Chương 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Vị trí phân loại và lịch sử biến đổi danh pháp của chi Trà (Camellia L.) Chi Trà (Camellia L.) thuộc họ Chè (Theaceae). Theaceae sensu stricto là một họ Thực vật có hoa được điều tra, nghiên cứu rộng, thể hiện qua số lượng lớn các ghi chép, công bố, các dữ liệu hình thái, giải phẫu, cổ sinh vật, tế bào học, v.v… Một nghiên cứu được công bố gần đây của Vega & Ochoterena, 2004 (theo Prince & Parks, 2001; Prince, 2007) dựa trên 60 đặc tính hình thái trong họ đã chỉ ra rằng Theaceae sensu stricto không phải là một nhóm tự nhiên.
Tên họ Theaceae do Mirbel thiết lập và công bố năm 1813 (theo Coward, 1816). Cùng thời điểm, Mirbel cũng công bố họ Ternstroemiaceae (theo Krüger, 1841) và họ này được phân biệt với Theaceae ở sự đính bao phấn, hình dạng bao phấn, sự mở quả, thêm một số đặc điểm có thể quan sát bằng mắt thường và các đặc điểm hiển vi khác. Trong hai tên, tên họ Theaceae là tên được bảo toàn sau đề xuất của Tiểu ban Tên họ tại Đại hội Thực vật Quốc tế lần thứ 9 năm 1959 (Montreal, Canada), thống nhất và công bố trong Luật Montreal 1961. Nhiều hệ thống phân loại cho họ Chè đã được thiết lập dựa trên dữ liệu hình thái, dữ liệu phân tử và được đề cập trong nhiều tài liệu.
Tuy nhiên, không có hệ thống phân loại nào là hệ thống duy nhất được sử dụng gần đây. Một số hệ thống công bố trong khoảng 100 năm trở lại đây, điển hình cho các hệ thống được trích dẫn thường xuyên nhất được giới thiệu trong bảng 1. Qua đó để thấy được sự biến đổi hệ thống của họ Chè nhưng đồng thời thấy rằng tên chi Trà (Camellia L.) luôn được bảo toàn theo thời gian. Linnaeus (1753a, 1753b) đề cập đến tên chi Camellia sensu lato lần đầu tiên trong “Systema Naturalia” và “Regnum Vegetabile” cùng với tên chi Thea dựa trên ghi chép của Kaempfer (1712) về một số loài trà ở Nhật Bản.
Đề cập bao gồm minh họa chi tiết về Thea chinensis, mô tả và minh họa về Camellia japonica, 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com và mô tả Thea sasanqua. Linnaeus lấy nguyên mẫu tên “Thea” của Kaempfer, còn tên “Camellia” do Linnaeus đặt để tưởng niệm một nhà truyền giáo đạo Thiên Chúa – Georg Joseph Kamel (1661 – 1706), người đầu tiên đề xuất đưa Camellia japonica – “Hoa hồng của người Nhật” vào trồng ở Châu Âu. Sweet (1818) lần đầu tiên sáp nhập hai chi Thea và Camellia, đồng thời chọn Camellia là tên chung (Phụ lục 2 - PL 2. Trong lịch sử phân loại, chi Trà (Camellia L.) có một số các synonym như Calpandria, Desmitus, Drupifera, Kemelia, Sasanqua, Theaphylla, Tsia, Tsubaki, Camelliastrum, Dankia, Glyptocarpa, Kailosocarpus, Parapiquetia, Piquetia, Stereocarpus, Theopsis, Yunnanea.
Số lượng các synonym và việc trích dẫn các synonym không hoàn toàn giống nhau ở các tài liệu. Lịch sử của một số synonym được giới thiệu dưới đây: - Dankia Gagnep. (1939) được thiết lập như một chi đơn loài chứa đựng Dankia langbianensis Gagnep. được thu thập ở “B-dlé” và “Dankia, Lang-biang”, Việt Nam, ban đầu được xem là một thành viên của họ Điều nhuộm (Bixaceae).
Phạm Hoàng Hộ (1991) đã chuyển chi Dankia Gagnep. vào chi Trà (Camellia L. Mặc dù không có lời giải thích nào từ tài liệu của Phạm Hoàng Hộ (1991), song rõ ràng các mô tả của hoa và quả của Dankia Gagnep. phù hợp với chi Trà (Camellia L.), cụ thể là chúng có “5 lá đài, 5 cánh, nhị nhiều, quả nứt thành 5 mảnh và có trụ quả trung tâm”.
