Chương 1: Hành trình sáng tác và quan niệm nghệ thuật của Kim Lân. - Chương 2: Nhân vật trong truyện ngắn Kim Lân. - Chương 3: Cốt truyện trong truyện ngắn Kim Lân. Chƣơng 1 HÀNH TRÌNH SÁNG TÁC VÀ QUAN NIỆM NGHỆ THUẬT CỦA KIM LÂN 2.
Hành trình sáng tác của Kim Lân Nhà văn Kim Lân tên thật là Nguyễn Văn Tài, sinh ngày 01 tháng 08 năm 1920 tại một miền quê giàu truyền thống văn hóa, làng Phù Lưu, xã Tân Hồng, huyện Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh. Xứ Kinh Bắc quê hương ông vốn là đất nghìn năm văn hiến, nơi từng phát tích vương triều, nơi có bề dày lịch sử, có truyền thống văn hóa lâu đời với những hội hè, đình đám… cũng là nơi có những làn điệu dân ca quan họ ngọt ngào, sâu lắng đắm mê lòng người. Cậu bé Tài đã được nuôi dưỡng tài năng trong một không gian sinh thành đậm chất văn hóa nghệ thuật như thế. Và chính cái bút danh của ông cũng phần nào là hệ quả tất yếu từ không gian đó.
Kim Lân chính là sự lựa chọn rút ngắn từ tên một nhân vật trong vở tuồng nổi tiếng mà ông đam mê từ những buổi hội làng thuở bé: Đổng Kim Lân trong vở tuồng Sơn Hậu. Là con của một người vợ lẽ trong một gia đình bình dân, hồi nhỏ, cậu bé Tài chỉ được học hết bậc Tiểu học. Rồi cụ thân sinh mất, cậu phải đi phụ việc 14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com cho các lớp thợ đàn anh để giúp gia đình kiếm sống bằng rất nhiều nghề khác nhau. Những tháng ngày lang bạt này cũng chính là một nguồn tư liệu dồi dào về muôn mặt cuộc sống, thôi thúc một anh Tài với lòng ham viết, thích viết cầm bút để khẳng định một điều gì đó với cuộc đời, với xung quanh.
Kim Lân đến với Cách mạng khá sớm. Năm 1944, ông đã được giác ngộ và tham gia Hội Văn hóa cứu quốc. Cách mạng tháng Tám thành công, ông tiếp tục cống hiến tích cực cho đất nước. Môi trường sống mới này cũng giúp ông có cái nhìn dày dặn và sâu sắc hơn về con người trong cuộc sống.
Và bản sắc văn hóa quê hương, trải nghiệm cuộc đời cùng với niềm yêu thích văn chương đã hun đúc nên một con người, một nhà văn Kim Lân khá kín đáo, nhẹ nhàng nhưng không kém phần sâu sắc, đặc biệt, gắn bó máu thịt với mảnh đất dưỡng nuôi mình. Gia tài văn chương của Kim Lân không nhiều. Ông bắt đầu viết truyện ngắn từ năm 1942 và viết đều tay cả sau Cách mạng tháng Tám. Ông là một trong số ít nhà văn trung thành suốt đời với một thể loại sáng tác: truyện ngắn, thể loại “tập cho người viết nhiều nết quý” nhưng cũng là một hình thức khó khăn với những đòi hỏi riêng biệt.
Kim Lân để lại khoảng trên 30 tác phẩm. Tuy không đồ sộ, nhưng truyện ngắn của ông luôn có một dấu ấn đặc biệt trong đời sống văn học dân tộc. Nǎm 2001, Kim Lân được trao tặng Giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật. Sáng tác của Kim Lân trước Cách mạng tháng Tám 1945 Truyện ngắn đầu tay của Kim Lân có tên là Đứa con người vợ lẽ.
Viết xong, ông gửi cho báo Trung Bắc chủ nhật và được đăng trên số 120 ra ngày 26- 7-1942. Câu chuyện phản ánh tình trạng đa thê và thân phận tủi nhục của những đứa con người vợ lẽ, một hiện tượng khá phổ biến trong xã hội thời ấy. Tác phẩm ngay lập tức đã có một tiếng vang nhất định bởi tính chân thực và khái quát của nó. Cũng không khó để bạn đọc nhận ra câu chuyện có ít nhiều dáng 15 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com dấp từ cuộc đời thực của nhà văn.
