MỞ ĐẦU Khai thác nước sông sử dụng kĩ thuật lọc thấm bờ là một biện pháp đang được áp dụng tại Nam Dư thuộc quận Hoàng Mai, Hà Nội. Lọc thấm bờ là quá trình nước mặt thấm qua đáy sông, hồ, các lớp trầm tích và đi vào tầng ngậm nước gần kề một cách tự nhiên. Và nếu chúng ta xây dựng một hệ thống bơm gần các sông hồ, sẽ tạo ra quá trình thấm cưỡng bức do sự thăng giáng về thủy lực giữa nước ngầm và nước sông. Hệ lọc tự nhiên là tốt vì có thể hạn chế quá trình xử lý thứ cấp nhưng nếu chứa các chất ô nhiễm khó lọc bằng mặt cơ học thì sẽ xảy ra nguy cơ lan truyền ô nhiễm trong toàn bộ tầng chứa nước ngầm cạnh đó.
Nhà máy nước Nam Dư khai thác nước ngầm ở tầng chứa nước nằm ven sông Hồng để lợi dụng sự thấm lọc bờ cưỡng bức. Nước sông ở đây chảy qua các lớp trầm tích gần kề trong đó có tầng Holocene. Tuy nhiên, theo các nghiên cứu mới nhất thì tầng trầm tích trẻ Holocene ở các vùng đồng bằng châu thổ có rất nhiều tiềm năng ô nhiễm As. Vậy thì sau một thời gian lượng As này sẽ bị rửa trôi khỏi tầng ngậm nước này và đi vào các tầng chứa nước phía dưới.
Từ thực tế đó, tác giả chọn đề tài “Nghiên cứu sự phân bố của As trong tầng Holocene tại Nam Dƣ, Hà Nội” để làm luận văn của mình nhằm kiểm tra sự có mặt của As tại tầng Holocene ở Nam Dư. Các nội dung nghiên cứu sau đã được tiến hành: 1. Nghiên cứu sự phân bố của As và mối quan hệ của nó với một số thành phần hóa học khác trong nƣớc ngầm 2. Nghiên cứu sự phân bố của As trong trầm tích tầng Holocene 3.
Góp phần tìm hiểu nguy cơ lan truyền As từ tầng Holocene xuống tầng Pleistocene dƣới tác động của khai thác nƣớc ngầm. Luận văn này là một phần của công trình nghiên cứu về sự lan truyền As giữa tầng Holocene và tầng Pleistocene của dự án hợp tác quốc tế “Nghiên cứu sự ô nhiễm As trong nước ngầm tại đồng bằng châu thổ sông Hồng ở Việt Nam - VietAs 1 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Danida” giữa Việt Nam và Đan Mạch (http://vietas. Các kết quả của luận văn đã được trình bày poster tại Hội nghị Quốc tế về Asen trong nước ngầm khu vực Nam Á, tháng 11/2011 tổ chức tại Hà Nội. 2 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chƣơng 1 - TỔNG QUAN 1.
Đặc điểm địa hóa của trầm tích chứa nƣớc ngầm đồng bằng châu thổ sông Hồng, Việt Nam Lưu vực Sông Hồng nằm ở bờ của Vịnh Bắc Bộ, biển Đông, Việt Nam và quá trình bồi tụ ở đây chịu ảnh hưởng mạnh mẽ bởi sự thay đổi mực nước biển do quá trình phân bố lại lượng nước qua các quá trình hình thành băng và gian băng, đặc biệt là từ băng hà cực đại cuối cùng (xảy ra các đây 21 ngìn năm) (Last Glacial Maximum - LGM). Cột trầm tích kỉ Đệ Tứ ở khu vực Hà Nội có bề dày từ 50 đến 90 m và có cấu trúc địa chất phức tạp bởi vì khu vực này đã biến đổi từ một khu vực tích tụ trầm tích dưới mực nước biển thành một khu vực chịu sự phong hóa và xói mòn nằm trên mực nước biển [15]. Trầm tích ở các tầng ngậm nước phía dưới tích tụ trong suốt thời kì Pleistoncene (tầng Pleistocene), được xem là trầm tích biển cạn cấu thành từ lớp phiến cát và đất sét. Những trầm tích này có một lớp sỏi cứng với màu sắc nâu nhạt giống như sự phong hoá đá ong như là một chỉ thị cho các điều kiện oxy hoá sau quá trình tích tụ.
