Chương 1 N H Â N CÁC H VÀ NHÂN CÁCH SINH VIÊN TR Ư ỜN G CAO ĐẲNG SƯ PHẠM NHA TR ANG 1. K hái niệm nhân cách N hân cách là một trong những vấn đề phức tạp, là đối tượng nghiên cứu của nhiều khoa học khác nhau như triết học, tâm lí học, giáo dục học, xã hội học, vặn hoá học. Từ những cách tiếp cận khác nhau đã hình thành nên rất nhiều quan niệm khác nhau về nhân cách. Có thể nói, có tới hàns trăm định nghĩa về nhân cách.
Tư tưởnơ về nhân cách đã xuất hiện từ Arixtôt (384 - 322 TCN) - nhà triết học cổ đại Hy Lạp. ô n g cho rằng con người là "Sinh vật chính trị" (Joon poltikon). ở đây, bước đầu Arixtôt đã cho thấy được vai trò tác độns của xã hội, của giáo dục và đào tạo đối với sự phát triển của con người như là một nhân cách. Tuy nhiên, đến cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX.
lần đầu tiên, hai nhà tâm lí học người Đức Dilthev và Spranger mới đưa ra khái niệm nhàn cách. Theo hai ông, nhân cách là cái "mặt nạ" có tính chất xã hội của cái tôi bên trong; khi nào cái "mật nạ" đó trùng với cái tôi thì nhân cách phát triển chín muồi. T hế thì, bản chất nhân cách là sì? Trong từ điển tiếng Việt, từ nhân cách được hiểu là. phẩm chất của con người [48, tr.
Trong “Đại từ điển tiếng V iệ t” (Nguyễn Như Ý - Chủ biên), nhấn cách được hiểu là “tư cách và phẩm chất, đạo đức con người”. Trong từ điển tâm lý (N suyễn Khắc Viện - Chủ biên), nhân cách là “Tổng hoà tất cả những gì hợp thành m ột con người, một cá nhân với bản sắc và cá tính rõ nét: Đ ặc điểm thể chất, tài năn2, phons cách, ý chí đạo đức, vai trò xã hội. Và là m ột cá nhàn có ý thức về bản thân, đã tự khẳng định được, giữ được phần nào 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com tính nhất quán trong m ọi hành vi ” [65, tr. Trong định nghĩa này, nhân cách như là cấu trúc tổng hoà nhiều yếu tố: thể chất, đạo đức, tài năng, chí hướna.
M ặc dù đây là định nghĩa tương đối toàn diện về nhàn cách, nhưng vẫn mang tính chất khái niệm về các đặc điểm tâm lý của cá nhân. Để làm rõ khái niệm này, trước hết chúng ta điểm qua một số quan điểm về nhân cách. Quan điểm cho bản chất nhản cách là thuộc tính sinh vật, hay nói cách khác là sinh vật hoá bản chất nhàn cách. Nhân cách được coi là bản năn? tình dục (S.
Feud), là đặc đicm của hình thể (Krestchm er), siêu đẳnơ, bù trừ (A.Adler) vô thức tập thể (Kaal Jung), là các kiểu hoạt động thần kinh cấp cao của người (m ột số nhà tâm lí học quá sùng bái học thuyết Pavlov). Thực chất của các quan điểm trên dù hình thức biểu hiện ở mỗi người có khác nhau nhưng đểu sinh vật hoá bản chất nhãn cách, đều mang quan điểm duy tâm siêu hình. Bản chất nhân cách là nhân ÚIÌỈÌ con người (trườns phái nhàn văn mà đại diện là: C. N hữns ne ười ở trườns phái nàv đều quan tâm đến giá trị tiềm năng bẩm sinh của con người, đến những đặc tính riênơ của mỗi người, những kinh nshiêm của con người.
M asloerv cho rằng tính xã hội nằm trong bản năng con nsười. N hữns nhu cầu như siao tiếp, tình vêu, lòng kính trọng đều có tính chất bản nãns. đặc trưng cho giống người. N hàn cách là động cơ tự động điều hành (G.Allport), là nhu cầu (A.M urray), là tươne tác xã hội (G.M erd), là lo lắng (K.
Những quan điểm này đều đề cao tính chất tự nhiên sinh vật của con người, phủ nhận bản chất xã hội của nhân cách, do đó cũng rơi vào chủ nghĩa duy tâm. