Luận án tiến sĩ nghiên cứu ứng dụng mô hình tính toán phát thải khí nhà kính từ một số hệ thống xử lý nước thải ở việt nam

Luận án tiến sĩ nghiên cứu mô hình tính toán phát thải khí nhà kính từ hệ thống xử lý nước thải tại Việt Nam, góp phần bảo vệ môi trường.

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2019

151
26
1

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. MỞ ĐẦU

1.1. Tính cấp thiết của luận án

1.2. Mục tiêu nghiên cứu của luận án

1.3. Đối tượng nghiên cứu của luận án

1.4. Nội dung nghiên cứu của luận án

1.5. Phạm vi nghiên cứu của luận án

1.6. Phương pháp nghiên cứu của luận án

1.7. Ý nghĩa khoa học và tính thực tiễn của luận án

1.8. Những đóng góp mới của luận án

1.9. Cấu trúc luận án

2. TỔNG QUAN VỀ BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU VÀ KHÍ NHÀ KÍNH

2.1. Lịch sử về hội nghị thế giới khí hậu

2.2. Khái niệm về biến đổi khí hậu

2.3. Hiệu ứng nhà kính. Khí nhà kính và các nguồn phát thải khí nhà kính

2.3.1. Khái niệm về khí nhà kính

2.3.2. Các nguồn phát thải khí nhà kính

2.3.3. Phát thải khí nhà kính từ nguồn chất thải

2.3.4. Phát thải khí nhà kính từ hệ thống xử lý nước thải

2.3.4.1. Các nguồn phát thải khí nhà kính từ hệ thống xử lý nước thải
2.3.4.2. Phát thải khí nhà kính từ sản xuất điện năng phục vụ hệ thống xử lý
2.3.4.3. Phát thải khí nhà kính trong quá trình xử lý nước thải

2.4. Tổng quan về các nghiên cứu tính toán phát thải khí nhà kính trên thế giới và Việt Nam

2.4.1. Nghiên cứu trên thế giới

2.4.1.1. Cách tính toán phát thải khí nhà kính theo IPCC
2.4.1.2. Cách tính toán phát thải khí nhà kính theo Bridle Consulting
2.4.1.3. Một số cách tính khác

2.4.2. Nghiên cứu trong nước

2.5. Tổng quan về tình hình xử lý nước thải ở Việt Nam

2.5.1. Tình hình chung về xử lý nước thải sinh hoạt tại Việt Nam

2.5.2. Tình hình chung về xử lý nước thải công nghiệp tại Việt Nam

3. NGHIÊN CỨU THIẾT LẬP MÔ HÌNH TÍNH TOÁN PHÁT THẢI KHÍ NHÀ KÍNH TỪ HỆ THỐNG XỬ LÝ NƯỚC THẢI

3.1. Cách tiếp cận

3.2. Quy trình lấy mẫu Khí nhà kính và phân tích mẫu khí nhà kính

3.2.1. Thiết bị lấy mẫu

3.2.2. Phương pháp lấy mẫu

3.2.3. Phân tích mẫu khí nhà kính

3.3. Sơ đồ hệ thống xử lý nước thải nghiên cứu tính toán

3.4. Phát thải khí nhà kính từ sản xuất điện sử dụng cho hệ thống xử lý nước thải

3.5. Phát thải khí nhà kính từ quá trình xử lý của hệ thống nước thải

3.5.1. Thiết lập các tính toán trong điều kiện hiếu khí (hệ thống A)

3.5.1.1. Tính toán lượng phát thải khí nhà kính từ bể xử lý hiếu khí
3.5.1.2. Tính toán lượng phát thải khí nhà kính từ bể phân hủy bùn yếm khí
3.5.1.3. Tính toán lượng phát thải khí nhà kính từ phân hủy BOD5 dòng ra
3.5.1.4. Phát thải khí N2O từ hệ thống xử lý

