PHẦN MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài: Căn cứ vào mục đích giao tiếp, khi nghiên cứu lời nói trong hoạt động giao tiếp, người ta thường hay chia lời nói thành 4 kiểu phát ngôn: tường thuật, nghi vấn,cảm thán và cầu khiến. Việc nghiên cứu phát ngôn cầu khiến đã từ lâu thu hút các nhà ngôn ngữ học ở các nước phương Tây. Ở Việt Nam, việc nghiên cứu phát ngôn cầu khiến theo cách tiếp cận mới này chỉ mới xuất hiện trên mười năm nay và được nhiều người quan tâm đến.
Đã có một số công trình nghiên cứu liên quan đến phát ngôn cầu khiến được công bố. Tuy nhiên, việc nghiên cứu về phát ngôn cầu khiến trong tiếng Việt có liên hệ với tiếng Hán thì chưa ai đề cập đến, do vậy chúng tôi chọn đề tài “ Phát ngôn cầu khiến gián tiếp trong tiếng Việt (liên hệ với tiếng Hán) ” với mong muốn được đóng góp một phần nhỏ cho lĩnh vực nghiên cứu ngữ pháp – ngữ nghĩa của lời trong sự so sánh, đối chiếu giữa hai ngôn ngữ. Đối tƣợng nghiên cứu và mục đích nghiên cứu: Luận văn này chủ yếu nghiên cứu về phát ngôn cầu khiến gián tiếp tiếng Việt, nhất là phương thức gián tiếp biểu hiện hành động cầu khiến, và liên hệ với phát ngôn cầu khiến gián tiếp tiếng Hán. Mục đích của luận văn này là trên cơ sở kế thừa những kết quả đã có được của những nhà nghiên cứu và công trình nghiên cứu trước, trước hết chúng tôi sẽ nhận diện và miêu tả phát ngôn cầu khiến gián tiếp trong tiếng Việt; sau đó nhận diện và miêu tả phát ngôn cầu khiến gián tiếp trong tiếng Hán và cuối cùng là so sánh đối chiếu một số đặc điểm của phát ngôn cầu khiến gián tiếp trong tiếng Việt với tiếng Hán trên một số tác phẩm văn học để tìm ra sự giống nhau và khác nhau giữa hai ngôn ngữ.
Phƣơng pháp nghiên cứu: Luận văn sử dụng phương pháp miêu tả và phương pháp so sánh, đối chiếu với các thủ pháp phân tích nghĩa, phân tích ngữ cảnh, mô hình hóa. Ngoài ra, luận văn còn quan tâm tới ngữ cảnh đủ rộng để có thể phân tích ngữ nghĩa trong từng phát ngôn cụ thể. Vì vậy, tư liệu trích dẫn không phải ở dạng cô lập mà thường kèm theo ngữ cảnh giúp cho việc phát hiện các hành động ngôn trung trực tiếp cũng như gián tiếp của phát ngôn. Các ví dụ được sử dụng trong luận văn đều nằm trong ngữ cảnh hội thoại.
Về mặt tư liệu, các ví dụ được nêu trong bài là dựa trên những tác phẩm Việt Nam nổi tiếng như “ Nửa chừng xuân ” “ Đất làng ” “ Vỡ bờ ” “ Gió lạnh đầu mưa ” “ Biệt thự xanh ” “ Bước đường cùng ”. còn những tác phẩm văn học nổi tiếng nước ngoài như “ Hai số phận ” “ Trở về Êđen” và “ Lôi vũ ” “Tây du ký” v. Ý nghĩa của đề tài: Việc nghiên cứu phát ngôn cầu khiến trong tiếng Việt và liên hệ với tiếng Hán rất có ý nghĩa đối với những vấn đề lý luận và thực tiễn sử dụng ngôn ngữ. Về mặt lý luận, đề tài cung cấp những sự kiện ngôn ngữ trong tiếng Việt và tiếng Hán nhằm góp phần khẳng định lý thuyết ngữ dụng học, lý thuyết gián tiếp, vấn đề tổ chức và tri nhận lời nói.
