Đề tài nghiên cứu khoa học cấp trường pháp luật lao động việt nam về bình đẳng giới trong doanh nghiệp phần 1

Bài viết phân tích đề tài nghiên cứu khoa học cấp trường về pháp luật lao động Việt Nam, tập trung vào vấn đề bình đẳng giới trong doanh nghiệp.

Trường đại học

Đại học Luật Hà Nội

Chuyên ngành

Pháp luật lao động

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

nghiên cứu khoa học cấp trường

2018

212
2
0

Phí lưu trữ

55 Point

Mục lục chi tiết

LỜI MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG CỦA PHÁP LUẬT LAO ĐỘNG VỀ BÌNH ĐẲNG GIỚI TRONG DOANH NGHIỆP

1.1. Pháp luật lao động về bình đẳng giới trong doanh nghiệp

1.2. Pháp luật lao động quốc tế về bình đẳng giới trong doanh nghiệp

1.3. Quy định của Liên Hợp Quốc về bình đẳng giới trong doanh nghiệp

1.4. Quy định của Tổ chức Lao động Quốc tế về bình đẳng giới trong doanh nghiệp

1.5. Pháp luật lao động một số nước về bình đẳng giới trong doanh nghiệp

1.6. Pháp luật lao động của Liên minh Châu Âu

2. CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT LAO ĐỘNG VIỆT NAM VỀ BÌNH ĐẲNG GIỚI TRONG DOANH NGHIỆP

2.1. Bình đẳng giới trong lĩnh vực việc làm, đào tạo nghề

2.2. Bình đẳng giới trong lĩnh vực thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi và an toàn lao động, vệ sinh lao động

2.3. Bình đẳng giới trong lĩnh vực tiền lương và kỷ luật lao động

2.4. Bình đẳng giới trong lĩnh vực bảo hiểm xã hội

2.5. Các biện pháp pháp lý để đảm bảo thực hiện pháp luật lao động Việt Nam về bình đẳng giới trong doanh nghiệp

2.6. Giải quyết tranh chấp lao động

3. CHƯƠNG 3: KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ THỰC HIỆN PHÁP LUẬT LAO ĐỘNG VIỆT NAM VỀ BÌNH ĐẲNG GIỚI TRONG DOANH NGHIỆP

3.1. Yêu cầu của việc hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật lao động về bình đẳng giới trong doanh nghiệp

3.2. Kiến nghị hoàn thiện pháp luật lao động Việt Nam về bình đẳng giới

3.2.1. Hoàn thiện quy định về học nghề, việc làm

3.2.2. Hoàn thiện quy định về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi, an toàn lao động, vệ sinh lao động

3.2.3. Hoàn thiện quy định về tiền lương, kỷ luật lao động

3.2.4. Hoàn thiện quy định về bảo hiểm xã hội

3.2.5. Hoàn thiện quy định về biện pháp pháp lý bảo đảm thực hiện pháp luật lao động về bình đẳng giới tại doanh nghiệp

3.2.6. Hoàn thiện các quy định khác

3.3. Kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật lao động Việt Nam về bình đẳng giới trong doanh nghiệp

3.3.1. Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục bình đẳng giới nhằm nâng cao nhận thức của các tầng lớp xã hội

3.3.2. Tăng cường số lượng cán bộ làm công tác thanh tra lao động

3.3.3. Tăng cường năng lực cho đội ngũ người làm công tác thanh tra, xử lý vi phạm và người làm công tác xét xử

4. PHẦN THỨ HAI: CÁC CHUYÊN ĐỀ NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI

4.1. Chuyên đề 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ BÌNH ĐẲNG GIỚI VÀ PHÁP LUẬT LAO ĐỘNG VỀ BÌNH ĐẲNG GIỚI TRONG DOANH NGHIỆP

4.1.1. Những vấn đề lý luận về bình đẳng giới trong lĩnh vực lao động

4.1.2. Những vấn đề lý luận về pháp luật lao động về bình đẳng giới trong doanh nghiệp

4.2. Chuyên đề 2: PHÁP LUẬT QUỐC TẾ VỀ BÌNH ĐẲNG GIỚI TRONG DOANH NGHIỆP

4.2.1. Quy định của Liên Hợp Quốc về bình đẳng giới trong doanh nghiệp

4.2.2. Quy định của ILO về bình đẳng giới trong doanh nghiệp

4.3. Chuyên đề 3: PHÁP LUẬT LAO ĐỘNG MỘT SỐ NƯỚC VỀ BÌNH ĐẲNG GIỚI TRONG DOANH NGHIỆP

4.3.1. Khái quát chung về bình đẳng giới trong lĩnh vực lao động

4.3.2. Quy định về bình đẳng giới trong doanh nghiệp theo pháp luật lao động của một số nước

4.3.3. Quy định về bình đẳng giới trong doanh nghiệp theo pháp luật lao động của Liên minh Châu Âu (EU)

4.4. Chuyên đề 4: PHÁP LUẬT LAO ĐỘNG VIỆT NAM VỀ BÌNH ĐẲNG GIỚI TRONG LĨNH VỰC VIỆC LÀM, ĐÀO TẠO NGHỀ TẠI DOANH NGHIỆP - THỰC TRẠNG VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ

4.4.1. Khái quát về bình đẳng giới trong lĩnh vực việc làm, đào tạo nghề

4.4.2. Thực trạng pháp luật Việt Nam về bình đẳng giới trong lĩnh vực việc làm, đào tạo nghề tại doanh nghiệp

4.4.3. Một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về bình đẳng giới trong lĩnh vực việc làm, đào tạo nghề tại doanh nghiệp

4.5. Chuyên đề 5: PHÁP LUẬT LAO ĐỘNG VIỆT NAM VỀ BÌNH ĐẲNG GIỚI TRONG LĨNH VỰC THỜI GIỜ LÀM VIỆC, THỜI GIỜ NGHỈ NGƠI VÀ AN TOÀN LAO ĐỘNG, VỆ SINH LAO ĐỘNG TẠI DOANH NGHIỆP - THỰC TRẠNG VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ

4.5.1. Thực trạng pháp luật Việt Nam về bình đẳng giới trong lĩnh vực thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi và an toàn lao động, vệ sinh lao động tại doanh nghiệp

4.5.2. Một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật Việt Nam về bình đẳng giới trong lĩnh vực thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi và an toàn lao động, vệ sinh lao động

4.6. Chuyên đề 6: PHÁP LUẬT LAO ĐỘNG VIỆT NAM VỀ BÌNH ĐẲNG GIỚI TRONG LĨNH VỰC TIỀN LƯƠNG VÀ KỶ LUẬT LAO ĐỘNG TẠI DOANH NGHIỆP - THỰC TRẠNG VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ

4.7. Chuyên đề 7: PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ BÌNH ĐẲNG GIỚI TRONG LĨNH VỰC BẢO HIỂM XÃ HỘI TẠI DOANH NGHIỆP - THỰC TRẠNG VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ

4.8. Chuyên đề 8: CÁC BIỆN PHÁP PHÁP LÝ ĐỂ ĐẢM BẢO THỰC HIỆN PHÁP LUẬT LAO ĐỘNG VIỆT NAM VỀ BÌNH ĐẲNG GIỚI TRONG DOANH NGHIỆP - THỰC TRẠNG VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Pháp luật lao động và bình đẳng giới trong doanh nghiệp

Pháp luật lao độngbình đẳng giới là hai khía cạnh quan trọng trong việc đảm bảo quyền lợi của người lao động, đặc biệt là trong môi trường doanh nghiệp. Luật lao động Việt Nam đã có những quy định cụ thể về bình đẳng giới tại nơi làm việc, nhằm xóa bỏ sự phân biệt đối xử dựa trên giới tính. Tuy nhiên, thực tế cho thấy vẫn còn nhiều thách thức trong việc thực thi các quy định này. Các quy định lao động liên quan đến bình đẳng giới cần được hoàn thiện để phù hợp với các tiêu chuẩn quốc tế, đồng thời đáp ứng nhu cầu thực tiễn tại Việt Nam.

