu nên quan hệ sản xuất thay đổi hết sức chậm chạp; hệ thống các yếu tố của quan hệ sản xuất như quan hệ sở hữu, quan hệ tổ chức và quản lý, quan hệ phân phối, cũng như các quan hệ kinh tế trong sản xuất, phân phối, trao đổi và tiêu dùng đều lạc hậu, sơ khai, thấp kém. Càng ngày, cùng với sự phát triển đi lên của lực lượng sản xuất, sự thay đổi phù hợp của quan hệ sản xuất, sự phân công lao động xã hội ngày càng cao và cùng với sự hình thành các chê độ sở hữu khác nhau về tư liệu sản xuất, nền kinh tế tự nhiên sẽ dần dần phát triển trở thành nền kinh tế hàng hoá.
Kinh tê hàng hoá: Kinh tế hàng hoá là hình thức tổ chức kinh tế xã hội mà trong đó hình thái phổ biến của sản xuất là sản xuất ra hàng hoá để bán, để trao đổi trên thị trường, v ề mặt mục đích của quá trình sản xuất thì đây là điểm khác biệt cơ bản so với kinh tế tự nhiên, bởi kinh tế tự nhiên nói chung sản xuất để phục 7 vụ hay thoả mãn nhu cầu của chính người sản xuất, còn kinh tế hàng hoá thì hướng tới nhu cầu của người khác, nhu cầu của thị trường, của xã hội. Do đó trong kinh tế hàng hoá, người sản xuất và người tiêu dùng là hai chủ thể độc lập và phụ thuộc lẫn nhau, đó là người bán và người mua. Trong nền kinh tê hàng hoá, mục đích của sản xuất là lợi nhuận, quá trình tái sản xuất xã hội bao gồm sản xuất- phân phối- trao đổi- tiêu dùng; các mối quan hệ kinh tế có điều kiện phát triển và không ngừng hoàn thiện, các tiến bộ khoa học kỹ thuật được vận dụng vào quá trình sản xuất nhanh chóng, năng suất lao động cao, sản phẩm ngày càng phong phú và đa dạng, chất lượng sản phẩm cũng như khả năng thoã mãn nhu cầu người tiêu dùng không ngừng được cải tiến. Kinh tế hàng hoá có những ưu điểm hơn hẳn kinh tế tự nhiên là: Một là, Do sự phát triển của phân công lao động xã hội, quá trình chuyên môn hoá ngày càng cao, các mối quan hệ kinh tế ngày càng phát triển, trình độ sản xuất ngày càng tăng do đó năng xuất lao động tăng, lực lượng sản xuất phát triển một cách nhanh chóng.
Hai là, Sản xuất hàng hoá là sản xuất cái người tiêu dùng cần đến. Do đó để thoả mãn nhu cầu ngày càng cao, càng phong phú và khắt khe của người tiêu dùng thì người sản xuất phải không ngừng cải tiến kỹ thuật sản xuất, nâng cao chất lượng, hạ giá thành, chú trọng cả về chất lượng lẫn mẫu mã của hàng hoá, tăng khả năng cạnh tranh của hàng hoá mình sản xuất trên thị trường. Chính vì vậy kinh tế hàng hoá rất năng động và linh hoạt. Ba là, Vì mục tiêu lợi nhuận nên trong kinh tế hàng hoá, các nhà sản xuất không ngừng tìm kiếm các yếu tố đầu vào mới, rẻ, tiết kiệm chi phí, v.
dẫn đến các nguồn lực bao gồm cả tài nguyên thiên nhiên và nguồn nhân lực được huy động và sử dụng tối đa, quá trình tích tụ và tập trung sản xuất ngày càng cao, sản phẩm hàng hoá sản xuất ra có xu hướng chất lượng ngày càng tăng và giá thành ngày càng hạ. 8 Kinh tế hàng hoá càng phát triển đi kèm với các quan hệ hàng hoá-tiền tệ-thị trường phát triển. Khi các mối quan hệ này trở thành các mối quan hệ phổ biến trong nền kinh tế thì kinh tế hàng hoá chuyển thành kinh tế thị trường. Như vậy, kinh tế thị trường là hình thức phát triển cao của kinh tế hàng hoá.
Hay nói cách khác, kinh tế thị trường là kinh tế hàng hoá vận động theo co chế thị trường. Khi nghiên cứu kinh tế thị trường, các nhà kinh tế học cho rằng: Kinh tế thị trường bao gồm kinh tế thị trường cổ điển và kinh tế thị trường hiện đại. Kinh tế thị trường cổ điển hay còn gọi là kinh tế thị trường hoàn hảo, trong đó sự vận hành của nền kinh tế hoàn toàn do các quy luật kinh tế của nền kinh tế thị trường chi phối (hay còn gọi là "bàn tay vô hình" như cách nói của A.Smith- nhà Kinh tế học tư sản cổ điển Anh thế kỷ XVIII). Kinh tế thị trường hiện đại là nền kinh tế thị trường trong đó có sự tác động của cả "bàn tay vô hình" và "bàn tay hữu hình", tức có sự chi phối, điều tiết nền kinh tế của Nhà nước.
Trong thời đại ngày nay, khi nền kinh tế thế giới đã phát triển ở trình độ cao, lĩnh vực khoa học kỹ thuật có những thành tựu rực rỡ, các mối quan hệ kinh tế phát triển đến độ hoàn thiện, cùng với xu hướng quốc tế hoá, toàn cầu hoá nền kinh tế thì bản thân mỗi nền kinh tế chịu tác động rất lớn của các nhân tố bên trong và bên ngoài; hơn nữa nền kinh tế thị trường bên cạnh những ưu điểm vốn có thì cũng có nhiều tồn tại cần phải được điều chỉnh. Chính vì vậy vai trò quản lý, điều tiết nền kinh tế của Nhà nước đóng một vai trò không thể thiếu được trong nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường ngày nay. Như vậy, con đường phát triển tuần tự của nền sản xuất xã hội là đi từ sản xuất tự nhiên, tự cung tự cấp sang nền kinh tế hàng hoá giản đơn, tiếp đến là từ nền kinh tế hàng hoá giản đơn phát triển lên kinh tế hàng hoá vận hành theo cơ chế thị trường, tức nền kinh tế thị trường. Các Mác cho rằng: 9 theo sự phát triển của lịch sử tự nhiên của nền sản xuất xã hội thì bước đi tất yếụ của kinh tế tự nhiên là tiến lên kinh tế hàng hoá giản đơn, nhân tố cơ bản thúc đẩy quá trình này là sự phân công lao động xã hội.
Tiếp đến, nhờ sự tác động của quy luật giá trị và các quy luật khác dần dần hình thành và phát triển như quy luật cung cầu, quy luật cạnh tranh, v. mà kinh tế hàng hoá giản đơn phát triển lên thành kinh tế thị trường. Trong điều kiện ngày nay, nhờ sự phát trển mạnh mẽ của khoa học và công nghệ, xu hướng quốc tế hoá, toàn cầu hoá trở thành xu thế phát triển của toàn thế giới, cùng với vai trò điều tiết, can thiệp của Nhà nước cho phép không cần thiết phải phát triển nền kinh tế theo con đường tuần tự mà có thể phát triển kết hợp giữa tuần tự và nhảy vọt, đi trước, đón đầu. Tức kết hợp giữa phát triển từ kinh tế tự nhiên lên kinh tế hàng hoá giản đơn và từ kinh tế tự nhiên tiến thẳng lên kinh tế thị trường.