Chương 1: Cơ sở lý luận về ý định tiêu dùng thực phẩm an toàn theo hướng VietGAP và mô hình nghiên cứu Chương 2: Phương pháp nghiên cứu Chương 3: Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến ý định tiêu dùng thực phẩm an toàn theo hướng VietGAP của người tiêu dùng Hà Nội Chương 4: Đánh giá kết quả nghiên cứu và một số đề xuất 7 CHƢƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ Ý ĐỊNH TIÊU DÙNG THỰC PHẨM AN TOÀN THEO HƢỚNG VIETGAP VÀ KHUNG NGHIÊN CỨU 1. Các khái niệm về ý định tiêu dùng thực phẩm an toàn theo hƣớng VietGAP 1. Thực phẩm an toàn Theo Luật An toàn thực phẩm Việt Nam số 55/2010/QH12 quy định, thực phẩm an toàn là thực phẩm không gây hại đến sức khỏe và tính mạng con người.
Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp thế giới (FAO) và Tổ chức Y tế thế giới (WHO) định nghĩa thực phẩm an toàn là những thực phẩn không chứa các mối nguy cơ, dù là mãn tính hay cấp tính, có thể gây tổn hại cho sức khỏe của người tiêu dùng. Các mối nguy cơ thực phẩm thường tập trung vào: - Vi sinh vật; - Dư lượng thuốc trừ sâu; - Lạm dụng phụ gia thực phẩm; - Các chất ô nhiễm hóa học, bao gồm cả độc tố sinh học; và - Hàng giả, hàng nhái; - Danh sách này đã được tiếp tục mở rộng để bao gồm các sinh vật biến đổi gen, chất gây dị ứng, dư lượng thuốc thú y và chất tăng trưởng chuyên nghiệp. Các yếu tố góp phần vào mối nguy cơ tiềm ẩn trong thực phẩm bao gồm thực hành nông nghiệp không đúng cách; vệ sinh kém ở tất cả các giai đoạn của chuỗi thức ăn; thiếu kiểm soát phòng ngừa trong hoạt động chế biến và chuẩn bị thực phẩm; lạm dụng hóa chất; nguyên liệu, nguyên liệu và nước bị ô nhiễm; lưu trữ không đầy đủ hoặc không đúng cách, v. Năm 1963, FAO và WHO đã cùng nhau xây dựng từ một cơ sở dữ liệu về an toàn thực phẩm có tên gọi là Codex Alimentarius, hay gọi tắt là Codex (FAO– WHO, 2006).
Codex quy định hàm lượng các chất hóa học tối đa trong thực phẩm, mà nếu vượt quá các ngưỡng này, ăn vào sẽ gây nguy hiểm cho cơ thể. Codex cũng khuyến cáo các quy trình vệ sinh tối thiểu đảm bảo an toàn trong sản xuất, chế biến. Hệ thống an toàn thực phẩm của Việt Nam sử dụng một phần lớn các tiêu chuẩn do 8 Codex xác lập. Năm 2006, trong kế hoạch hành động quốc gia bảo đảm vệ sinh an toàn thực phẩm được Thủ tướng phê duyệt đã đặt mục tiêu 80% các quy chuẩn an toàn của Việt Nam đạt quy chuẩn thế giới vào năm 2010, tức là dựa nhiều vào cơ sở Codex.
Đến năm 2016, Bộ Y tế báo cáo rằng chúng ta mới đạt được 65% các quy chuẩn tuân thủ Codex. Các quy chuẩn an toàn còn lại về an toàn thực phẩm do Cục Vệ sinh an toàn thực phẩm (VFA) của Bộ Y tế chịu trách nhiệm. Nhìn chung thực phẩm an toàn là một phạm trù tương đối rộng bao hàm tính an toàn trong tất cả các mắt xích nằm trong chuỗi thức ăn (từ đầu vào sản xuất, sản xuất, sơ chế và chế biến). Ở nghiên cứu này, tác giả chỉ tập trung xem xét các thực phẩm tươi sống như rau củ quả và thịt tươi chưa qua chế biến, đồng thời sử dụng định nghĩa của FAO và WHO như một cách hiểu về thực phẩm an toàn.