1.1. Quy định pháp luật về bình đẳng giới

Pháp luật về bình đẳng giới tại Việt Nam được quy định trong Luật Bình đẳng giớiBộ luật Lao động. Các văn bản này nhấn mạnh việc đảm bảo quyền bình đẳng giữa nam và nữ trong các lĩnh vực như tuyển dụng, đào tạo, tiền lương, và điều kiện làm việc. Tuy nhiên, việc áp dụng các quy định này còn gặp nhiều khó khăn, đặc biệt là trong các doanh nghiệp tư nhân. Cần có các biện pháp cụ thể để tăng cường hiệu quả thực thi pháp luật, bao gồm việc nâng cao nhận thức của người lao động và người sử dụng lao động.

1.2. Thực trạng bình đẳng giới trong doanh nghiệp

Thực trạng bình đẳng giới trong doanh nghiệp tại Việt Nam vẫn còn nhiều bất cập. Phụ nữ thường gặp khó khăn trong việc tiếp cận các vị trí quản lý và được trả lương thấp hơn so với nam giới. Các chính sách bình đẳng giới chưa được thực hiện một cách triệt để, dẫn đến tình trạng phân biệt đối xử vẫn tồn tại. Cần có các nghiên cứu sâu hơn để đánh giá hiệu quả của các chính sách hiện hành và đề xuất các giải pháp phù hợp nhằm thúc đẩy bình đẳng giới tại nơi làm việc.

II. Nghiên cứu pháp luật lao động Việt Nam

Nghiên cứu pháp luật lao động Việt Nam về bình đẳng giới đã chỉ ra những điểm mạnh và hạn chế trong hệ thống pháp luật hiện hành. Luật lao động Việt Nam đã có những bước tiến đáng kể trong việc đảm bảo quyền lợi của người lao động, nhưng vẫn còn nhiều vấn đề cần được giải quyết. Các quy định về bình đẳng giới cần được cập nhật và hoàn thiện để phù hợp với các tiêu chuẩn quốc tế, đồng thời đáp ứng nhu cầu thực tiễn tại Việt Nam.

2.1. Pháp luật lao động và bình đẳng giới

Pháp luật lao độngbình đẳng giới có mối quan hệ chặt chẽ trong việc đảm bảo quyền lợi của người lao động. Các quy định lao động liên quan đến bình đẳng giới cần được thực hiện một cách nghiêm túc để đảm bảo sự công bằng trong môi trường làm việc. Cần có các biện pháp cụ thể để tăng cường hiệu quả thực thi pháp luật, bao gồm việc nâng cao nhận thức của người lao động và người sử dụng lao động.

2.2. Kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Để hoàn thiện pháp luật lao động về bình đẳng giới, cần có các kiến nghị cụ thể như cập nhật các quy định pháp luật, tăng cường công tác thanh tra, và nâng cao nhận thức của các bên liên quan. Các chính sách bình đẳng giới cần được thực hiện một cách triệt để để đảm bảo sự công bằng trong môi trường làm việc. Cần có các nghiên cứu sâu hơn để đánh giá hiệu quả của các chính sách hiện hành và đề xuất các giải pháp phù hợp nhằm thúc đẩy bình đẳng giới tại nơi làm việc.

III. Thực tiễn và ứng dụng của nghiên cứu

Nghiên cứu về pháp luật lao động Việt Nambình đẳng giới không chỉ có giá trị lý luận mà còn có ý nghĩa thực tiễn quan trọng. Các kết quả nghiên cứu có thể được ứng dụng trong việc hoàn thiện hệ thống pháp luật, cải thiện môi trường làm việc, và thúc đẩy sự phát triển bền vững của doanh nghiệp. Pháp luật lao độngbình đẳng giới cần được xem xét một cách toàn diện để đảm bảo quyền lợi của người lao động và sự phát triển của xã hội.

