Tổng quan nghiên cứu
Nước sạch và vệ sinh môi trường là những điều kiện tiên quyết bảo đảm sức khỏe con người và thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội bền vững. Báo cáo của Tổ chức Y tế Thế giới cho thấy hàng năm có hàng tỷ người mắc bệnh và hàng triệu trường hợp tử vong do sử dụng nguồn nước ô nhiễm và điều kiện vệ sinh kém. Tại Việt Nam, hơn 70% dân số sinh sống tại khu vực nông thôn, nhưng đến giai đoạn 2007 - 2010 chỉ có khoảng 60% đến 70% người dân được tiếp cận với nguồn nước hợp vệ sinh. Đặc biệt, tại tỉnh Kon Tum, một tỉnh miền núi phía Bắc Tây Nguyên với 53,2% dân số là đồng bào dân tộc thiểu số, điều kiện địa hình phức tạp, kinh tế khó khăn cùng các phong tục tập quán lâu đời đã tạo nên nhiều rào cản lớn đối với công tác vệ sinh môi trường.
Tính đến cuối năm 2009, tỷ lệ hộ gia đình có nhà tiêu tại Kon Tum mới đạt 55,4%, tỷ lệ sử dụng nước hợp vệ sinh đạt 70%, trong đó chỉ có 30% đạt quy chuẩn kỹ thuật quốc gia. Xuất phát từ thực tiễn cấp bách đó, luận văn thạc sĩ chuyên ngành Sinh thái học của tác giả Trần Thị Hữu dưới sự hướng dẫn khoa học của Tiến sĩ Trần Đắc Phu đã tiến hành đề tài nghiên cứu thực trạng vệ sinh môi trường hộ gia đình tại một số xã tỉnh Kon Tum. Mục tiêu cụ thể của công trình gồm: (1) Mô tả thực trạng vệ sinh nguồn nước và nhà tiêu hộ gia đình tại các địa bàn nghiên cứu; (2) Phân tích các yếu tố liên quan đến thực hành sử dụng nguồn nước và công trình vệ sinh của người dân. Nghiên cứu cung cấp hệ thống dữ liệu thực chứng có giá trị, làm tiền đề thúc đẩy mục tiêu nâng tỷ lệ hộ gia đình có nhà tiêu hợp vệ sinh đạt 70% và tỷ lệ tiếp cận nước sạch đạt 85% theo định hướng Chiến lược Quốc gia.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết áp dụng
Nghiên cứu được xây dựng dựa trên sự kết hợp giữa lý thuyết sinh thái nhân văn và lý thuyết dịch tễ học môi trường. Lý thuyết sinh thái nhân văn giải thích mối quan hệ tương hỗ giữa hành vi sinh hoạt của các cộng đồng cư dân với môi trường sống tự nhiên xung quanh. Đồng thời, lý thuyết dịch tễ học môi trường tập trung phân tích chu trình lan truyền mầm bệnh đường tiêu hóa thông qua sơ đồ phân - miệng, trong đó nguồn nước ô nhiễm và phân người không được xử lý an toàn đóng vai trò là vector truyền bệnh nguy hiểm.
Bên cạnh đó, mô hình niềm tin sức khỏe được vận dụng để nhận diện mối liên hệ giữa nhận thức, học vấn, điều kiện kinh tế hộ gia đình với hành vi vệ sinh cá nhân. Nghiên cứu chuẩn hóa và làm rõ ba khái niệm then chốt:
- Nguồn nước hợp vệ sinh: Bao gồm nước máy, nước mưa, nước giếng khoan, giếng khơi và nước máng lần được bảo vệ, không có nguồn ô nhiễm trong bán kính tối thiểu 7 mét theo quy định của Bộ Y tế.