Bởi vậy, nó cũng là một dấu mốc quan trọng trong nghiệp văn của ông, gắn ông với một lối viết đặc trưng mà sau này ông theo đuổi: lấy chính chuyện của mình, quanh mình làm đề tài cho tác phẩm. Thành quả là hàng loạt truyện ngắn mang khuynh hướng xã hội ra đời sau đó như: Đứa con người cô đầu, Cô Vịa, Cơm con, … Một năm sau, cũng tờ báo Trung Bắc chủ nhật đã khơi một nguồn cảm hứng mới cho nhà văn: đặt ông viết một truyện ngắn cho số đặc biệt về chủ đề thú chơi đồng ruộng. Liên hệ với những hội hè nơi làng chợ Giầu trù phú ấy, Kim Lân đã viết Đôi chim thành, câu chuyện về thú chơi thả chim bồ câu của quê hương đầy tao nhã. Đọc tác phẩm, bạn đọc không chỉ hiểu về một nét văn hóa đặc thù của làng quê mà còn cảm nhận được vẻ đẹp tâm hồn đầy chất nghệ sĩ của những con người làm nên thú chơi ấy.
Câu chuyện đã nhanh chóng lọt vào “mắt xanh” của nhà văn, nhà báo Vũ Bằng. Ông khuyến khích Kim Lân: “hãy viết về thú chơi và phong tục nông thôn thì một mình ông một chiếu” và mời ông cộng tác với Tiểu thuyết thứ bảy. Thành quả là hàng loạt tác phẩm đã ra đời, đóng đinh nhà văn Kim Lân trên “chiếu” phong tục tập quán làng quê Bắc Bộ: Đuổi tà, Con Mã Mái, Người kép già, Thượng tướng Trần Quang Khải – Trạng Vật, … Dù không có những lời tuyên chiến mạnh mẽ như những nhà văn cùng thời, song đọc tác phẩm của Kim Lân giai đoạn này, chúng ta vẫn có thể thấy chất hiện thực hiện lên rất rõ nét và sâu sắc. Ông không có những trang văn phê phán, những thái độ lên án, đả kích gay gắt như những Giông tố của Vũ Trọng Phụng, Tắt đèn của Ngô Tất Tố, Chí Phèo của Nam Cao…, cũng không có những tiếng cười trào phúng kiểu Số đỏ (Vũ Trọng Phụng).
Nhà văn gần như không đi sâu khai thác mâu thuẫn xã hội đặc thù của thời đại, mâu thuẫn giữa người nông dân với tầng lớp thực dân, địa chủ phong kiến như các bạn văn thời ấy. Trang văn của ông nhẹ nhàng, bình lặng mà vẫn đầy ắp những vấn đề nhức 16 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com nhối, đầy ắp những trái ngang do xã hội đương thời đẩy xô tới số phận những con người nghèo khổ. Ngay từ tác phẩm đầu tay Đứa con người vợ lẽ, người đọc đã cảm nhận được cái không khí cuộc sống đầy bức bối thuở đương thời. Cái lề thói phong kiến, cái hủ tục đa thê đã đẻ ra cái phận người bị hắt hủi: phận người làm lẽ.
Vợ lẽ, tất yếu sẽ sinh ra những “đứa con lẽ”, nếu có thể gọi như vậy. Bi kịch của con người đôi khi lại bắt nguồn từ chính cái xuất thân ấy. Tư, nhân vật trong câu chuyện đã có một tuổi thơ thua thiệt của phận “con vợ ba”, một chuỗi ngày dài mẹ con lâm vào cảnh thất nghiệp khi thày và mẹ cả mất, nhà không làm ruộng nữa, cũng đồng nghĩa với người “vợ ba” lấy về “không phải đôi bên bác mẹ gả bán, không phải nhà hiếm hoi, cũng không phải tình yêu”, chỉ đơn thuần là “cáng đáng việc đồng” kia trở nên vô dụng. Mẹ con phận lẽ thua thiệt ấy giờ lại sống trong cảnh “anh em họ mạc thờ ơ lạnh nhạt, họ coi hình như không có mẹ con Tư trong nhà nữa”.