3.1. Giá trị thực tiễn của nghiên cứu

Nghiên cứu về pháp luật lao độngbình đẳng giới có giá trị thực tiễn cao, đặc biệt trong việc cải thiện môi trường làm việc và thúc đẩy sự phát triển bền vững của doanh nghiệp. Các kết quả nghiên cứu có thể được ứng dụng trong việc hoàn thiện hệ thống pháp luật, cải thiện môi trường làm việc, và thúc đẩy sự phát triển bền vững của doanh nghiệp. Pháp luật lao độngbình đẳng giới cần được xem xét một cách toàn diện để đảm bảo quyền lợi của người lao động và sự phát triển của xã hội.

3.2. Ứng dụng trong thực tiễn

Các kết quả nghiên cứu về pháp luật lao độngbình đẳng giới có thể được ứng dụng trong việc hoàn thiện hệ thống pháp luật, cải thiện môi trường làm việc, và thúc đẩy sự phát triển bền vững của doanh nghiệp. Pháp luật lao độngbình đẳng giới cần được xem xét một cách toàn diện để đảm bảo quyền lợi của người lao động và sự phát triển của xã hội. Cần có các biện pháp cụ thể để tăng cường hiệu quả thực thi pháp luật, bao gồm việc nâng cao nhận thức của người lao động và người sử dụng lao động.

21/02/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1. NHỮNG VAN DE CHUNG CUA PHAP LUẬT LAO ĐỘNG VE BINH DANG GIOI TRONG DOANH NGHIEP 1. NHUNG VAN DE LÝ LUẬN VE BÌNH DANG GIỚI VÀ PHAP LUAT LAO DONG VE BINH DANG GIOI TRONG DOANH NGHIEP 1. Binh dang giới 1.

Khai niệm giới (gender) Lý thuyết về giới được đề cập từ sớm và xuất hiện đầu tiên vào thế kỷ XV, trong công trình của nhà nghiên cứu người Pháp Christine de Pisan (1364 - 1430). Lý thuyết này tiếp tục được nghiên cứu vào thé kỷ XVII - XVIII bởi các nữ văn sỹ người Anh - Aphra Behr (1640 - 1689) va Mary Astell (1666 - 1731), những ly luận gia nữ quyền dau tiên và phát triển cùng với sự phát triển của phong trào đấu tranh vì quyền của phụ nữ. Tuy nhiên, mãi tới năm 1972, thuật ngữ giới (gender) mới được bắt đầu sử dụng”. Thuật ngữ “Giới” cũng được sử dụng trong các văn kiện của Hội nghị Bộ trưởng phụ nữ khu vực Châu Á - Thái Bình Dương (APEC), tháng 10/1998, với ý nghĩa là “phản anh những khác biệt trên bình diện xã hội giữa phụ nữ và nam giới về vai trò, thái độ, hành vi và các giá tri”.

Ở Việt Nam, quan niệm về giới trước đây chưa thực sự thống nhất, có nhiều cách hiểu khác nhau về giới. Trong các chương trình quốc gia “Giới là một thuật ngữ nói đến vai trò, trách nhiệm và quyên lợi mà xã hội quy định cho nam và nữ, bao gôm việc phân chia lao động, các kiểu phân chia nguôn lực và lợi ích”. Các nhà nghiên cứu chính trị và xã hội học lại thống nhất cách hiểu về giới với nguồn gôc và các đặc trưng như sau: “Gidi là một khai niệm khoa học ra đời từ môn Nhán 3 Trần Han Giang (2003), Lich sử phát triển của ly thuyết nữ quyền và lý thuyết giới, Tạp chí Khoa học về phụ nữ (6), tr.L0 * Ban Luật pháp chính sách Trung ương Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam và Công ty Tư van đầu tư y tế thực hiện (2007), TMột số thuật ngữ về giới và bình đẳng giới, Nxb Phụ nữ, Hà Nội, tr.8 13 loại học, chỉ sự khác biệt giữa nam và nữ về mặt xã hội. Nói về giới là nói vé vai trò, trách nhiệm và quyên lợi mà xã hội quan niệm hay quy định cho nam và nữ”.