Về mặt thực tiễn, việc nhận diện phát ngôn cầu khiến gián tiếp trong tiếng Việt (có liên hệ với tiếng Hán) có thể đóng góp cho lĩnh vực dạy và học hai ngôn ngữ này, giúp học sinh có thể nắm được sự khác biệt và những đặc điểm của phát ngôn cầu khiến ở hai ngôn ngữ, giúp cho việc sử dụng tốt hai ngôn ngữ. 2 z PHẦN NỘI DUNG CHƢƠNG I: NHỮNG CƠ SỞ LÝ THUYẾT CÓ LIÊN QUAN 1. Hành động ngôn ngữ 1.1 Khái niệm Khi chúng ta giao tiếp với nhau như đã biết ít ra là phải có hai người, vai nói, vai nghe luân phiên nhau nói nghe. Như thế giao tiếp là một dạng hành động xã hội của con người bằng ngôn ngữ.
Hành động cầu khiến được biểu hiện bằng phát ngôn. Trong các hoạt động xã hội bằng ngôn ngữ đó, vai nói có thể dùng ngôn ngữ để miêu tả một hiện thực nào đó, để kể lại một sự việc nào đó, để khẳng định một nhận xét nào đó, để hỏi, để yêu cầu, để khuyên nhủ. Miêu tả, kể (trần thuật, tự sự), khẳng định, hỏi, yêu cầu, khuyên nhủ. là những hành động bộ phận nằm trong hoạt động giao tiếp nói chung.
Khi miêu tả, kể, hỏi, yêu cầu, khuyên nhủ. là chúng ta hành động, chúng ta thực hiện những hành động đơn phương trong lòng hoạt động xã hội tổng quát là giao tiếp. Có thể tạm dùng thuật ngữ “ hành động ngôn ngữ ” để chỉ những hành động bộ phận bằng ngôn ngữ này.2 Các loại hình hành động ngôn ngữ Tiếp nhận những kiến giải của trường phái triết học phân tích Anh, Austin là người đầu tiên xây dựng những cơ sở cho lý thuyết hành động ngôn ngữ, Austin chia các hành động ngôn ngữ thành ba nhóm lớn: Hành động tạo lời: “ Là hành động sử dụng các yếu tố của ngôn ngữ như ngữ âm, vốn từ, quy tắc kết hợp để tạo thành những phát ngôn (đúng về hình 3 z thức và cấu trúc) hay những văn bản có thể hiểu được ” (dẫn theo Đỗ Thị Kim Liên [4. 70] ) Hành động mƣợn lời: “ Là những hành động mượn những phương tiện ngôn ngữ, hay nói một cách khác, là mượn các phát ngôn để gây ra một tác động hay hiệu quả ngoài ngôn ngữ đối với người nghe.
Hiệu quả này không đồng nhất ở những người khác nhau ” (dẫn theo Đỗ Thị Kim Liên [4,71] ). Hành động tại lời: “Là những hành động người nói thực hiện ngay khi nói năng. Hiệu quả của chúng gây những sự tác động trực tiếp thuộc về ngôn ngữ, gây phản ứng với người nghe. Sở dĩ ta gọi là hành động tại lời là vì khi nói thì ta đồng thời thực hiện luôn một hành động ở trong lời ( còn gọi là hành động tại lời, hành động trong lời )” (dẫn theo Đỗ Thị Kim Liên [4, 72]).