Việc trích dẫn Dankia Gagnep. dưới dạng một synonym của chi Trà (Camellia L.) có thể gặp trong Prince (2007), nhưng lại không được tìm thấy trong Chang & Bartholomew (1984). và Tsia Kaempf. (1763) được ghi nhận là synonym lần lượt của chi Camellia L.
trước khi có sự sáp nhập của chi Thea vào Camellia. - Piquetia Pierre ban đầu là tên một nhánh được được Pierre (1886) thiết lập trong chi Thea L. để chứa đựng loài Thea piquetiana Pierre ex Laness. - loài trà được phát hiện ở Việt Nam.
chứa đựng loài duy nhất – Piquetia piquetiana (Pierre 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com ex Laness. Sealy (1958) chuyển Piquetia piquetiana vào chi Trà (Camellia L.), do đó Piquetia (Pierre) Hallier f. trở thành synonym. (1921) thiết lập thêm chi Stereocarpus Hallier f.
để chuyển dịch và chứa đựng Thea dormoyana với tên gọi được thay đổi Stereocarpus dormoyanus Hallier f. Sau đó, cũng chính Sealy (1958) chuyển loài này về chi Trà (Camellia L.), chứng minh thuyết phục các đặc điểm của Stereocarpus dormoyanus thuộc về chi Trà (Camellia L.) và tạo ra một nhánh đơn loài bên trong chi để chứa đựng loài này. - Nakai (1940) căn cứ sự khác biệt ở đặc điểm “bao phấn đính gốc với một trung đới hẹp” và “biến dị của cụm hoa không giống như các loài còn lại của chi Trà (Camellia L.)” để tách một số loài từ chi Trà (Camellia L.) ở Trung Quốc và Nhật Bản, thiết lập hai chi mới gồm Camelliastrum Naikai và Theopsis (Cohen- Stuart) Nakai. Song về sau, Tuyama (1980) đã kiểm tra các tiêu bản và nhận thấy những ngoại lệ và khác biệt đó là không đủ để hình thành các chi mới ở trên.
- Hu (1956a) thiết lập chi đơn loài Yunnanea Hu trên cơ sở tách ra từ chi Trà (Camellia L.) một loài ở Vân Nam, Trung Quốc là Yunnanea xylocarpa Hu được biết đến từ một tiêu bản duy nhất. Hu mô tả chi dựa trên đặc điểm quả không mở, một đặc điểm khác biệt với chi Trà (Camellia L). Tuy nhiên, Chang (1981) đã chuyển Yunnanea xylocarpa trở lại chi Trà (Camellia L.) và tên Yunnanea Hu trở thành synonym. Chang & Bartholomew (1984) liệt kê hai chi Kailosocarpus Hu và Parapiquetia Hu là synonym của chi Trà (Camellia L.) dưới dạng nomen nudum do hai chi này được công bố nhưng lại thiếu bản mô tả để đảm bảo các điều kiện công bố hữu hiệu.
Qua xem xét những biến đổi danh pháp của chi Trà (Camellia L.) có thể thấy cho dù giới hạn của chi Trà (Camellia L.) có những thay đổi nhất định trong lịch sử, nhưng một cách chắc chắn, chi Trà (Camellia L.) là một chi tồn tại liên tục, một chi Camellia “lớn”, được định nghĩa rộng, hiện nay có khoảng 100 - 300 loài tùy từng quan điểm. 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Một số hệ thống phân loại của họ Chè và vị trí của chi Trà (Camellia L.) Ghi chú: - Vị trí của chi Trà (Camellia L.) được đánh dấu màu tối; - Chữ in hoa chỉ Tông, chữ gạch chân chỉ Phân tông, chữ nghiêng chỉ Chi; - Hệ thống của Ye (1990) và Takhtajan (1997) theo Prince (2007). Melchior (1925) Airy-Shaw (1936) Sealy (1958) Ye (1990) Takhtajan (1997) Prince & Parks (2001) CAMELLIEAE CAMELLIEAE GORDONIEAE THEAE THEAE THEAE Camelliinae Camelliinae Camelliinae Camellia Camellia Camellia Camellia Camellia Camellia Piquetia Tutcheria Pyrenaria PYRENARIEAE Tutcheria Polyspora Stereocarpus Piquetia Yunnanea Tutcheria Pyrenaria Pyrenaria Tutcheria Stereocarpus Tutcheria Pyrenaria GORDONIEAE Laplacea Stewartia Laptaceinae Gordiniinae Parapyrenaria Gordonia Apterosperma Franklinia Laplacea Gordonia GORDONIEAE Laplacea GORDONIEAE Gordiniinae Polyspora Laplacea Polyspora Franklinia Franklinia Gordonia Pyrenaria Schiminae Gordonia STEWARTIEAE Gordonia Laplacea GORDONIEAE Stuartia Laplacea Stewartia Schima Pyrenaria Gordiniinae Schima SCHIMEAE STEWARTIEAE Schiminae Gordonia Franklinia Schima Stewartia Schima Franklinia Apterosperma Hartia Schima Franklinia Stewartiinae STEWARTIEAE Stewartia Stewartia Hartia 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.