Trong các chương trình, chính sách phát triển, mối quan hệ giữa giới và phát triển thường được xem xét từ 2 khía cạnh sau đây: Phụ nữ trong phát triển (Women and development - WID) đòi hỏi phải thu hút sự tham gia đầy đủ của phụ nữ vào quá trình phát triển với tư cách là người thụ hưởng và người thực hiện mục tiêu phát triển. Giới và phát triển (Gender in development - GAD) thay vì chỉ tập trung vào phụ nữ, đã quan tâm đến mối quan hệ giữa phụ nữ và nam giới, đối mặt với sự bất bình đăng về quyên lực và trong việc ra quyết định, tìm cách giải quyết các nguyên nhân sâu xa của tình trang bat bình đăng giới, nhằm bao đảm moi thành viên trong xã hội được thụ hưởng thành quả phát triển một cách bình đăng. Luật Bình dang giới của Việt Nam nam 2006 định nghĩa “Giới chỉ đặc điểm, vị trí, vai trò của nam và nữ trong các môi quan hệ xã hội” (Điều 5). Từ các cách hiểu trên ta thấy, nêu giới tinh (sex) là sự khác biệt về mặt sinh học giữa nam và nữ, được xác định bởi gen, thì gidi còn gọi là giới xã hội lại được hình thành thông qua quá trình giáo dục.

Trong khi các đặc điểm giới tính rat it thay đôi thì các đặc điểm về giới lại rất đa dạng tùy thuộc vào điều kiện địa lý, thể chế xã hội, lịch sử. Mối quan hệ giới liên quan đến hàng loạt van đề về thé chế và xã hội chứ không phải là mối quan hệ cá biệt giữa một nam giới hay nữ giới nào. Các đặc điểm giới rất khác nhau giữa các cộng đồng và quốc gia trên thé giới, cùng với quan hệ giới và vai trò giới thay đổi theo thời gian, chịu sự tác động của nhiều nhân tố: kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, pháp luật. Có thé hiểu Giới /a khái niệm chỉ sự khác biệt giữa nam và nữ về mặt xã hội, thể hiện qua các moi quan hệ và tương quan về đặc điểm, địa vị, vai trò xã hội giữa phụ nữ và nam giới trong bồi cảnh xã hội cụ thể.

Trong quá trình nghiên cứu về giới và bình đăng giới, đề tài không đề cập đến nhóm người đồng tính (lesbian, gay), song tinh (bisexual) và chuyền giới (transgender) (gọi tắt là cộng đồng LGBT) như một đối tượng cần phải tách riêng. ” Trịnh Quốc Tuấn, Đỗ Thị Thạch (đồng chủ biên) (2008), Khoa học giới - những van dé lý luận và thực tiên, Nxb Chính trị - Hành chính, Hà Nội, tr.29 14 Vì mặc dù đây là nhóm có đặc trưng riêng về xu hướng tính dục hay nhận dạng giới, song tất cả những người thuộc nhóm LGBT đều có một sự phát triển hoàn thiện về mặt sinh học (cau tạo hoocmon, nhiễm sắc thé, các bộ phận sinh dục. ) điển hình của một trong hai giới tính (nam hoặc nữ); cũng như có một sự thé hiện rõ ràng về vai trò trong đời sống (nam hoặc nữ, vợ hoặc chồng, còn gọi là thể hiện giới). Vì vậy, về mặt sinh học cũng như xã hội, hoàn toàn có thể xác định họ thuộc giới tính hay giới nào, giữa nam và nữ.