- Nhà tiêu hợp vệ sinh: Được xác định theo tiêu chuẩn tại Quyết định 08/2005/QĐ-BYT, bao gồm nhà tiêu tự hoại, nhà tiêu hai ngăn ủ phân tại chỗ, nhà tiêu thấm dội nước, nhà tiêu chìm có ống thông hơi và nhà tiêu Biogas. Công trình phải đáp ứng yêu cầu cô lập hoàn toàn phân người, không tạo mùi hôi và không làm ô nhiễm nguồn nước ngầm.
- Quản lý phân người an toàn sinh học: Quy trình thu gom, ủ phân đủ thời gian tối thiểu 6 tháng nhằm triệt tiêu hoàn toàn trứng giun sán và vi khuẩn gây bệnh trước khi tái sử dụng trong canh tác nông nghiệp.
Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu áp dụng thiết kế nghiên cứu mô tả cắt ngang kết hợp phân tích dịch tễ học định lượng và quan sát thực địa. Cỡ mẫu nghiên cứu gồm 420 hộ gia đình được lựa chọn theo phương pháp chọn mẫu cụm nhiều giai đoạn ngẫu nhiên tại các xã đại diện của tỉnh Kon Tum. Trong tổng thể mẫu điều tra, nhóm nghiên cứu đã thu thập và khảo sát chi tiết 279 hộ gia đình đang có công trình nhà tiêu, đồng thời đánh giá toàn diện 63 nhà tiêu đạt quy chuẩn vệ sinh.
Thu thập số liệu được thực hiện thông qua bộ câu hỏi phỏng vấn trực tiếp chủ hộ kết hợp bảng kiểm quan sát kỹ thuật công trình vệ sinh, khoảng cách an toàn nguồn nước và các dụng cụ chứa nước ăn uống. Toàn bộ dữ liệu được quản lý bằng phần mềm EpiData và xử lý thống kê trên phần mềm SPSS. Nhóm tác giả áp dụng phép kiểm Chi-square và tính toán tỷ số chênh OR với khoảng tin cậy 95% để kiểm định mối liên quan giữa các biến số nhân khẩu học, kinh tế, xã hội với thực hành vệ sinh (lấy ngưỡng ý nghĩa thống kê p < 0,05). Lý do lựa chọn phương pháp phân tích này là nhằm kiểm soát tối đa các sai số ngẫu nhiên, định lượng chính xác mức độ tác động của từng yếu tố xã hội học đến hành vi vệ sinh thực tế của cộng đồng dân cư vùng cao trong giai đoạn nghiên cứu từ năm 2010 đến năm 2011.
Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Những phát hiện chính
Nghiên cứu đã ghi nhận những kết quả nổi bật về thực trạng sử dụng nước sạch và công trình vệ sinh tại các xã điều tra của tỉnh Kon Tum:
- Về nguồn nước sinh hoạt: Có 68,5% hộ gia đình sử dụng nước giếng khơi và nước suối tự nhiên làm nguồn cấp nước chính cho ăn uống và sinh hoạt. Tuy nhiên, có tới 58,2% các nguồn nước này xuất hiện nguy cơ ô nhiễm vi sinh do không có nắp đậy kiên cố hoặc bố trí cách chuồng trại chăn nuôi dưới 10 mét. Tỷ lệ hộ gia đình thực hiện xử lý nước bằng biện pháp đun sôi hoặc lọc lắng trước khi sử dụng chỉ đạt 41,6%.
- Về công trình nhà tiêu hộ gia đình: Trong số 420 hộ điều tra, tỷ lệ hộ sở hữu nhà tiêu đạt 66,4% (tương đương 279 hộ). Mặc dù vậy, tỷ lệ nhà tiêu đạt đầy đủ các tiêu chuẩn xây dựng, sử dụng và bảo quản hợp vệ sinh theo Quyết định 08/2005/QĐ-BYT chỉ chiếm 22,6% trên tổng số nhà tiêu hiện có (63 trên 279 nhà tiêu). Trong đó, loại hình nhà tiêu tự hoại chỉ chiếm 11,8%, nhà tiêu hai ngăn chiếm 8,2%, trong khi nhà tiêu đào đơn sơ không hợp vệ sinh chiếm tỷ lệ áp đảo lên tới 54,8%.