Thực phẩm an toàn sản xuất theo hướng VietGAP Hiện tại ở Việt Nam vẫn còn nhiều cách hiểu chưa đầy đủ về các thuật ngữ thực phẩm an toàn, thực phẩm hữu cơ và VietGAP. Phân biệt các loại thực phẩm an toàn Nguồn: Phạm Vũ Hải - Đào Thế Anh, An toàn thực phẩm nông sản, tr.88 9 Thực phẩm an toàn bao trùm toàn các sản phẩm không chứa các chất độc hại vượt quá ngưỡng cho phép gây tổn hại tới sức khỏe con người. Vì vậy, thực phẩm an toàn có thể bao gồm cả các sản phẩm hữu cơ và không phải hữu cơ. Trong khi đó, các sản phẩm hữu cơ được tạo ra từ nông nghiệp hữu cơ là một hệ thống canh tác sử dụng các biện pháp sinh học, khai thác sự tuần hoàn của hệ sinh thái tự nhiên, hoàn toàn không sử dụng đến các yếu tố đầu vào bên ngoài.
Nông nghiệp hữu cơ được tin rằng tạo ra những thực phẩm có lợi cho sức khỏe con người, đồng thời giữ cân bằng hệ sinh thái và duy trì sự đa dạng của các nguồn gen tự nhiên. Tuy vậy, việc chuyển đổi sang canh tác hữu cơ hoàn toàn sẽ dẫn đến giảm năng suất và sản lượng nông nghiệp, vì thế gây mất an ninh lương thực. Kết quả nghiên cứu của Catherine và Ivete (2007) đã nhận định rằng nông nghiệp hữu cơ không thể tạo ra đủ thực phẩm để nuôi sống nhân loại. Chính vì vậy, quy mô canh tác hữu cơ hiện vẫn ở mức rất nhỏ.
Ngoài ra, thị trường dành cho các sản phẩm hữu cơ vẫn còn hạn chế do giá thành rất cao (gấp 3 lần sản phẩm thông thường), nên các sản phẩm này hiện chủ yếu phục vụ cho thị trường các nước phát triển như Châu Âu, Mỹ, Nhật Bản. Trong bối cảnh nhu cầu về thực phẩm trên thế giới ngày càng cao cả về chất lượng và số lượng, tiêu chuẩn GAP (Good Agricultural Practices) đã ra đời. Theo FAO (2007), GAP là các quá trình canh tác, chế biến tại các trang trại hướng tới bền vững về mặt môi trường, kinh tế và xã hội. Kết quả của quá trình ấy là an toàn và chất lượng của thực phẩm và các sản phẩm nông nghiệp không phải là thực phẩm.
GAP nói chung chấp nhận sản xuất có sử dụng hóa chất nhưng trong giới hạn kiểm soát được và không gây nguy hại đến người sản xuất, người tiêu thụ và môi trường. GlobalGAP được tạo ra bởi nhóm Liên minh các nhà phân phối bán lẻ châu Âu – Euro Retailers Produce Working Group (ERPW) với mục đích xác nhận an toàn cho các nông sản được nhập khẩu vào châu Âu. Nhờ chứng nhận, lưu thông các nông sản sẽ thuận tiện hơn khi đi qua biên giới quốc gia, giúp tiết kiệm chi phí kiểm định và kiểm duyệt cho các nhà phân phối. Một cách tương tự, VietGAP là bộ tiêu chuẩn của Việt Nam do Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn ban hành đối với từng sản phẩm, nhóm sản phẩm hướng dẫn người sản xuất áp dụng nhằm đảm 10 bảo: kỹ thuật sản xuất, an toàn thực phẩm, truy xuất nguồn gốc thực phẩm và bảo vệ môi trường và sức khỏe.