Và nỗi mệt mỏi trong anh không chỉ là từ cơn đói mạng lại, nó còn là từ những tủi hận của phận “con vợ lẽ, không phải vì hương khói, chỉ là thằng thừa” mà anh đau đớn cảm nhận được. Không dừng ở đó, trang văn Kim Lân còn đề cập tới những mảnh đời vốn dĩ rất nhạy cảm trong bối cảnh xã hội phong kiến dù đã ảnh hưởng nhiều của thói thực dân. Đó là những kiếp cô đầu (Đứa con người cô đầu), những kiếp kép hát (Người kép già), những người phụ nữ “chửa hoang” (Nỗi này ai có biết, Thượng Trần Quang Khải – Trạng Vật), hay cả những “tay anh chị” (Trả lại đòn) … Viết về họ, nhà văn không đi khai thác sâu vào cuộc sống lam lũ mà họ phải đối mặt. Điều ông đau đáu chính là sự xô đẩy của thói tật xã hội lên những phận người ấy.
Một Thạ (Đứa con người cô đầu) trở nên tiều tụy không hẳn vì mẹ không gửi tiền về mà còn vì sự ghẻ lạnh của chính những người sống xung quanh. Một Lan (Nỗi này ai có biết) thùy mị, đẹp nết, đẹp người phải bỏ nhà ra tỉnh theo người bạn làm cô đầu chỉ vì mấy trò thách đố chim chuột của đám trai 17 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com làng rỗi việc. Rồi một ông kép Trạch từng nổi danh (Người kép già) với bao háo hức, mê say, bao kỳ vọng khôi phục lại truyền thống đất tuồng, phải rơi vào cảnh dở khóc dở cười: không có người tập hát, chỉ vì những lời hứa hươu vượn của lũ thanh niên “nhãi ranh” trong làng… Cuộc sống đầy những hờn tủi, chua xót chốn làng quê Bắc Bộ xưa kia đã hiện lên khá chi tiết qua những câu chuyện, những lát cắt cuộc đời tưởng chừng đơn giản, vụn vặt như thế. Những tập tục cổ hủ, những nếp nghĩ cục bộ, cay nghiệt của một bộ phận người nông dân xưa cũng đủ sức dồn đẩy con người ta ghê gớm lắm, chẳng kém gì những chính sách, những mưu mô xảo quyệt… của bộ máy xã hội thực dân phong kiến.
Nó ngấm ngầm ăn sâu, gặm nhấm, bào mòn cái đời sống tinh thần của con người. Nó cũng khiến con người ta bị tha hóa, biến chất, bị dồn đẩy vào chốn cùng đường không giữ nổi cả nhân phẩm. Chất hiện thực toát ra từ trang văn Kim Lân cũng nhẹ nhàng như chính con người ông vậy. Bên cạnh đó, Kim Lân cũng viết khá nhiều tác phẩm ngợi ca những thú chơi văn hóa cổ truyền đầy tự hào của vùng quê Kinh Bắc văn vật của ông.
Đọc những chùm truyện ngắn này, người đọc như được đắm mình vào một nhịp sống náo nức, sôi động của một miền nông thôn trù phú. Đó là nhịp sống của một vùng miền triền miên hội hè đình đám những ngày xuân năm mới, là không khí ngọt ngào của những câu hát quan họ giao duyên, là không gian tưng bừng nhộn nhịp của những trò chơi dân gian ngày hội. Ngay cả những nghi thức cúng tế dân gian cũng được ông đề cập trên trang viết với một sự hiểu biết cặn kẽ và một niềm yêu thích tự hào. Đuổi tà là một câu chuyện như thế.
Nhà văn đã giúp cho bạn đọc hiểu được một tập tục rất quen thuộc trong đời sống làng xã Việt xưa: trừ tà ma đầu năm và đón lộc xuân năm mới.