Sự thể hiện các điều kiện oxy hoá của trầm tích này có thể được giải thích bằng mực nước biển hạ thấp tương ứng với băng hà cực đại lần cuối cùng - lúc đó mực nước biển hạ thấp xuống độ sâu 120m so với mực biển hiện tại hoặc quá trình nâng lên của vỏ trái đất tương ứng với trầm tích cao tại Vịnh Bắc bộ [15]. Những lớp trầm tích ở các tầng ngậm nước phía trên lắng đọng trong suốt thời kì Holocene (tầng ngậm nước Holocene) được chứng minh là đã lắng đọng trong một môi trường có sự thay đổi, từ bãi thoát triều là chủ yếu đến đồng bằng lũ tích bị ảnh hưởng bởi dòng triều. Tầng ngậm nước Holocene bao gồm các trầm tích cát 25- 40m với sự đan xen giữa đất sét và đất bùn có chứa than bùn và xác thực vật [15] Vào kỉ đệ tứ, đồng bằng sông Hồng đã trải qua các thời kì băng hà như sau: Gunz, Mindel, Riss, Wurm1, Wurm2 và tương ứng với chúng là các pha biển tiến. Các giai đoạn này đã để lại 5 tập trầm tích tương ứng với 5 chu kì trầm tích trong kỉ đệ tứ.
Các trầm tích dạng sỏi thô được hình thành vào pha biển lùi và ngược lại các 3 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com trầm tích dạng hạt mịn được hình thành vào thời kì biến tiến. Theo đó, trầm tích kỉ đệ tứ ở vùng đồng bằng châu thổ sông Hồng được nhận dạng bằng các tập trầm tích như sau (hình 1.1): - Tập đầu tiên được hình thành vào thời kì Pleistocen sớm tương ứng với hệ tầng Lệ Chi. Thành phần chủ yếu bên dưới là sỏi, cuội và cát thô của môi trường sông, bên trên là cát trung bình, bùn và sét của đồng bằng ngập lụt do biển dâng (floodplain). - Tập thứ 2 là chu kì trầm tích (depositional cycle) thứ 2, hình thành thời Pleistocen giữa-muộn (Middle to Lowermost Late Pleistocene) tương ứng với hệ tầng Hà Nội chứa sỏi, cuội tướng lũ tích lòng sông miền núi.
- Tập thứ 3 tương ứng với chu kì trầm tích thứ 3 và được hình thành vào thời kì Pleistocene muộn (Uppermost of Late Pleistocene), tương ứng với hệ tầng Vĩnh Phúc, chứa sỏi thô đến sỏi trung bình, cát của tướng lòng sông đồng bằng và càng lên phía trên trầm tích càng nhỏ mịn hơn với chủ yếu là bùn sét của hỗn hợp giữa cát mịn và sét đầm lầy. - Tập thứ 4 được hình thành vào Pleistocene muộn đến thời Holocene sớm – giữa, tương ứng với chu kì trầm tích thứ 4 của hệ tầng Hải Hưng, chứa sét xám xanh và than bùn đầm lầy. - Tập thứ 5 được hình thành vào thời Holocen muộn và chứa cát, bùn và sét của tướng châu thổ, tương ứng với chu kì trầm tích thứ 5 của hệ tầng Thái Bình. Theo sự phân bố trong không gian, trầm tích của tập đầu tiên và tập thứ 2 nằm trải khá rộng trong đồng bằng.
Tập thứ 3 thay đổi liên tục về thành phần từ cát, bùn và sét tướng aluvi đến hỗn hợp bùn sét pha cát tướng châu thổ và sét bùn tướng đầm phá ở vùng trung tâm. Tập thứ 4 bao gồm sét đầm lầy, than bùn. Thẳng hướng về phía đồng bằng trung tâm, mỗi một tập xuất hiện càng lúc càng thể hiện qui luật cộng sinh tướng khá hoàn chỉnh [16]. 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.