Có rất nhiều lợi ích khi áp dụng GAP trong sản xuất như tăng cường chất lượng và an toàn thực phẩm, tạo thuận lợi cho việc thâm nhập thị trường và giảm bớt các rủi ro liên quan đến thuốc bảo vệ thực vật được sử dụng, dư lượng tối đa các chất và nguy cơ gây ô nhiễm khác. Ý định tiêu dùng Tiêu dùng, trong kinh tế học, được định nghĩa là việc sử dụng hàng hóa, dịch vụ bởi các cá nhân hoặc hộ gia đình. Trong kinh tế vi mô, tiêu dùng được nghiên cứu chi tiết đối với từng hàng hóa cụ thể thông qua lý thuyết về hành vi của người tiêu dùng. Ngược lại trong kinh tế vĩ mô, tiêu dùng được hiểu đơn giản là việc mua hàng tiêu dùng.
Ở luận văn này, thuật ngữ tiêu dùng được hiểu là hành vi mua hàng bởi người tiêu dùng cuối cùng. Quyết định mua hàng của khách hàng là một quá trình phức tạp. Theo Philip Kotler, quá trình ra quyết định mua của người tiêu dùng thường trải qua 5 giai đoạn: nhận thức về nhu cầu, tìm kiếm thông tin, đánh giá các phương án lựa chọn, quyết định mua hàng và đánh giá sau khi mua. Ở giai đoạn đánh giá, người mua xếp hạng các sản phẩm trong nhóm các sản phẩm họ đã tìm kiếm được để lựa chọn và từ đó bắt đầu hình thành ý định mua sản phẩm mà họ đánh giá cao nhất.
Nhưng có hai yếu tố có thể cản trở ý định mua trở thành quyết định mua, đó là thái độ của người khác và những yếu tố bất ngờ của hoàn cảnh. - Thái độ của người thân và bạn bè sẽ làm thay đổi ý định mua tùy thuộc hai điều kiện: Khả năng chi phối của người khác đối với người tiêu dùng và cường độ phản đối của người khác càng mạnh càng có ảnh hưởng lớn đến người tiêu dùng càng làm cho họ dễ dàng thay đổi ý định mua. - Ý định mua cũng chịu ảnh hưởng của những yếu tố hoàn cảnh không lường trước được như như ngân sách hiện có của gia đình, mức giá cả và lợi ích của sản phẩm. Khi sắp có hành động mua, các yếu tố hoàn cảnh bất ngờ thay đổi làm cho họ thay đổi ý định mua.
11 Hai yếu tố này có thể làm thay đổi quyết định mua, hoặc không mua hoặc mua một sản phẩm khác mà không phải là nhãn hiệu tốt nhất như đã đánh giá. Morinez và cộng sự (2007) định nghĩa ý định mua là tình huống người tiêu dùng có xu hướng mua một sản phẩm nhất định trong điều kiện nhất định. Theo Wu và các cộng sự (2011, tr.32), ý định mua hàng là khả năng người tiêu dùng sẽ lên kế hoạch hoặc sẵn sàng mua một sản phẩm hoặc dịch vụ nhất định trong tương lai. Đây được coi là bước đi ngay sau đó dẫn đến hành vi mua sắm thực sự (De Magistris và Gracia, 2008).
Các phép đo ý định mua thực sự phản ánh hành vi mua trong tương lai (Grewal et al., 1998), chúng không tốn kém, dễ hiểu và do đó, được sử dụng trong dự báo bán hàng (Armstrong et al. Trong luận văn này, tác giả sẽ sử dụng định nghĩa của Wu về ý định mua hàng. Ý định tiêu dùng thực phẩm an toàn theo hướng VietGAP Nik Ramli Nik Abdul Rashid và các cộng sự (2009) trong một nghiên cứu của mình về sản phẩm xanh đã khái niệm hóa thuật ngữ ý định tiêu dùng sản phẩm xanh là khả năng (probality) và sự sẵn sàng (willingness) của một người trong việc lựa chọn các sản phẩm có các đặc tính thân thiện với môi trường hơn là các sản phẩm có truyền thống khác trong các cân nhắc mua hàng của họ.