Sơ lược lịch sử nghiên cứu phân loại chi Trà (Camellia L.) trên thế giới và ở Việt Nam 1. Trên thế giới Cây chè – Camellia sinensis (L.) Kuntze là loài đầu tiên được biết đến trong chi Trà (Camellia L.), ban đầu dưới tên Thea sinensis L. Những bản ghi cổ nhất về cây chè và công dụng của nó đã được tìm thấy ở Trung Quốc hơn 2000 năm trước. Loài thứ hai của chi Trà (Camellia L.) được công bố là Camellia japonica L.
Loài thứ hai này được Linnaeus điều chỉnh từ chi “Tsubakki” của Kaempfer (1712), song những đề cập và minh họa đầu tiên của loài do Cleyeri (1689) công bố dưới tên “Tzumacky”. Những ghi chép và minh họa chi tiết về Thea sinensis và Camellia japonica của Kaempfer (1712) là những căn cứ quan trọng để Linnaeus (1753a, 1753b) thiết lập hai chi Thea L., trong đó Thea sinensis thuộc chi Thea L. (Class Polyandria Monogynia) và Camellia japonica thuộc chi Camellia L. Loài thứ ba thuộc chi Trà (Camellia L.) được biết đến là Camellia fraterna Hance (1862) được công bố dựa trên các mẫu do Cunningham thu thập ở đảo Chu Sơn, Chiết Giang, Trung Quốc những năm 1700-1702.
Việc hợp nhất hai chi Thea L. bởi Sweet (1918) đã gây ra những tranh cãi giữa các nhà thực vật học kéo dài hơn 100 năm sau đó. Sự thống nhất về việc hợp nhất và lấy tên ưu tiên là “Camellia” đạt được nhờ các bàn thảo, sự ra đời của Điều 46 trong Luật Brussels (1912) và sự đồng thuận tại Đại hội thực vật quốc tế lần thứ 6 (Amsterdam, Hà Lan, 1935) với việc cho rằng 2 tập “Species Plantarum” của Linnaeus (1753a, 1753b) công bố lần lượt cho hai loài Thea sinensis L. và Camellia japonica L.
xem như được xuất bản cùng thời điểm. Chuyên khảo đầu tiên về chi Trà (Camellia L.) - “A Monograph on the Genus Camellia” gồm 8 trang khổ đúp (20” x 27”), 5 bản vẽ màu của Curtis & Pope (1819) đề cập tới hai loài Camellia japonica và Camellia oleifera. Chuyên khảo thứ hai về chi Trà (Camellia L.) - “Illustrations and Descriptions of the Plants which compose the Natural order Camellieæ, and of the Varieties of Camellia japonica, cultivated in the garden of Great Britain” của 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chandler & Booth (1831), trong đó 36/40 trang đề cập đến các thứ của Camellia japonica, phần còn lại là mô tả và minh họa cho ba loài gồm Camellia maliflora, Camellia oleifera và Camellia reticulata. Chuyên khảo thứ ba về chi Trà (Camellia L.) là công trình của Seemann (1859).
Chuyên khảo ghi nhận 40 cái tên khác nhau đã được công bố liên quan đến chi Trà (Camellia L.), nhưng từ quan điểm cá nhân, Seemann đã sáp nhập và rút con số loài xuống còn 12. Seemann là tác giả cuối cùng còn duy trì Thea và Camellia như hai chi phân biệt. Dyer (1874) lần đầu tiên chia chi Trà (Camellia L.) thành các nhánh và ước đoán chi có khoảng 14 loài (khi đó chi vẫn nằm trong họ Ternstroemiaceae). Dyer mô tả 4 loài, chia vào 2 nhánh tương ứng với 2 chi của Linnaeus là Camellia proper.
Đây được xem là hệ thống đầu tiên của chi Trà (Camellia L. Pierre (1886) đã xếp 16 loài thuộc chi Trà (Camellia L.) (khi đó vẫn đang nằm dưới cả tên chi Thea L.) được phát hiện đến thời điểm đó vào 6 nhánh. Kochs (1900) ghi nhận 21-22 loài cho chi Trà (Camellia L.) nhưng không phân vào các nhánh đã biết. Cohen-Stuart (1916a) bãi bỏ 2 trong số 6 nhánh của Pierre, bổ sung 1 nhánh mới và sắp xếp 38 loài vào tổng cộng 5 nhánh.
thành 3 chi Piquetia, Stereocarpus và Camellia, trong đó chi Camellia L.