- Thực hành quản lý chất thải và vệ sinh cá nhân: Khoảng 38,7% hộ gia đình vẫn duy trì thói quen sử dụng phân tươi hoặc ủ phân chưa đủ 6 tháng trong sản xuất nông nghiệp. Tỷ lệ hộ gia đình có điểm rửa tay thuận tiện với xà phòng diệt khuẩn chỉ đạt 28,3%.
- Các yếu tố liên quan: Trình độ học vấn của chủ hộ từ cấp trung học cơ sở trở lên làm tăng khả năng xây dựng và sử dụng nhà tiêu hợp vệ sinh gấp 2,8 lần so với nhóm có học vấn thấp hơn (OR = 2,8; p < 0,01). Nhóm hộ gia đình có điều kiện kinh tế từ trung bình khá trở lên có tỷ lệ tiếp cận nước hợp vệ sinh cao gấp 3,2 lần so với nhóm hộ nghèo (p < 0,05).
Thảo luận kết quả
Thực trạng vệ sinh môi trường tại Kon Tum phản ánh rõ nét sự chênh lệch vùng miền trong tiến trình phát triển nông thôn mới. Tỷ lệ 22,6% nhà tiêu đạt chuẩn hợp vệ sinh tại địa bàn tuy cao hơn tỷ lệ bình quân 18% của toàn quốc năm 2006 nhưng thấp hơn rất nhiều so với vùng đồng bằng sông Hồng (trên 45%) hay Đông Nam Bộ (trên 52%). Nguyên nhân chính bắt nguồn từ tập quán du canh, chăn thả gia súc tự do và điều kiện địa chất đồi núi gây khó khăn cho việc thi công bể tự hoại.
Khi tổng hợp dữ liệu, việc sử dụng các biểu đồ tròn thể hiện cơ cấu nguồn nước và bảng so sánh đa biến giữa các nhóm dân tộc đã làm sáng tỏ mối tương quan nghịch giữa tỷ lệ hộ nghèo và mức độ hoàn thiện công trình vệ sinh. Tỷ lệ người dân được tiếp cận tài liệu truyền thông về nước sạch chỉ đạt 34,5%, giải thích vì sao nhận thức về các bệnh truyền nhiễm liên quan đến nguồn nước như tiêu chảy cấp, lỵ trực trùng và giun sán còn rất hạn chế. So sánh với các nghiên cứu tại vùng đồng bằng sông Cửu Long, nơi người dân lạm dụng cầu tiêu ao cá, thì tại vùng núi Kon Tum, nguy cơ phát tán mầm bệnh chủ yếu đến từ việc thiếu hố xí hợp chuẩn và để chất thải ngấm tự do vào tầng nước ngầm nông.
Đề xuất và khuyến nghị
Nhằm giải quyết triệt để những bất cập về vệ sinh môi trường tại địa phương, luận văn đưa ra hệ sinh thái 4 giải pháp trọng tâm:
-
Nâng cấp hạ tầng cấp nước sinh hoạt: Tiến hành xây dựng mới và kiên cố hóa hệ thống máng dẫn nước tự chảy, giếng khoan tập trung có bể lọc cát sinh học tại các thôn bản vùng sâu. Mục tiêu nâng tỷ lệ hộ dân được sử dụng nước hợp vệ sinh đạt chuẩn kỹ thuật lên 85% trong giai đoạn 2012 - 2015. Chủ thể chịu trách nhiệm thực hiện là Trung tâm Nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn tỉnh Kon Tum phối hợp cùng Ủy ban nhân dân các xã.
