CHƯƠNG I. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Nguồn gốc, phân loại và phân bố của cây đỗ quyên Đỗ quyên (Rhododendron spp.) là chi được xếp vào họ Thạch Nam (Ericaceae). Đây là loại cây hoa có chỉ giới địa lý tương đối hẹp, phân bố rải rác trên thế giới (Irving, 1993) [65].
Chi đỗ quyên phân bố và xuất hiện ở hầu hết Bắc bán cầu ngoại trừ các vùng khô hạn và trải dài xuống Nam bán cầu ở Đông Nam Á và vùng Bắc Úc. Hiện nay trên thế giới có khoảng 1000 loài thuộc chi Rhododendron. Sự đa dạng loài cao nhất được tìm thấy ở vùng núi Himalaya từ Uttarakhand (Nepal) và Sikkim (Ấn Độ) tới Vân Nam và Tứ Xuyên (Trung Quốc). Ở các vùng núi khác cũng có sự đa dạng cao như ở Đông Dương (trong đó có Việt Nam), Hàn Quốc, Nhật Bản, Đài Loan.
Ngoài ra, còn có nhiều loài đỗ quyên nhiệt đới gốc Đông Nam Á và Bắc Úc (Halliday, 2001) [62]. Thế giới cũng đã ghi nhận 55 loài ở Bormeo và 164 loài ở New Guinea và một số ít loài ở Bắc Mỹ và Châu Âu (Argent và cs. Trong đó, loài đỗ quyên R. ponticum lần đầu tiên được giới thiệu ở Ireland vào thế kỷ 19, và đến nay đã trở thành một loài cây không chỉ sinh trưởng, phát triển ổn định mà còn có giá trị thương mại cao ở nước này (Hall, 2015) [61].
Ở Việt Nam, Rhododendron spp. chỉ có mặt tại một số khu vực vùng núi, do đỗ quyên phân bố ở độ cao từ 800m trở lên so với mực nước biển nên chủ yếu ở các vùng như Sa Pa (Lào Cai), Bạch Mã (Thừa Thiên Huế), Bà Nà (Đà Nẵng), Tam Đảo (Vĩnh Phúc), Langbian (Lâm Đồng) (Nông Văn Duy, 2014) [1]. Việc thu thập và thống kê các loài đỗ quyên cho đến nay vẫn gặp nhiều khó khăn và chưa có sự thống nhất. Các nhà khoa học đã thống kê có 12 chi thuộc họ Ericaceace với khoảng 75 loài đỗ quyên tồn tại trong tự nhiên luan an 6 ở Việt Nam (Nguyễn Tiến Hiệp, 2003) [5].
Trước đó, Phạm Hoàng Hộ đã hệ thống hóa họ đỗ quyên gồm 12 chi với 79 loài, gồm chi Rhododendron (29 loài), Vaccinium (23 loài), Arbutus (1 loài), Agapetes (5 loài), Enkianthus (3 loài), Craibiodendron (14 loài), Lyonia (4 loài), Pieris (1 loài), Leucothoe (1 loài), Diplycosia (5 loài), Gaultheria (6 loài) và Monotropastrum (1 loài) (Phạm Hoàng Hộ, 1999) [6]. Năm 2012, 02 loài thuộc chi Rhododendron đã được bổ sung cho hệ thực vật Việt Nam (Nguyễn Thị Thanh Hương và Nguyễn Tiến Hiệp, 2012) [10]. Gần đây, 11 mẫu giống hoa đỗ quyên bản địa phân bố tự nhiên tại Đà Lạt (Lâm Đồng) đã được ghi nhận, nổi bật nhất là đỗ quyên Nha Trang (R. nhatrangensis), đỗ quyên Hồng nhạt (R.
mucronatum), đỗ quyên Trắng chấm hồng (R. sinofalconeri) và đỗ quyên Trắng to (R.klosii) (Nông Văn Duy và cs. Ở Sapa (Lào Cai), 2 loài đỗ quyên Đỏ đậm (R. delavayi) và đỗ quyên (R.
lyi) (Nguyễn Nghĩa Thìn và Nguyễn Thị Thời, 1998) [27], còn đỗ quyên Tím đậm (R. chpaensis), đỗ quyên Đào phai, đỗ quyên Cà rốt (R. simsii) và đỗ quyên Hồng đậm đã được thu thập tại Tam Đảo (Vĩnh Phúc) (Nguyễn Thị Kim Lý và Nguyễn Thị Thanh Hoa, 2015) [19]. Đỗ quyên hoa Trắng hồng (R.
cavaleriet) được ghi nhận chủ yếu ở vườn quốc gia Tam Đảo (Vĩnh Phúc) (Đặng Văn Hà, 2015) [3]. Trong khi đó, đỗ quyên Quang trụ (R. tanastylum) chỉ tồn tại trong rừng tự nhiên tại vườn quốc gia Hoàng Liên, ở độ cao 2000-2500 m so với mức nước biển (Nguyễn Thị Yến, 2017) [33]. Như vậy có thể thấy, ở Việt Nam chi Rhododendron là một chi rất đa dạng về thành phần loài, hiện có nhiều loài chưa được ghi nhận hết.