3.5.2. Tính toán trong hệ thống xử lý yếm khí (hệ thống B)

3.5.3. Tính toán trong hệ thống C (Hệ thống xử lý yếm khí – hiếu khí)

3.5.4. Tính toán lượng phát thải khí nhà kính trong điều kiện không ổn định

3.6. Xác định hệ số động học của hệ thống xử lý

3.7. Thiết lập hệ số chuyển đổi (Y)

3.8. Vi sinh vật và các phương trình hóa học trong quá trình xử lý sinh học

3.8.1. Phương trình hóa học trong xử lý nước thải sinh hoạt

3.8.2. Phương trình hóa học trong xử lý nước thải công nghiệp giấy

4. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

4.1. Cấu trúc của mô hình thiết lập được và sơ đồ khối tính toán

4.1.1. Cấu trúc của mô hình thiết lập

4.1.2. Sơ đồ khối tính toán phát thải KNK từ hệ thống xử lý nước thải

4.2. Kiểm nghiệm mô hình thiết lập theo nghiên cứu trước đó

4.3. Kiểm nghiệm mô hình thiết lập cho hệ thống xử lý nước thải GOLDMARK

4.3.1. Giới thiệu hệ thống GOLDMARK

4.3.2. Kiểm nghiệm mô hình thiết lập cho hệ thống GOLDMARK

4.3.3. Kiểm nghiệm mô hình thiết lập với kết quả đo đạc thực địa của hệ thống xử lý nước thải GOLDMARK

4.4. Phân tích độ nhạy

4.5. Phần mềm mô hình thiết lập được

4.6. Ứng dụng mô hình thiết lập mô phỏng ảnh hưởng của một số yếu tố như nhiệt độ, nồng độ cơ chất và tuổi bùn đến khả năng phát thải khí nhà kính của hệ thống xử lý nước thải GOLDMARK

4.7. Ứng dụng mô hình thiết lập tính toán phát thải KNK cho một số hệ thống xử lý nước thải sinh hoạt tại Việt Nam

4.8. Ứng dụng mô hình thiết lập được tính toán cho một số hệ thống xử lý nước thải công nghiệp giấy

4.8.1. Giới thiệu hệ thống xử lý nước thải cho công ty giấy Bãi Bằng

4.8.2. Tính toán phát thải khí nhà kính hệ thống Giấy Bãi Bằng

4.8.3. Tính phát thải KNK hệ thống xử lý nước thải nhà máy giấy Corelex

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH CÔNG BỐ CỦA LUẬN ÁN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tính cấp thiết của nghiên cứu

Nghiên cứu phát thải khí nhà kính từ hệ thống xử lý nước thải tại Việt Nam là một vấn đề cấp bách. Sự gia tăng khí nhà kính trong khí quyển đang gây ra những tác động nghiêm trọng đến môi trường và sức khỏe con người. Theo các nghiên cứu, biến đổi khí hậu đã dẫn đến nhiều hiện tượng thời tiết cực đoan, ảnh hưởng đến sản xuất nông nghiệp và sinh kế của người dân. Hệ thống xử lý nước thải đóng vai trò quan trọng trong việc giảm thiểu ô nhiễm môi trường, nhưng cũng là nguồn phát thải khí nhà kính đáng kể. Do đó, việc nghiên cứu và đánh giá lượng phát thải khí nhà kính từ các hệ thống này là cần thiết để xây dựng các chính sách bảo vệ môi trường hiệu quả.

II. Tổng quan về phát thải khí nhà kính từ hệ thống xử lý nước thải

Hệ thống xử lý nước thải tại Việt Nam hiện nay chủ yếu sử dụng các công nghệ truyền thống, dẫn đến việc phát thải khí nhà kính như CO2, CH4 và N2O. Các nghiên cứu cho thấy rằng phát thải khí nhà kính từ các hệ thống này có thể chiếm một tỷ lệ lớn trong tổng lượng phát thải của quốc gia. Việc áp dụng các công nghệ mới và cải tiến quy trình xử lý nước thải có thể giúp giảm thiểu lượng khí nhà kính phát thải. Nghiên cứu này sẽ phân tích các nguồn phát thải từ hệ thống xử lý nước thải, từ đó đề xuất các giải pháp nhằm giảm thiểu tác động đến môi trường.

III. Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng mô hình tính toán để ước lượng lượng phát thải khí nhà kính từ các hệ thống xử lý nước thải khác nhau. Các phương pháp lấy mẫu và phân tích khí nhà kính được áp dụng để thu thập dữ liệu thực địa. Mô hình sẽ được thiết lập dựa trên các thông số kỹ thuật của hệ thống xử lý nước thải và điều kiện vận hành thực tế. Kết quả từ mô hình sẽ được so sánh với các nghiên cứu trước đó để kiểm nghiệm tính chính xác và khả năng áp dụng của mô hình trong thực tiễn.

IV. Kết quả và thảo luận

Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng lượng phát thải khí nhà kính từ hệ thống xử lý nước thải tại Việt Nam là đáng kể. Các yếu tố như nhiệt độ, nồng độ cơ chất và tuổi bùn có ảnh hưởng lớn đến khả năng phát thải. Việc áp dụng các biện pháp cải tiến công nghệ có thể giúp giảm thiểu lượng khí nhà kính phát thải. Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng việc quản lý và quản lý nước thải hiệu quả có thể góp phần vào việc giảm thiểu tác động của biến đổi khí hậu. Các chính sách môi trường cần được xây dựng dựa trên các kết quả nghiên cứu này để đảm bảo phát triển bền vững.

V. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn

Nghiên cứu này không chỉ cung cấp thông tin quan trọng về phát thải khí nhà kính từ hệ thống xử lý nước thải mà còn góp phần vào việc xây dựng các chính sách bảo vệ môi trường tại Việt Nam. Kết quả nghiên cứu có thể được áp dụng trong việc thiết kế và vận hành các hệ thống xử lý nước thải hiện đại, giúp giảm thiểu ô nhiễm và bảo vệ sức khỏe cộng đồng. Hơn nữa, nghiên cứu cũng mở ra hướng đi mới cho các nghiên cứu tiếp theo về biến đổi khí hậuquản lý nước thải.

25/01/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của luận án Nền kinh tế phát triển gây ô nhiễm môi trường, làm kiệt quệ nhiều nguồn tài nguyên thiên nhiên, khí hậu trở nên khắc nghiệt, thời tiết thay đổi bất thường, trái đất dần bị nóng lên, hệ sinh thái dần bị tàn hoại. Các hiện tượng như lũ lụt, hạn hán cháy rừng, băng đá ở Bắc cực đang dần dần tan chảy, nhiều trận bão khốc liệt, nhiều cơn sóng thần, nhiều đợt nóng gay gắt, nhiều rừng cây bị tàn phá nhanh chóng, sa mạc ngày càng lan rộng, nhiều sinh vật đang bị diệt chủng không ngừng xảy ra trong những năm gần đây. Đó là những ảnh hưởng của biến đổi khí hậu tác động mạnh mẽ đến môi trường trái đất và đời sống của con người.

Việt Nam được đánh giá là quốc gia thứ 5 trên thế giới chịu tác động xấu nặng nề nhất do biến đổi khí hậu và mực nước biển dâng mang lại. Liên Hợp Quốc cảnh báo, nếu mực nước biển tăng thêm 1m thì Việt Nam sẽ đối mặt với mức thiệt hại lên tới 17 tỉ USD/năm; 1/5 dân số mất nhà cửa; 12,3% diện tích đất trồng trọt biến mất; 40.000km2 diện tích đồng bằng, 17km2 bờ biển ở khu vực các tỉnh lưu vực sông Mêkông sẽ chịu tác động của lũ ở mức độ không thể dự đoán. Nguyên nhân chính làm biến đổi khí hậu trái đất đó là do sự gia tăng các hoạt động tạo ra các chất thải khí nhà kính (KNK), trong đó, các hoạt động sinh sống và sản xuất của con người là nguồn phát thải chính. Theo Ủy ban liên Chính phủ về biến đổi khí hậu (IPCC) các nguồn phát thải khí nhà kính gồm 4 nguồn chính: Năng lượng; Quá trình công nghiệp và sử dụng sản phẩm (IPPU); Nông nghiệp, Lâm nghiệp và sử dụng đất khác (AFOLU); và Chất thải.

Theo thông báo quốc gia lần thứ hai của Việt Nam cho Công ước khung của Liên hợp quốc về biến đổi khí hậu (UNFCCC) vào năm 2010, tổng lượng khí nhà kính phát thải năm 2000 là 150,9 triệu tấn CO 2tđ, trong đó phát thải KNK từ nguồn nông nghiệp là 65,1 triệu tấn CO2tđ (chiếm 43% tổng lượng phát thải KNK), từ nguồn năng lượng là 52,8 triệu tấn CO2tđ (chiếm 34% tổng lượng phát thải KNK), từ nguồn sử dụng đất, thay đổi sử dụng đất và lâm nghiệp (LULUCF) là 15,1 triệu tấn CO2tđ (chiếm 10% tổng lượng phát thải KNK), từ nguồn các quá trình công nghiệp là 10,0 triệu tấn CO2tđ (chiếm 6,6% tổng lượng phát thải KNK) và từ nguồn chất thải là 7,9 triệu tấn CO2tđ (chiếm 5,2% tổng lượng phát thải KNK). Trong nguồn chất thải, phát thải KNK từ xử lý nước thải chiếm 30%, từ xử lý chất thải rắn chiếm 70%. Dự tính vào năm 2020, tổng phát thải KNK là 300,4 triệu tấn CO2 tđ và vào năm 2030 là 515,8 triệu tấn CO2 tđ [1]. Phát thải KNK từ nguồn chất thải gồm: Bãi chôn lấp chất thải, Xử lý chất thải rắn bằng phương pháp sinh học, Lò đốt chất thải và đốt bãi rác hở, Xử lý và xả nước thải.

Các loại KNK chủ yếu phát sinh trong nguồn chất thải gồm: Khí Carbon 14 luan an dioxide (CO2), methane (CH4), and nitrous oxide (N2O). Thông thường, khí CH4 phát thải từ các bãi chôn lấp chất thải rắn chiếm tỷ lệ lớn nhất trong tổng lượng KNK của nguồn này. Khí CH4 trong xử lý nước thải cũng đóng một vai trò tương đối quan trọng. Bên cạnh đó, xử lý chất thải rắn và nước thải cũng đồng thời tạo ra các hợp chất hữu cơ dễ bay hơi không methane (NMVOCs), NOx, CO và NH3.

NOx chủ yếu sinh ra khi đốt chất thải, còn khí NH3 sinh ra trong quá trình làm phân compost. NOx và NH3 có thể gián tiếp tạo ra khí N2O. Tuy nhiên, lượng khí N2O này chiếm một tỷ lệ nhỏ, không đáng kể [2]. Bãi chôn lấp chất thải tạo ra lượng đáng kể khí CH4.

Ngoài khí CH4 ra, bãi chôn lấp chất thải cũng tạo ra khí CO2, hợp chất hữu cơ dễ bay hơi không methane (NMVOCs) cũng như một lượng nhỏ khí N2O, nitrogen oxides (NOx) và carbon monoxide (CO). Trong quản lý chất thải rắn, đã có nhiều biện pháp nhằm giảm thiểu lượng chất thải rắn đem chôn lấp nhằm giảm thiểu ô nhiễm môi trường. Biện pháp thu hồi khí tại các bãi chôn lấp cũng được sử dụng khá phổ biến nhằm giảm thiểu sự phát thải khí CH4 [3]. Làm phân compost và phân hủy yếm khí chất thải hữu cơ thường phổ biến ở các nước đã và đang phát triển.

Những ưu điểm của phương pháp này là làm giảm thể tích chất thải, ổn định chất thải, tiêu hủy mầm bệnh trong chất thải, tạo ra khí biogas cho sử dụng năng lượng. Tùy theo chất lượng, sản phẩm cuối cùng của xử lý sinh học chất rắn có thể làm phân bón cải tạo đất, hoặc được đem đi chôn lấp tại các bãi chôn lấp chất thải. Làm phân compost là quá trình hiếu khí và một lượng lớn hợp chất hữu cơ trong chất thải được chuyến hóa thành khí CO2. Khí CH4 được tạo thành ở vùng yếm khí, nhưng nó bị oxihoa ở mức độ lớn trong vùng hiếu khí.