-
Nhân rộng mô hình nhà tiêu sinh thái chi phí thấp: Hỗ trợ kỹ thuật chuyển đổi 100% các hố xí đào một ngăn tạm bợ sang mô hình nhà tiêu hai ngăn ủ phân tại chỗ hoặc nhà tiêu thấm dội nước, phấn đấu đạt tỷ lệ trên 60% hộ có nhà tiêu hợp chuẩn theo Quyết định 08/2005/QĐ-BYT vào cuối năm 2015. Đơn vị chủ trì gồm Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cùng Sở Y tế tỉnh Kon Tum.
-
Đổi mới chiến dịch truyền thông thay đổi hành vi: Tổ chức định kỳ 2 chiến dịch truyền thông mỗi quý bằng cả tiếng phổ thông và ngôn ngữ dân tộc bản địa (Ba Na, Xơ Đăng) qua hệ thống truyền thanh và vai trò của già làng, trưởng bản. Hướng tới mục tiêu 80% người dân từ bỏ thói quen dùng phân tươi và đạt 70% hộ có xà phòng rửa tay tại khu vệ sinh. Đơn vị thực hiện là Trạm Y tế xã, Hội Phụ nữ và Đoàn Thanh niên địa phương.
-
Cung cấp gói tín dụng ưu đãi vệ sinh môi trường: Phối hợp cùng Ngân hàng Chính sách Xã hội triển khai các khoản vay vốn lãi suất ưu đãi 0,5% mỗi tháng cho hơn 1.500 hộ nghèo và cận nghèo để xây dựng công trình nước sạch, nhà tắm và nhà tiêu khép kín trong lộ trình 3 năm liên tiếp.
Đối tượng nên tham khảo luận văn
Công trình nghiên cứu mang giá trị học thuật và thực tiễn phong phú, phù hợp cho 4 nhóm đối tượng trọng tâm:
- Cán bộ quản lý y tế dự phòng và tài nguyên môi trường: Cung cấp nguồn số liệu khảo sát thực địa từ 420 hộ gia đình, giúp các nhà hoạch định chính sách cấp tỉnh và huyện xây dựng kế hoạch triển khai Chương trình mục tiêu quốc gia về Nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn sát với thực tế vùng Tây Nguyên.
- Học viên, nghiên cứu sinh chuyên ngành Sinh thái học và Y tế công cộng: Tài liệu tham khảo hữu ích về phương pháp nghiên cứu cắt ngang mô tả, quy trình thiết kế bảng kiểm dịch tễ học và kỹ thuật phân tích thống kê đa biến OR nhằm xác định các yếu tố liên quan đến hành vi sức khỏe cộng đồng.
- Các tổ chức phi chính phủ và cơ quan tài trợ quốc tế: Nguồn dữ liệu thứ cấp xác thực về thực trạng đời sống của 53,2% đồng bào dân tộc thiểu số, làm căn cứ thiết kế và phân bổ nguồn vốn tài trợ cho các dự án cấp nước và vệ sinh học đường đạt hiệu quả cao nhất.
- Chính quyền địa phương và các đoàn thể cơ sở: Cẩm nang hướng dẫn các giải pháp kỹ thuật xây dựng nhà tiêu hợp vệ sinh giá rẻ và phương thức truyền thông vận động cộng đồng xóa bỏ tập quán lạc hậu, nâng cao tiêu chí môi trường trong xây dựng nông thôn mới.
Câu hỏi thường gặp
Những tiêu chuẩn cốt lõi để đánh giá một nhà tiêu hợp vệ sinh nông thôn là gì?
Theo Quyết định 08/2005/QĐ-BYT của Bộ Y tế, nhà tiêu hợp vệ sinh phải cô lập hoàn toàn phân người, không làm ô nhiễm nguồn nước và đất xung quanh, không có mùi hôi thối, không có ruồi nhặng xâm nhập. Công trình phải có sàn nhẵn, nắp đậy kín và cửa thông hơi đúng quy cách.
Tại sao tỷ lệ hộ có nhà tiêu tại Kon Tum đạt 66,4% nhưng tỷ lệ hợp vệ sinh chỉ có 22,6%?
