Chương 1: Tổng quan về hoạt động kinh doanh vàng miếng Chương 2:Thực trạng pháp luật về hoạt động kinh doanh vàng miếng và giải pháp hoàn thiện 8 ƢƠN TỔN QU N VỀ O T ỘN KN DO N V N M ẾN 1.1 Khái niệm về vàng Theo định nghĩa khoa học tự nhiên: Vàng là tên nguyên tố hoá học có ký hiệu Au (L. aurum) và số nguyên tử 79 trong bảng tuần hoàn. Là kim loại chuyển tiếp (hoá trị 3 và 1) mềm, dễ uốn, dễ dát mỏng, màu vàng và chiếu sáng, vàng không phản ứng với hầu hết các hoá chất nhưng lại chịu tác dụng của nước cường toan (aqua regia) để tạo thành axit cloroauric cũng như chịu tác động của dung dịch xyanua của các kim loại kiềm. Kim loại này có ở dạng quặng hoặc hạt trong đá và trong các mỏ bồi tích và là một trong số kim loại đúc tiền.Vàng được biết đến và sử dụng từ thời đồng đá, xuất hiện từ thiên niên kỷ thứ 4 trước công nguyên.10 Với tính chất là kim loại mềm, dễ uốn dát và dập mỏng của vàng, vàng đã trở thành thứ kim loại được dùng nhiều nhất trong các ngành công nghiệp kim hoàn.Vàng tồn tại ở những tầng đất thấp và có cả trong nước biển, nên vàng không phải là kim loại hiếm nhưng rất quý vì việc khai thác và tinh chế ra thành phẩm đòi hỏi chi phi khai thác và chế tác rất cao, ước tính khai thác khoảng 30 gram vàng cho một chiếc nhẫn đòi hòi phải đào khoảng 30 tấn quặng, vì thế giá trị của vàng là rất lớn.
Vàng là một loại hàng hóa đặc biệt với vai trò ban đầu được sử dụng như hàng hóa trao đổi và giá trị tài sản lớn như đã phân tích. Đặc điểm của loại hàng hóa này là rất quý hiếm, được mọi người yêu thích, không thay đổi chất lượng, dễ được nhận biết và được chấp nhận trao đổi. Vàng mang đầy đủ hai thuộc tính cơ bản của hàng hóa là giá trị sử dụng và giá trị.11 10 Tổng hợp từ: Wikipedia, Vàng, https://vi.org/wiki/V%C3%A0ng, ngày truy cập :20/12/22016 11 Tổng hợp từ: Hổ Thị Thanh Trúc (2015), Pháp luật về điều kiện kinh doanh vàng, Luận văn Thạc sĩ Luật học, Đại học Luật TP.HCM, tr 10-11 9 Ngay từ thời La Mã, vàng đã được sử dụng bên cạnh tiền định danh 12, hay những đồng tiền chỉ thực sự hợp pháp tại quốc gia mà nó xuất xứ. Vàng gần như được sử dụng như đồng tiền dự trữ của thế giới trong suốt thế kỷ 20; Hoa Kỳ đã trải qua thời kì sử dụng bản vị vàng cho đến tận năm 1971, khi Tổng thống Nixon từ bỏ bản vị vàng.13 Cùng với thời gian, các quốc gia trên thế giới đã chọn vàng làm vật bảo đảm cho giá trị tài sản của mình.
Nhiều quốc gia kể từ trước Thế chiến lần thứ nhất đã áp dụng chế độ bản vị vàng. Theo chế độ này, hệ thống ngân hàng bắt buộc phải đảm đảm được yêu cầu chuyển đổi tiền thành vàng của người dân. Ở Việt Nam, việc sử dụng vàng đã được ghi nhận từ thời Vua Hùng, khi đó đã có những hoạt động khai thác, tinh luyện chế tác nữ trang bằng vàng với kỹ thuật chạm khắc được đánh giá là tinh vi 14. Hiện nay, vẫn còn tồn tại các làng nghề kinh doanh vàng truyền thống, cụ thể như: làng nghề Châu Khê, Hải Dương đã tồn tại hơn 500 năm15; làng nghề Định Công, Hà Nội16.2 Phân loại vàng Để phục vụ cho việc quản lý, theo Quỹ tiền tệ Quốc tế (IMF) 17 thì vàng được chia thành: vàng tài sản tài chính và vàng hàng hóa.