Giản đồ địa tầng học kỉ đệ tứ vùng đồng bằng châu thổ sông Hồng [19]. 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Do đó, trong quá trình phát triển của trầm tích kỉ đệ tứ ở đồng bằng châu thổ sông Hồng, có một sự thay đổi rõ ràng về cộng sinh và tương ứng với sự thay đổi về thành phần thạch học và các thông số trầm tích khác như: Md (kích thước hạt trung bình), So (hệ số chọn lọc),…độ thấm và môi trường cổ địa lí ở mỗi thời kì chính là nhân tố chi phối tới đặc tính cũng như chất lượng nước ngầm ở mỗi vùng. Bởi vậy, các tầng chứa nước chính có chất lượng nước tốt thường có trầm tích sỏi thô tướng aluvi và lũ tích (hình thành vào giai đoạn đầu tiên mỗi chu kì), trong khi đó các tầng cách nước thường có trầm tích hạt mịn có nguồn gốc châu thổ, đầm lầy ven biển và biển (hình thành vào giai đoạn cuối cùng mỗi chu kì). Dựa vào đặc điểm này, trầm tích kỉ đệ tứ có thể được chia ra thành các đơn vị địa chất thủy văn như sau: tầng chứa nước Holocene (Qh); tầng chứa nước Pleistocene (Qp), tầng cách nước Pleistocene - Holocene, tầng cách nước giữa - muộn Pleistocene [16].
Đặc điểm của tướng trầm tích (facial characteristics) và nước ngầm trong các tầng chứa nước và tầng cách nước ở đồng bằng châu thổ sông Hồng như sau: Tầng chứa nƣớc Holocene (Qh) Tầng chứa nước Holocene nằm phía trên, sát bề mặt nơi mực nước dao động trong khoảng từ 2 – 4m đến 36m, với độ dày tăng lên về phía trung tâm của đồng bằng. Tầng này Hình 1. Cát hạt mịn phân lớp mỏng lẫn bột tướng có thành phần cát, bùn, sét aluvi, tầng chứa nước Holocene ở lỗ khoan VP2, của tướng aluvi hệ tầng Hà Nội (6,9‐7,2 m)[16]. Thái Bình ở phía trên (hình 1.2), còn phía dưới là các thấu kính của cát, bùn, sét hệ tầng Hải Hưng chứa ít nước hơn.
Sự phân bố của các cấp hạt như sau: sỏi 2%, cát 30 – 85%, bùn – sét 15 – 70%. Các chỉ số trầm tích: Md = 0.11mm; So = 1,21‐2,85; pH = 5,5‐8,2; Eh = 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Ở tầng này, tỉ lưu lượng các lỗ khoan thăm dò rất thấp, thay đổi từ 2 đến 3 l/sm. Chế độ nước ngầm bị ảnh hưởng trực tiếp bởi sự thấm thấu của nước mưa và nước sông thông qua hệ tầng Thái Bình nằm ngay ở trên.
Biên độ dao động của mực nước giảm theo khoảng cách so với sông. Do đó, tầng chứa nước này chủ yếu được bổ cập bởi nước mưa và nước bề mặt, đặc biệt là một số con sông lớn trong hệ thống sông Hồng. Nước ngầm bị thất thoát đi chủ yếu là do quá trình bốc hơi và thẩm thấu xuống tầng Pleistocene. Nước tầng này là nước nhạt, mềm hoặc cứng nhẹ và có dạng bicacbonat canxi, bicarbonat natri canxi.
Theo kết quả phân tích, nước ngầm ở tầng Holocene có, độ cứng = 2-9; pH = 7,5; TDS = 1,2 – 11,7 g/L, đặc biệt hàm lượng Fe đạt đến 1,24 – 33,5 mg/L [16]. Tầng chứa nƣớc Pleistocene (Qp) Tầng chứa nước Pleistocene phân bố rộng rãi ở vùng đồng bằng châu thổ sông Hồng và được phủ lên bởi tầng trầm tích trẻ hơn – tầng cách nước Pleistocene - Holocene. Thành tạo tầng này bao gồm 3 hệ tầng: hệ tầng Lệ Chi, hệ thầng Hà Nội và hệ tầng Vĩnh Phúc (hình 1. Các trầm tích này đan xen bởi các lớp mùn sét nguồn gốc đầm lầy hệ tầng Lệ Chi, cát bùn, sét nguồn gốc đầm phá hệ tầng Hà Nội.