Sự chênh lệch lớn này là do phần lớn người dân sử dụng nhà tiêu đào hố đơn giản một ngăn không có nắp đậy và không có hệ thống ngăn chặn côn trùng. Nhiều công trình tự xây không bảo đảm quy chuẩn kỹ thuật, dẫn đến việc chất thải phát tán ra môi trường xung quanh dù hộ gia đình vẫn có nhà tiêu.
Yếu tố nhân khẩu học nào ảnh hưởng mạnh nhất đến việc xây dựng nhà tiêu hợp vệ sinh?
Trình độ học vấn của chủ hộ là yếu tố chi phối mạnh mẽ nhất. Kết quả phân tích dịch tễ học chứng minh các chủ hộ có trình độ từ trung học cơ sở trở lên có xác suất sở hữu công trình vệ sinh đạt chuẩn cao gấp 2,8 lần so với những người có trình độ tiểu học hoặc chưa biết chữ.
Tập quán bón phân người tươi trong nông nghiệp gây ra những rủi ro sức khỏe gì?
Phân tươi chứa mật độ khổng lồ các vi sinh vật gây bệnh, bao gồm khoảng 1 triệu vi khuẩn và 100 trứng ký sinh trùng trong mỗi gram. Việc bón phân chưa ủ đủ 6 tháng là nguyên nhân trực tiếp dẫn tới tỷ lệ nhiễm giun đũa 44,4% và giun móc 28,6%, gây suy dinh dưỡng và thiếu máu mạn tính ở trẻ em.
Mô hình nhà tiêu nào phù hợp và kinh tế nhất cho các xã miền núi khó khăn?
Nhà tiêu hai ngăn ủ phân tại chỗ và nhà tiêu chìm có ống thông hơi là hai mô hình tối ưu nhất. Các mô hình này có chi phí xây dựng chỉ bằng khoảng 30% so với nhà tiêu tự hoại, thi công đơn giản từ vật liệu sẵn có, tiết kiệm nước dội và tạo ra nguồn phân bón hoai mục an toàn cho canh tác.
Kết luận
- Luận văn đã cung cấp bức tranh toàn cảnh về thực trạng vệ sinh hộ gia đình tại Kon Tum, ghi nhận 68,5% hộ dùng nước giếng khơi, nước suối nhưng có tới 58,2% nguồn nước tiềm ẩn nguy cơ ô nhiễm vi sinh.
- Xác định tỷ lệ nhà tiêu hợp vệ sinh thực tế đạt 22,6% trên tổng số 279 hộ có công trình vệ sinh, chỉ ra khoảng trống lớn cần can thiệp so với mục tiêu 70% của quốc gia.
- Làm rõ vai trò quyết định của trình độ học vấn và điều kiện kinh tế đối với hành vi sử dụng nước sạch và công trình vệ sinh thông qua các chỉ số nguy cơ tương đối có ý nghĩa thống kê cao.
- Đề xuất hệ sinh thái 4 giải pháp toàn diện kết hợp giữa đầu tư hạ tầng cấp nước, nhân rộng nhà tiêu sinh thái, truyền thông bản địa và hỗ trợ tín dụng ưu đãi cho hơn 1.500 hộ nghèo.
- Khẳng định đóng góp quan trọng của nghiên cứu sinh thái học thực chứng trong việc cung cấp cơ sở khoa học cho công tác y tế dự phòng và bảo vệ môi trường bền vững vùng Tây Nguyên.
Trong giai đoạn tiếp theo từ năm 2012 đến năm 2015, các cấp chính quyền và cơ quan y tế cần nhanh chóng triển khai các mô hình can thiệp điểm tại xã nhằm nhân rộng tỷ lệ nhà tiêu hợp chuẩn. Quý độc giả, các nhà nghiên cứu và cơ quan quản lý hãy cùng chung tay khai thác kết quả nghiên cứu, thúc đẩy hành động vì một môi trường sống nông thôn an toàn và phát triển bền vững.