Vàng tài sản tài chính (finacial gold) là vàng được sử dụng như tài sản tài chính, bao gồm: vàng tiền tệ và vàng phi tiền tệ. Vàng hàng hóa (comodity gold) là vàng được phục vụ cho công tác sản xuất 12 Tiền định danh hay tiền pháp định là những đồng tiền (giấy) mà chất liệu làm ra nó không có mấy giá trị nhưng được đảm bảo bằng một lượng tài sản có giá trị cất giữ ở một nơi an toàn. 13 Tổng hợp từ: Wikipedia, https://vi.org/wiki/%C4%90%E1%BA%BF_qu%E1%BB%91c_La_M%C3%A3, ngày truy cập 20/12/2016 14 Nguyễn Hồ Minh Châu (2012), Cơ chế quản lí thị trường vàng và kinh doanh vàng tài khoản ở Việt Nam, Luận văn thạc sỹ kinh tế, Đại học Kinh tế TP.35 15 Châu Khê, Lịch sử nghề kim hoàn Việt Nam, xem: https://www.vn/tin-tuc/nghe-kim- hoan/lich-su-nghe-kim-hoan-viet-nam.htm, Ngày truy cập 20/10/2016 16 Làng nghề kim hoàn Định Công, xem: http://www.php/tourism/items/1812, Ngày truy cập 20/10/2016 17 Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) là một tổ chức quốc tế về tài chính và tiền tệ mà thành viên là chính phủ các nước IMF được mô tả như "Một tổ chức của 188 quốc gia", làm việc nuôi dưỡng tập đoàn tiền tệ toàn cầu, thiết lập tài chính an toàn, tạo điều kiện thuận lợi cho thương mại quốc tế, đẩy mạnh việc làm và tăng trưởng kinh tế cao, và giảm bớt đói nghèo 10 (trang sức, công nghệ), tồn kho hoặc cất giữ giá trị, hay phục vụ cho các hoạt động phái sinh vàng. Theo quan điểm của IMF, vàng phi tiền tệ phải được đối xử như bất kỳ hàng hóa nào khác trong nền kinh tế, trong đó vàng phi tiền tệ cũng có thể thực hiện quản lý tương tự như quản lý tài sản tài chính khác.
Vì thế, khi phân loại vàng theo tiêu chí bản chất, vàng được phân thành vàng tiền tệ và vàng phi tiền tệ. Phân loại theo tiêu chí dạng hình thái, vàng được phân thành vàng vật chất và vàng phi vật chất.1 Vàng tiền tệ và vàng phi tiền tệ Về vàng tiền tệ Sắc lệnh 202 năm 1946 nhà nước ta công nhận vàng là tiền ở hình thái tiền vàng, những đồng tiền vàng được đúc làm bản vị cho những đồng tiền giấy. Nhưng hiện nay, chế độ bản vị vàng đã không còn tồn tại và không còn được công nhận ở Việt Nam. Từ những năm 1999-2000, cơ chế quản lý vàng ở Việt Nam đã chính thức tách bạch rõ việc quản lý vàng tiền tệ và quản lý vàng phi tiền tệ với sự nới lỏng đáng kể trong việc quản lý đối với vàng phi tiền tệ mà tập trung vào các nội dung chính: phân định rõ vàng miếng, vàng trang sức; quản lý xuất nhập khẩu; quản lý sản xuất gia công; quản lý kinh doanh giao dịch.18 Theo Nghị định 24/2012 NĐ-CP, vàng không được công nhận là tiền, nhưng thông qua các quy định cách quản lý về các loại vàng, ta có thể thấy nhà làm luật đã có sự phân biệt trong cách quản lý về vàng tiền tệ và vàng hàng hóa.
