MỞ ĐẦU Dầu mỏ và khí tự nhiên là tài nguyên chiến lược giữ vai trò quan trọng trong các hoạt động kinh tế và cuộc sống con người. Mỗi biến động trong cán cân cung cầu dầu khí đều lập tức ảnh hưởng đến kinh tế, chính trị và xã hội. Trong thời gian gần đây, giá xăng dầu trên thế giới có nhiều biến động, các nước có nền công nghiệp dầu khí phát triển đã đưa ra những chính sách nhằm ổn định thị trường, khai thác và sử dụng một cách có hiệu quả kinh tế cao nhất. Ở Việt Nam, bên cạnh nguồn nguyên liệu dầu thô và khí tự nhiên dồi dào đang được sử dụng cho các dự án lớn như nhà máy Lọc – hoá dầu, các tổ hợp khí – điện đạm thì nguồn condensat có tiềm năng lớn.
Tổng sản lượng condensat từ các mỏ Cửu Long, Nam Côn Sơn, Malay – Thổ Chu dự kiến đến năm 2010 là 6,6 triệu tấn [34]. Thành phần cơ bản của condensat là hiđrocacbon no có phân tử khối và tỉ khối lớn như pentan, hexan và heptan…Ngoài ra, trong condensat còn chứa các hiđrocacbon mạch vòng, các hợp chất thơm và các tạp chất khác [34]. Hiện nay, condensat chủ yếu được sử dụng trực tiếp cho mục đích pha xăng 83, tuy nhiên, hiệu quả kinh tế không cao do trị số octan thấp (RON 60). Hơn nữa, trong thời gian tới, xăng Mogas 83 sẽ bị hạn chế lưu thông trên thị trường Việt Nam.
Do vậy, để tận dụng nguồn condensat một cách có hiệu quả, cần phải nghiên cứu các quá trình biến đổi nhằm nâng cao trị số octan từ nguồn này. Hiện nay, do nhu cầu chất lượng xăng ngày một cao, trên thế giới đã áp dụng công nghệ isome hoá nhằm chuyển hoá các n-parafin thành các isoparafin có trị số octan cao hơn nhiều đáp ứng được những đòi hỏi mới về chất lượng xăng ngày càng khắt khe về môi trường, nhằm loại bỏ hoặc giảm -20- LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com thiểu các hợp phần trong xăng thương phẩm tuy có trị số octan cao nhưng lại rất độc hại như chì, benzen, metyl-tert-butyl ete (MTBE), tert-amyl metyl ete (TAME), metanol…các thành phần có trị số octan cao trong phối liệu tạo ra xăng. Tại châu Âu năm 1992 và Mỹ năm 1995 đã sử dụng oxigenat là các chất phụ gia có chứa oxi như MTBE (RON:110); etyl tetra butyl ete (ETBE) (RON: 112); etanol (RON:115) thay thế các phụ gia chì, mặc dù vậy, vẫn còn một trở ngại như giá thành và một số oxigenat có thể bị phân huỷ tạo ra một số chất độc hại như peroxiaxetyl nitrat từ etanol, fomanđehit từ metanol [43]. Các isoparafin nhẹ là các sản phẩm có triển vọng trong hợp phần xăng góp phần cải thiện môi trường, nhưng các sản phẩm isoparafin xuất hiện trong phân đoạn naphta của dầu thô với hàm lượng rất thấp.
Chính vì vậy, việc nghiên cứu tìm ra các xúc tác phù hợp cho quá trình isome hoá n-parafin đang được các nhà khoa học đặc biệt quan tâm. Cho đến nay, xúc tác cho quá trình isome hoá n-parafin đã trải qua 4 thế hệ [8]. Xúc tác trên cơ sở axit rắn với các tâm axit Bronsted và tâm axit Lewis có những thuận lợi như không ăn mòn thiết bị, không gây độc hại cho môi trường và dễ dàng phân tách các sản phẩm. Trải qua 4 thập kỉ, có trên 300 loại xúc tác axit rắn và bazơ rắn đã được phát triển [41, 142].