Lượng khí CH4 thải vào khí quyển khoảng 1% đến vài phần trăm hàm lượng carbon ban đầu trong chất thải. Quá trình làm phân compost cũng có thể tạo ra N 2O. Lượng phát thải N2O khoảng 0,5% đến 5% so với hàm lượng nito ban đầu trong chất thải [3]. Phân hủy yếm khí chất thải hữu cơ thúc đẩy sự phân hủy tự nhiên hợp chất hữu cơ không có oxi bằng cách duy trì nhiệt độ, độ ẩm và pH gần tới giá trị tối ưu của nó.

CH4 được tạo ra có thể được sử dụng để tạo nhiệt hoặc điện năng. Phát thải N2O từ quá trình này được giả thiết là không đáng kể, tuy nhiên, dữ liệu về phát thải này rất là ít [3]. Xử lý sinh học – cơ khí (MB) chất thải đang là phương pháp phổ biến ở châu âu. Phân tách chất thải bằng cơ khí sau đó chuyển hóa sinh học, làm hiệu quả xử lý tăng lên, hiệu quả thu hồi khí CH4 tăng, giảm thể tích bãi chôn lấp [3].

Lò đốt rác và đốt bãi rác hở là nguồn phát thải khí nhà kính. Các khí liên quan được tính toán là các khí Carbon dioxide (CO2), methane (CH4) và nitrous oxide (N2O). Thông thường, phát thải CO2 từ lò đốt rác nhiều hơn đáng kể so với khí CH4 15 luan an và N2O [3]. Hệ thống xử lý nước thải cũng là nguồn phát thải khí nhà kính gồm phát thải gián tiếp và trực tiếp.

Nguồn phát thải KNK gián tiếp như sản xuất điện để sử dụng trong quá trình xử lý; sản xuất và vận chuyển nhiên và nguyên liệu; chôn lấp bùn hoạt tính được tạo ra trong quá trình xử lý. Nguồn phát thải KNK trực tiếp như từ bể xử lý hiếu khí, bể xử lý yếm khí, bể phân hủy yếm khí, rò rỉ khí sinh học, quá trình đông keo tụ hóa học, đốt khí sinh học trong nồi hơi thu hồi. Việc cắt giảm phát thải khí nhà kính có vai trò quan trọng trong công tác ứng phó với Biến đổi khí hậu. Việt Nam, với tư cách là một quốc gia đang phát triển, thực hiện một số nghĩa vụ chung như thực hiện xây dựng các Thông báo quốc gia tới UNFCCC định kỳ, kiểm kê khí nhà kính; xây dựng và đánh giá phương án giảm nhẹ KNK, thích ứng với BĐKH.

Thông qua kiểm kê khí nhà kính có thể cập nhật thường xuyên lượng khí nhà kính sản sinh từ các nguồn phát thải từ đó đưa ra các phương pháp giảm thiểu phát thải khí nhà kính gây BĐKH. Qua đó cũng có thể tính trước ngưỡng phát thải khí nhà kính để chủ động nhập những công nghệ sản xuất thích hợp, vừa bảo đảm tăng trưởng kinh tế vừa kiểm soát hiệu quả lượng khí thải nhà kính. Trong nỗ lực nhằm hướng tới xây dựng một nền kinh tế “cacbon thấp”, Việt Nam đã có xây dựng Thông báo quốc gia đầu tiên của Việt Nam vào tháng 12 năm 2003, Thông báo quốc gia lần thứ hai vào năm 2010. Các kiểm kê KNK được biên soạn theo phương pháp (IPCC, 1996, 2000, 2006).