Cụ thể về cách quản lý trong hoạt động kinh doanh vàng miếng, cụ thể: sản xuất vàng miếng là hoạt động độc quyền của Ngân hàng Nhà nước. Hoạt động mua, bán vàng miếng được quy định khác so với hoạt động sản xuất gia công và mua, bán vàng trang sức, mỹ nghệ, chủ thể kinh doanh trong hoạt động kinh doanh vàng miếng cần đáp ứng những điều kiện khó khăn hơn. Mục tiêu của nhà làm luật là nhằm kiểm soát việc cung vàng miếng ra thị trường. Tuy vậy, bản chất tiền tệ của vàng cũng được thể hiện trong một vài quy định 18 Nguyễn Minh phong (2013), Bình ổn thị trường vàng miếng Việt Nam nhìn từ nghị định 24/2012/NĐ- CP,http://www.vn/Vang-Tien-te/Binh-on-thi-truong-vang-mieng-Viet-Nam-n hin-tu-Nghi-dinh- 242012NDCP/31783.tctc ngày truy cập 24/11/2016 11 khác như tại điểm d, Khoản 1, Điều 6, Luật NHNN năm 2010 và Pháp lệnh ngoại hối năm 2005 thì vàng tiền tệ là ngoại hối, “ vàng thuộc dự trữ ngoại hối nhà nước, tài khoản ở nước ngoài của người cư trú; vàng dưới dạng khối, thỏi, hạt, miếng trong trường hợp mang vào và mang ra lãnh thổ Việt Nam”19; hoặc trước đây khi còn hiệu lực thì tại Khoản 8 điều 4 Nghị định số 63/1998/NĐ-CP ngày 17 tháng 8 năm 1998 của Chính phủ về quản lý ngoại hối thì vàng tiêu chuẩn quốc tế là ngoại hối, cụ thể “Vàng tiêu chuẩn quốc tế là vàng khối, vàng thỏi, vàng miếng, vàng lá có dấu kiểm định chất lượng và trọng lượng, có mác hiệu của nhà sản xuất vàng quốc tế hoặc của nhà sản xuất vàng trong nước được quốc tế công nhận”.
Về vàng phi tiền tệ Vàng phi tiền tệ (non-monetary gold) là vàng được mua với mục đích gia công, chế tác làm đồ trang sức và được coi như một loại vật tư, hàng hóa thông thường. Loại vàng này thường được nắm giữ bởi các tổ chức tài chính trung gian 20, các nhà kinh doanh vàng cho mục đích kinh doanh, đầu tư. Các hoạt động kinh doanh này được quy định trong Nghị định 59/2006/NĐ-CP ngày 12 tháng 6 năm 2006 của Chính phủ Quy định chi tiết Luật thương mại về hàng hóa, dịch vụ cấm kinh doanh, hạn chế kinh doanh và kinh doanh có điều kiện, lúc này vàng được xem như một loại hàng hóa thông thường nhưng nằm trong danh mục hàng hóa hạn chế kinh doanh và kinh doanh có điều kiện. Hiện tại pháp luật Việt Nam chưa quy định khái niệm về vàng tiền tệ và vàng phi tiền tệ, trong Nghị định 24/2012/NĐ-CP chỉ mô tả các trạng thái tồn tại của vàng như: vàng trang sức, mỹ nghệ, vàng miếng, vàng nguyên liệu.2 Vàng vật chất và vàng phi vật chất Vàng vật chất 19 Theo quy định tại điểm d khoản 1 Điều 4 Pháp lệnh ngoại hối số 28/2005/PL-UBTVQH11 ngày 13/12/2005 20 Các tổ chức tài chính trung gian là các tổ chức tài chính thực hiện chức năng dẫn vốn từ người có vốn tới người cần vốn.
Tuy nhiên không như dạng tài chính trực tiếp người cần vốn và người có vốn trao đổi trực tiếp với nhau ở thị trường tài chính, các trung gian tài chính thực hiện sự dẫn vốn thông qua một cầu nối nghĩa là người người cần vốn muốn có được vốn phải thông qua người thứ ba, đó chính là các tổ chức tài gián tiếp hay các tổ chức tài chính trung gian. Các tổ chức tài chính trung gian có thể là các ngân hàng, các hiệp hội cho vay, các liên hiệp tín dụng, các công ty bảo hiểm, các công ty tài chính. 12 Vàng vật chất là vàng tồn tại ở nhiều dạng thực thể, có thể nhìn, sờ và cảm nhận bằng các giác quan khi tiếp xúc với vàng vật chất. Quy định về các dạng tồn tại của vàng vật chất được quy định từ khá sớm.
Như Sắc lệnh 202 ngày 15/10/1946 của Chủ tịch chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng Hòa có quy định về việc buôn bán vàng, trong đó đã có phân loại các loại vàng lưu thông trên thị trường thời điểm đó như: tiền vàng, vàng trang sức mỹ nghệ, vàng thoi, vàng nén, vàng lá, vàng dùng về kỹ thuật, vàng vụn.