Đặc biệt, sự có mặt của zeolit có ý nghĩa vô cùng quan trọng và chúng được đưa vào áp dụng trong công nghiệp. Tuy nhiên, trong trường hợp xúc tác lưỡng chức trên cơ sở axit chỉ có một vài xúc tác zeolit đã được thương mại hoá cho hiệu quả kinh tế cao. Do vậy, việc lựa chọn xúc tác thích hợp cho quá trình isome hoá là nhiệm vụ hàng đầu của các nhà máy chế biến dầu mỏ trên thế giới và đây cũng chính là vấn đề được quan tâm của các nhà máy lọc dầu của Việt Nam -21- LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com trong tương lai. Trong thời gian gần đây, xúc tác “superaxit” rắn trên cơ sở ziricon oxit (ZrO2) đã được đề cập và hứa hẹn nhiều triển vọng có thể áp dụng trong công nghiệp.
Mục đích đặt ra của luận án là thiết lập các quy trình tổng hợp các xúc tác superaxit rắn và nghiên cứu ảnh hưởng của các phương pháp tổng hợp đến hình dạng, đặc tính bề mặt, cấu trúc của các tâm superaxit và vai trò của xúc tác trong quá trình isome hoá n-parafin C6 – C7, nhằm tạo ra các sản phẩm isome có ứng dụng vô cùng quan trọng trong việc nâng cao trị số octan của xăng làm giảm giá thành sản phẩm. -22- LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1. XÚC TÁC SUPERAXIT TRÊN CƠ SỞ OXIT KIM LOẠI SUNFAT HOÁ 1. Giới thiệu về xúc tác superaxit rắn Hiện nay, do tác động mạnh mẽ của môi trường nhằm loại bỏ các halogenua chứa trong xúc tác là nhiệm vụ đang được đặt ra cho các nhà khoa học.
Chính vì vậy, việc nghiên cứu đặc tính của các oxit trên cơ sở xúc tác superaxit rắn đang được quan tâm với mục đích thay thế các axit lỏng thông thường HCl, H2SO4… mà các axit này đang được sử dụng trong công nghiệp dầu khí. Superaxit rắn được định nghĩa là vật liệu rắn có lực axit mạnh hơn lực axit của H2SO4 (100%). Lực axit được xác định bằng việc sử dụng các chất chỉ thị bazơ có các giá trị pKa khác nhau [144, 158]. Gần đây, nhiều superaxit rắn được nghiên cứu, phát triển và chia thành nhiều nhóm khác nhau [70, 141]: + Nhóm thứ nhất là các oxit kim loại và hỗn hợp các oxit kim loại có chứa lượng nhỏ ion sunfat (SO42-) và chúng được biến tính bởi platin kim loại.
+ Nhóm thứ 2 là các oxit kim loại, hỗn hợp oxit kim loại và các muối kim loại…kết hợp với antimon florua hoặc nhôm clorua. + Nhóm thứ 3 là axit perflo poli sunfuric (Nafion-H). + Nhóm thứ 4, 5 là H-ZSM-5 và các loại axit dị đa tương ứng. + Nhóm cuối cùng là các hỗn hợp oxit đơn giản.
-23- LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Các superaxit của nhóm thứ 2 có khả năng dễ mất hợp chất halogen gây độc hại môi trường. Trong khi đó, các superaxit của nhóm thứ nhất hứa hẹn có nhiều triển vọng và có thể áp dụng trong công nghiệp. Hình dạng và tính chất bề mặt của xúc tác superaxit rắn a. Ziricon oxit Ziricon oxit ZrO2 là chất rắn có màu trắng.
Dạng tinh thể đơn nghiêng của ZrO2 tồn tại trong tự nhiên dưới dạng khoáng beđeleit có cấu trúc tinh thể không đều với số phối trí 8. Ziricon oxit bền hoá học, không phản ứng với axit nitric, axit clohiđric, kiềm… Ziricon oxit phản ứng rất chậm với axit sunfuric 60% tạo ra Zr(SO4)2 kết tủa [9]. Ở điều kiện thường cấu trúc đơn nghiêng của tinh thể ZrO 2 được thể hiện qua các thông số: a = 5,15; b = 5,21; c = 5,3; = = 900; 900 Trong môi trường khí quyển ziricon oxit có 3 trạng thái biến đổi (hình 1. Ở điều kiện thường, ZrO2 tồn tại ở dạng đơn nghiêng và thực sự ổn định.