Theo quan điểm của J.Austin thì khái niệm Hành động ngôn ngữ được hiểu theo nghĩa rộng, bao gồm ba loại hành động – hành động tạo lời, hành động mượn lời và hành động tại lời. Nhưng trong một số trường hợp thì Hành động ngôn ngữ được hiểu theo nghĩa hẹp hơn, trùng với khái niệm Hành động tại lời. Trong luận văn này, chúng tôi cũng dùng thuật ngũ Hành động ngôn ngữ theo nghĩa hẹp.3 Điều kiện sử dụng hành động tại lời Theo tác giả Đỗ Hữu Châu để một hành động nói chung, một Hành động ngôn ngữ nói riêng đạt được hiệu quả đúng với đích của nó thì phải thỏa mãn các điều kiện sử dụng. “Điều kiện sử dụng các hành vi tại lời là những điều kiện mà một hành vi tại lời phải đáp ứng để nó có thể diễn ra thích hợp vói ngữ cảnh của sự phát ngôn ra nó.111] 4 z Tác giả Đỗ Thị Kim Liên cho rằng: “Điều kiện sử dụng Hành động tại lời là những nhân tố cần thiết cho phép thực hiện một Hành động tại lời nhất định trong một ngữ cảnh giao tiếp cụ thể.82] Điều kiện sử dụng các Hành động tại lời theo J.Austin là các điều kiện “may mắn” (felicic condition) vì nếu chúng được bảo đảm thì hành động mới thành công.30] - Phải có thủ tục có tính quy ước và thủ tục này cũng phải có hiệu quả có tính quy ước; Hoàn cảnh và con người phải thích hợp với những điều kiện quy định trong thủ tục.
- Thủ tục phải được thực hiện một cách đúng đắn và đầy đủ. - Thông thường thì những người thực hiện hành động tại lời phải có ý nghĩ tình cảm, ý định giống như đã được đề ra trong thủ tục và khi hành động diễn ra thì ý nghĩ tình cảm, ý định đúng như nó đã có. (dẫn theo Đỗ Hữu Châu [6.Searle gọi Hành động tại lời là điều kiện thỏa mãn, bao gồm bốn loại sau: - Điều kiện nội dung mệnh đề: chỉ ra bản chất nội dung của hành động. - Điều kiện chuẩn bị: bao gồm những hiểu biết của người phát ngôn về năng lực, lợi ích, ý định của người nghe và về các quan hệ giữa người nói và người nghe.
- Điều kiện chân thành: chỉ ra các trạng thái tâm lí tương ứng của người phát ngôn về năng lực, lợi ích, ý định của người nghe và về các quan hệ giũa người nói và người nghe, như xác tín đòi hỏi niềm tin, mệnh lệnh đòi hỏi mong muốn, hứa hẹn đòi hỏi ý định người nói. 5 z - Điều kiện căn bản: là điều kiện đưa ra kiểu trách nhiệm mà người nói, người nghe bị ràng buộc khi Hành động tại lời đó được phát ra. 88-103] Sở dĩ chúng tôi quan tâm nhiều hơn tới Hành động tại lời và điều kiện sử dụng Hành động tại lời bởi chính các điều kiện sử dụng đó sẽ giúp cho việc nhận diện và phân biệt các hành động tại lời trực tiếp và hành động tại lời gián tiếp.4 Khái niệm về biểu thức ngữ vi và dấu hiệu ngữ vi Biểu thức ngữ vi là những công thức nói năng mà khi nói nó ra là ta nhằm thực hiện một hành động tại lời nào đó. Có những dấu hiệu giúp ta nhận ra hành động tại lời do biểu thức đó thực hiện.
Các dấu hiệu đó là kiểu kết cấu, ngữ điệu và những từ ngữ chuyên dụng. Ví dụ biểu thức ngữ vi “ anh có đi Hà Nội không?” có kiểu kết cấu “. không? ” kèm theo ngữ điệu hỏi. Nhờ các dấu hiệu này ta biết biểu thức này thực hiện hành động tại lời “hỏi”.
Cũng như vậy, biểu thức ngữ vi “anh đóng giùm cái cửa lại ”, nhờ từ “giùm” chúng ta biết rằng người nói thực hiện hành động tại lời yêu cầu (ra lệnh) một hành động ở người nghe. Chúng ta gọi các dấu hiệu đó là các dấu hiệu ngữ vi. Hành động cầu khiến và ý nghĩa cầu khiến 2.1 Khái niệm hành động cầu khiến Hành động cầu khiến là khái niệm tổng quát bao gồm các hành động ngôn trung có ý nghĩa “cầu” (cầu, nhờ, mời, chúc, xin.) và các hành động ngôn trung có ý nghĩa “khiến” (yêu cầu, ra lệnh, cấm, cho phép. Cầu và khiến đều giống nhau ở đích ngôn trung, đều yêu cầu người nghe thực hiện hành động mà người nói mong muốn.