Chính vì vậy, các loài đỗ quyên có giá trị làm cảnh và giá trị thương mại được xem là những đối tượng được khai thác triệt để phục vụ cho nhu cầu chơi hoa của thị trường. Vai trò và giá trị của cây đỗ quyên Đỗ quyên là một trong những loài hoa cảnh rất được ưa chuộng ở nhiều nước trên thế giới bởi sự phong phú về hình dạng và năng suất hoa. Đỗ quyên thường nở vào mùa xuân với nhiều loài, nhiều màu sắc rất phong phú và đa dạng như tú quyên, hồng quyên, bạch quyên, tím quyên,. có thể tạo được nhiều dáng thế khác nhau.
Đặc biệt khi hoa nở từ cuối năm trước đến tháng ba năm sau mới tàn, nên được thị trường rất ưa chuộng để trang trí, làm cảnh (Trần Hợp, 1993 [8]; Phạm Hoàng Hộ, 1999) [6]. Trên thế giới đỗ quyên cũng hay được nhắc đến trong các tác phẩm như thi ca và hội họa ở Nhật Bản, Triều Tiên, Trung Quốc. arboreum được công nhận là quốc hoa của Nepal, trong khi tại Ấn Độ, R. campanulatum được coi là quốc hoa của Himachal Pradesh (Barjadze và cs, 2014 [37]; Argent và cs.
Hoa của loài đỗ quyên R. arboreum được coi là có giá trị tinh thần nên được sử dụng trong các lễ hội và trong các đền thờ (Sharma và cs., 2016) [88], sử dụng làm hoa cài đầu cho phụ nữ miền núi như một vật trang trí (Iqbal et al. Với sự đa dạng về màu sắc và hình dạng hoa cùng thời gian ra hoa dài, đỗ quyên được trồng để tạo cảnh quan theo nhiều cách khác nhau như trồng thành thảm hay trồng xen kẽ, kết hợp với các loại cây khác để tạo sự khác biệt của các thảm hoa và màu sắc hoa theo mùa (Bai và cs., 2019; Wang và cs. Ở Việt Nam theo Nguyễn Xuân Khoa và Đào Thanh Vân (2010) [14] khu vực Hoàng liên đã thu thập được 30 loài đỗ quyên và chia làm 3 nhóm: Nhóm làm cảnh (18 loài), nhóm làm dược liệu (5 loài), nhóm đa tác dụng (7 loài).
Đặc biệt có loài trắng lớn (R. decorum) vừa có thể trồng làm cảnh, vừa có thể trồng rừng cảnh quan và còn dùng cho y dược. tanastylum được dùng trồng làm luan an 8 cảnh trong các công viên, khu đô thị của các thành phố lớn (Nguyễn Thị Yến, 2017) [33]. Ngoài giá trị làm cảnh, đỗ quyên còn được minh chứng là cây chứa nhiều hợp chất quan trọng, có giá trị dược lý cao, có khả năng chữa được một số bệnh lý.
(Sun và cs., 2019c; Sun và cs. Lá cây đỗ quyên chứa vitamin C, ở liều lượng 300 mg/kg chữa bệnh viêm phế quản mạn tính, thậm chí nước chiết từ cây cũng có khả năng chữa bệnh viêm phế quản (Wang và cs., 2018; Zhang và cs. Rễ của loài R. simsii chứa các acid amin và những kim loại Zn, Fe, Cu, Co, Se, Mn, Cr các chất này được chiết xuất làm thuốc (Chen và cs., 2018; Sun và cs, 2018) [46] [92].
Ngoài ra, đỗ quyên còn có một số tác dụng khác như lấy tinh dầu có hàm lượng từ 0,7 - 3%, vỏ và lá dùng để chưng cất tanin, hoa của một số loài đỗ quyên còn dùng làm thực phẩm, gỗ của một số cây to dùng làm đồ gia dụng, đồ thủ công mỹ nghệ có giá trị, (Cai và cs., 2018; Chen và cs. Ở Việt Nam, các loài đỗ quyên cũng được khai thác như cây thuốc với mục đích sản xuất một số loại thuốc thảo dược phục vụ trong đời sống (Phan Văn Trưởng và Phạm Thanh Huyền, 2017) [31]. Như vậy có thể thấy, chi Rhododendron có vai trò trong đời sống xã hội với giá trị làm cảnh cũng như làm dược liệu. Nên hiện nay đỗ quyên là đối tượng cây hoa quý đang bị khai thác cạn kiệt ngoài tự nhiên.