Tuy nhiên, những báo cáo kiểm kê khí nhà kính đó vẫn chưa đủ chi tiết và hoàn chỉnh vì một số những rào cản như việc thiếu một hệ thống thể chế hoàn chỉnh, nguồn lực kỹ thuật, kiến thức về các nhân tố phát thải phù hợp cũng như năng lực trong công tác kiểm soát chất lượng của dữ liệu. Hiện nay, Việt Nam đang xây dựng thông báo quốc gia lần thứ ba cho UNFCCC. Tại Việt Nam, tỷ lệ đóng góp phát thải khí nhà kính từ lĩnh vực chất thải chưa nhiều, các con số thống kê phát thải khí nhà kính từ chất thải còn thiếu nhiều, đặc biệt là từ hệ thống xử lý nước thải vẫn còn đang bỏ ngỏ trong tổng kiểm kê quốc gia về phát thải KNK. Việc đo đạc trực tiếp phát thải KNK từ hệ thống xử lý nước thải là khó khăn và tốn kém nên việc có một mô hình tính toán phát thải khí nhà kính sẽ giúp giảm thiểu chi phí đo đạc, chi phí nhân công, nhanh chóng có được bộ số liệu dự báo về lượng phát thải KNK là rất cần thiết.

Trên thế giới phát thải khí nhà kính từ hệ thống xử lý nước thải ngày càng được quan tâm nhiều hơn, đồng hành cùng sự cần thiết phải xử lý nước thải dòng ra đạt tiêu chuẩn cho phép. Nắm bắt được tình hình đó đề tài luận án “Nghiên cứu ứng dụng mô hình tính toán phát thải khí nhà kính từ một số hệ thống xử lý nước thải ở Việt Nam” sẽ tập trung nghiên cứu thiết lập mô hình tính toán phát thải khí nhà kính từ một số hệ thống xử lý nước thải sinh hoạt và nước thải công nghiệp sản xuất giấy ở Việt Nam và ứng dụng mô hình thiết lập tính toán cho một số hệ thống xử lý nước thải ở Việt Nam. Mục tiêu nghiên cứu của luận án - Thiết lập mô hình tính toán phát thải khí nhà kính từ hệ thống xử lý nước thải (nước thải sinh hoạt và nước thải công nghiệp giấy) ở Việt Nam; - Tính toán phát thải khí nhà kính từ hệ thống xử lý nước thải (nước thải sinh hoạt và nước thải công nghiệp giấy) ở Việt Nam; đề xuất một số hệ số phát thải khí nhà kính của hệ thống xử lý nước thải sinh hoạt và hệ thống xử lý nước thải giấy ở Việt Nam.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Luận án tiến sĩ mang tiêu đề "Nghiên cứu ứng dụng mô hình tính toán phát thải khí nhà kính từ hệ thống xử lý nước thải ở Việt Nam" của tác giả Nguyễn Thị Vân Anh, dưới sự hướng dẫn của PGS. Đặng Xuân Hiển, được thực hiện tại Trường Đại Học Bách Khoa Hà Nội vào năm 2019. Bài nghiên cứu này tập trung vào việc phát triển và ứng dụng mô hình tính toán nhằm đánh giá mức độ phát thải khí nhà kính từ các hệ thống xử lý nước thải tại Việt Nam. Qua đó, luận án không chỉ cung cấp cái nhìn sâu sắc về tình hình phát thải khí nhà kính mà còn đề xuất các giải pháp cải thiện hiệu quả xử lý nước thải, góp phần bảo vệ môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu.

Để mở rộng thêm kiến thức về các vấn đề liên quan đến y tế và môi trường, bạn có thể tham khảo các tài liệu sau: Thực trạng công tác chăm sóc sức khỏe ban đầu tại huyện Yên Dũng, Bắc Giang, nơi đề cập đến các yếu tố ảnh hưởng đến sức khỏe cộng đồng, và Thực trạng chăm sóc đường truyền tĩnh mạch ngoại vi của điều dưỡng tại bệnh viện đa khoa tỉnh Hà Giang, nghiên cứu về chất lượng dịch vụ y tế. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về các vấn đề liên quan đến sức khỏe và môi trường tại Việt Nam.