Tuy nhiên, để giải quyết tình trạng bị phân biệt đối xử trong lao động đối với cộng đồng LGBT trên thực tế, đề tài cũng sẽ đề cập đến những giải pháp pháp lý cụ thê. Khái niệm bình dang giới (gender equality) Bình đăng giới là thuật ngữ mới trong xã hội hiện đại, là khái niệm có sự thống nhất khá cao về cách hiểu trong các nhà nghiên cứu và cả luật pháp. Bình đẳng giới theo quan niệm xã hội học là sự đối xử ngang quyền giữa hai giới nam và nữ, cũng như giữa các tầng lớp phụ nữ trong xã hội, có xét đến đặc điểm riêng của nữ giới, được điều chỉnh bởi các chính sách đối với phụ nữ một cach hợp lý. Hay nói cách khác, binh đẳng giới là sự thừa nhận, sự coi trọng ngang nhau đối với các đặc điểm giới tính và sự thiết lập các cơ hội ngang nhau đối với nữ và nam trong xã hội.

Luật Bình đăng giới năm 2006 định nghĩa: “Bình đẳng giới là việc nam, nữ co vi tri, vai tro ngang nhau, được tạo điều kiện và cơ hội phat huy năng lực của mình cho sự phát triển của cộng đông, của gia đình và thụ hưởng như nhau về thành quả của sự phát triển đó ” (Khoản 3 Điều 5). Nhìn chung, từ các khía cạnh khác nhau, bình đăng giới đều được nhận diện là việc nam giới và nữ giới đều có vị trí, vai trò ngang nhau trong xã hội; đồng thời đều được hưởng các điều kiện bình đăng để phát huy đầy đủ các tiềm năng của họ, có cơ hội để đóng góp và thụ hưởng lợi ích như nhau từ môi trường phát triên quôc gia, chính trị, kinh tê, văn hóa, xã hội. Đê việc nghiên cứu được ° Trung tâm Nghiên cứu khoa học lao động (1998), Quyên lao động nữ Việt Nam trong thời kỳ doi mới, Hà Nội, tr.37 15 thống nhất, nhóm tác giả nhất trí việc sử dụng định nghĩa của Luật Bình đăng giới năm 2006 trong toàn bộ đề tài nghiên cứu khoa học: Binh đẳng giới /à việc nam, nữ có vị trí, vai trò ngang nhau, được tạo diéu kiện và cơ hội phát huy năng lực của mình cho sự phát triển của cộng đồng, của gia đình và thụ hưởng như nhau về thành quả của sự phát triển đó. Theo nhiều nhà nghiên cứu, trong lịch sử lập pháp từ trước đến nay, có ba mô hình bình đẳng giới, bao gồm: Mô hình bình đăng hình thức, mô hình bình đăng bảo vệ va mô hình bình dang thực chat’, trong đó: M6 hình bình đẳng hình thức coi nam và nữ như nhau, vì vay đối xử với họ như nhau, không dé y dén su khác biệt về sinh hoc và sự khác biệt do xã hội quy định.

M6 hình bình dang bảo vệ nhìn nhận sự khác biệt nhưng xem xét các điểm yếu của phụ nữ để đối xử khác biệt, bảo vệ mọi mặt đời sống kinh tế - xã hội. Mô hình bình đẳng thực chất nhìn nhận sự khác biệt giữa nam và nữ về sinh học và xã hội, chú ý đến bình đăng trong pháp luật và bình đăng trong thực tế bằng cách thúc đầy sự bình đắng về cơ hội, tiếp cận cơ hội, hưởng thụ cơ hội. Trong ba mô hình, nhóm tác giả thống nhất với mô hình thứ ba bởi mô hình thứ nhất đã bỏ qua những nhu cầu chính đáng của phụ nữ bị ảnh hưởng bởi việc thực hiện chức năng sinh sản và định kiến xã hội; mô hình thứ hai bảo vệ quá mức dẫn đến là rào cản về cơ hội đối với phụ nữ, đồng thời bỏ qua nam giới; chỉ có mô hình thứ ba tao ra sự bình đăng thực chat, là nội hàm quan trọng của bình đăng giới, phù hợp với Công ước CEDAW. Như vậy, bình dang giới có các đặc điểm sau đây: - Tinh ngang bằng về vị thé giữa nam giới và nữ giới trên mọi lĩnh vực như chính trị, kinh tế, lao động, giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ, văn hóa, thông tin, thé dục, thé thao, y tế, trong gia đình.