Khi tăng áp suất ZrO2 tồn tại cấu trúc tà phương (I) và (II). Cấu trúc tứ diện nghiêng và lập phương tồn tại ở nhiệt độ cao hơn khoảng 1100 và 23000C. Lập phương * Lập Nhiệt độ (0C) phương Tứ diện nghiêng Tà Tà Đơn phương phương nghiêng II I Áp suất (atm) Hình 1. Giản đồ pha của ZrO2.
[98] -24- LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Cả 3 dạng đơn nghiêng, lập phương và tứ diện nghiêng nhận thấy trên giản đồ đều bị cản trở bởi cấu trúc lập phương* kiểu florit. Tinh thể lập phương ZrO2 trong cấu trúc lập phương tâm diện thì mỗi nguyên tử Zr được bao quanh bởi 8 nguyên tử O, điều này hoàn toàn phù hợp với cấu trúc tứ diện nghiêng ZrO2. Trong khi đó, pha đơn nghiêng thì mỗi nguyên tử Zr (IV) được bao quanh bởi 7 nguyên tử O (hình 1.
Cấu trúc kiểu florit: (a) lập phương ZrO2, (b) đơn nghiêng ZrO2, (c) tứ diện nghiêng ZrO2. [98] Sự biến đổi của pha tứ diện nghiêng và đơn nghiêng được trình bày trên các hình 1. -25- LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Mô hình cấu trúc tinh thể đơn nghiêng ZrO2 Trong các cấu trúc này nguyên tử Zr có số phối trí 8 (hình 1.
Vì vậy, cấu trúc được đan xen sắp xếp tương tự theo kiểu florit. Trong cấu trúc tứ diện nghiêng ZrO2 (hình 1.4) các ion Zr4+ có phối trí 8. Khoảng cách ngắn nhất giữa 2 nguyên tử Zr – Zr là 3,5953A0, và sự di chuyển nguyên tử Zr cận kề có khoảng cách xác định là 3,6011A0. Mô hình cấu trúc tinh thể tứ diện nghiêng ZrO2 -26- LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Sự biến đổi giữa pha tứ diện nghiêng và pha đơn nghiêng theo nhiệt độ được mô tả theo sơ đồ sau [55, 107]: 5000C Hi®roxit v« ®Þnh h×nh Tø diÖn nghiªng 7000C Tø diÖn nghiªng 9000C + §¬n nghiªng §¬n nghiªng HoÆc V« ®Þnh h×nh §¬n nghiªng §¬n nghiªng Hình 1.
Sự biến đổi pha phụ thuộc vào nhiệt độ của ZrO2 Ở nhiệt độ 7000C pha đơn nghiêng bắt đầu được hình thành và cuối cùng pha tứ diện nghiêng sẽ biến mất ở 900 0C. Hình dạng và tính chất bề mặt [153] Pik phát nhiệt của ZrO2 trong phân tích nhiệt vi sai (DTA) dịch chuyển trong khoảng từ 4000C tới 540 6120C. Sự tạo thành pha tinh thể khác nhau của SO42-/ZrO2 được đưa ra ở bảng 1. Sự biến đổi pha tinh thể của ZrO2 trong sự có mặt của tác nhân gây đặc tính superaxit theo nhiệt độ nung.
-27- LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Các mẫu xúc tác Nhiệt độ nung (0C) 350 500 650 800 ZrO2-A M M M M H2SO4/ZrO2-A Vô định hình T T T, M (NH4)2SO4/ZrO2- Vô định hình T T T, M A M M M T M ZrO2-U Vô định hình T T T, M H2SO4/ZrO2-U Vô định hình T T T, M (NH4)2SO4/ZrO2-U Trong bảng 1. M là cấu trúc pha đơn nghiêng và M là cấu trúc pha đơn nghiêng không ổn định. T là cấu trúc tứ diện nghiêng và T là cấu trúc tứ diện nghiêng không ổn định. ZrO2-A là mẫu xúc tác được tổng hợp bằng phương pháp thuỷ phân ZrO(NO3)2.2H2O với dung dịch NH4OH và ZrO2-U là mẫu được tổng hợp từ phương pháp thuỷ phân ZrO(NO3)2.
Có thể nhận thấy, pha tứ diện nghiêng của tinh thể ZrO2 ổn định khi có mặt của ion SO42-. Sự tăng độ tinh thể hoặc quá trình chuyển pha phụ thuộc rất nhiều vào phương pháp điều chế và tác nhân sunfat hoá là dung dịch H2SO4 hay (NH4)2SO4.