Chính vì vậy để bảo tồn và phát triển cây đỗ quyên của Việt Nam, cần thiết phải nghiên cứu, bảo tồn tuyển chọn giống và tác động các biện pháp kĩ thuật phù hợp nhằm nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh của sản phẩm đỗ quyên trên thị trường. Đặc điểm hình thái, yêu cầu ngoại cảnh và dinh dưỡng của cây đỗ quyên 1. Đặc điểm hình thái của cây đỗ quyên Đỗ quyên (Rhododendron) là dạng cây thân gỗ cao hay thấp tùy loài, nhiều cành phụ, cành cứng khỏe. Có loài vỏ cây mỏng và mịn.
Nhưng hầu hết các loài Rhododendron spp. có vỏ hơi xù xì, màu xám đến nâu, một số ít loài có vỏ có thể bị bong tróc (Liu và cs., 2018; Manzoor và cs. Bộ rễ của đỗ quyên mọc nông, có rất nhiều rễ tơ, mảnh nhỏ, màu trắng và phân bố trên lớp đất bề mặt, đôi khi nhô ra phía trên mặt đất, rất dễ bị tổn thương bởi vậy kỹ thuật canh tác rất quan trọng trong việc phát triển và nuôi dưỡng bộ rễ cho cây (Liu và cs., 2018; Manzoor và cs. Lá có dạng lá đơn mọc cách, hiếm khi mọc đối mép lá nguyên hay có răng cưa.
Phiến lá chủ yếu hình mác, hình mác ngược, hình thuôn, hình bầu dục hình trứng hay trứng ngược. Có ít lông hay không có lông trên lá (Nguyễn Thị Kim Lý, 2015; Nguyễn Thị Yến, 2017) [19] [33]. Hoa đơn mọc đầu cành thành các chùm lớn, hoa lưỡng tính, cánh hoa 5 đôi khi 10 hoặc 4. Cụm hoa hình tán, hình gù, hình chùm hay hình chùy hoa mọc ở đỉnh cành hay nách lá (Đặng Văn Hà, 2015; Nguyễn Thị Yến, 2017) [3] [33].
Quả dạng quả nang mở, quả mọng hay quả hạch, hạt nhiều và nhỏ nhưng rất khó nảy mầm (Phạm Hoàng Hộ, 1999) [6], nên biện pháp nhân giống bằng phương pháp giâm cành được coi là kỹ thuật chủ yếu trong việc cung cấp cây giống cho sản xuất. Một số nghiên cứu trong nước của Mai Văn Phô, Nguyễn Thị Thanh Hương hay Nguyễn Văn Lanh đã mô tả hình thái một số loài đỗ quyên tại Việt Nam. Cụ thể như, đỗ quyên hoa Trắng lớn (R. decorum) có màu hoa đa dạng từ, hồng nhạt đến màu trắng, gốc hoa xanh vàng có chấm đỏ, ra hoa từ tháng 4 luan an 10 đến tháng 7, quả chín vào tháng 11 đến 12.
Trong khi đó, đỗ quyên (R. delavayi) có tràng hoa hình chuông, màu hồng đào đến màu đỏ thẫm, gốc có 5 tuyến mật. Ra hoa từ tháng 3 đến tháng 5, tháng 11 quả chín, (Nguyễn Thị Thanh Hương và cs. Loài đỗ quyên Vòi Dài (R.
lyi) màu trắng, thuỳ ửng hồng, hoa có mùi thơm, hoa ra từ tháng 1 đến tháng 4, quả chín từ tháng 7 đến tháng 9, (Nguyễn Văn Lanh, 2004) [15]. Yêu cầu ngoại cảnh của cây đỗ quyên - Nhiệt độ: Đỗ quyên không thích hợp với môi trường có nhiệt độ cao. Các giai đoạn sinh trưởng phát triển khác nhau yêu cầu đối với nhiệt độ khác nhau có liên quan mật thiết đến sinh trưởng phát triển của đỗ quyên (Tyler và cs. Sinh trưởng mạnh nhất của cây trong điều kiện khí hậu mát mẻ của mùa xuân và mùa thu, những mùa có nhiệt độ cao cây sinh trưởng rất chậm.
Thời kỳ ra hoa nhiệt độ cao chồi hoa khó hình thành.