- Tinh uu đãi: Do đặc điềm sinh học và vị thế xã hội của phụ nữ là thiệt thòi hơn so với nam giới nên đề đạt được bình đăng giới cần có sự đối xử ưu đãi, khuyến khích đặc biệt và hợp lý đối với phụ nữ. - Tĩnh linh hoạt: Sự đôi xử ưu đãi với phụ nữ cân được mêm dẻo, điêu 7 Duong Thanh Mai (chủ biên) (2004), Công ước của Liên hợp quốc và pháp luật Việt Nam về xóa bỏ phân biệt đổi xử với phụ nữ, Nxb Chính trị quôc gia, Hà Nội, tr.36 16 chỉnh linh hoạt trong từng hoàn cảnh cụ thể, không mang tính bắt biến. Hiện nay, liên quan đến bình đăng giới còn có một số khái niệm khác cũng cần phải làm rõ. Thư nhất, khái niệm khoảng cách giới (gender gap): Khoảng cách giới là “sự chênh lệch giữa nam và nữ trong một bối cảnh cụ thể liên quan đến các diéu kiện, sự tiếp cận, kiểm soát và thụ hưởng nguồn lực khác nhau giữa nam và nữ”.

Khoảng cách giới được xác định dựa vào sự phân tích giới và các số liệu thống kê giới.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Nghiên cứu pháp luật lao động Việt Nam về bình đẳng giới trong doanh nghiệp - Phần 1 là một tài liệu chuyên sâu phân tích các quy định pháp lý liên quan đến bình đẳng giới trong môi trường doanh nghiệp tại Việt Nam. Tài liệu này không chỉ làm rõ các nguyên tắc pháp luật hiện hành mà còn đưa ra những đánh giá về thực trạng áp dụng, từ đó đề xuất các giải pháp nhằm thúc đẩy sự công bằng giữa nam và nữ trong lao động. Đọc giả sẽ được cung cấp cái nhìn toàn diện về vấn đề này, đồng thời có thêm kiến thức để áp dụng trong thực tiễn quản lý doanh nghiệp.

Để mở rộng hiểu biết về các khía cạnh khác của pháp luật lao động, bạn có thể tham khảo thêm Luận văn thạc sĩ luật học tính tương thích của pháp luật lao động Việt Nam với nhóm tiêu chuẩn lao động quốc tế về tự do hiệp hội thương lượng tập thể và một số kiến nghị, tài liệu này sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về sự hài hòa giữa pháp luật Việt Nam và tiêu chuẩn quốc tế. Ngoài ra, Luận văn thạc sĩ luật học hoàn thiện pháp luật về đại diện lao động phù hợp với tiêu chuẩn của hiệp định đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương cũng là một nguồn tham khảo hữu ích để tìm hiểu về các tiêu chuẩn quốc tế trong lĩnh vực lao động. Cuối cùng, Luận văn thạc sĩ luật học so sánh pháp luật về hợp đồng lao động Việt Nam và Hàn Quốc sẽ mang đến góc nhìn so sánh giữa hai hệ thống pháp luật, giúp bạn có thêm thông tin để đối chiếu và áp dụng.

Mỗi tài liệu trên đều là cơ hội để bạn khám phá sâu hơn về các khía cạnh khác nhau của pháp luật lao động, từ đó nâng cao kiến thức và kỹ năng trong lĩnh vực này.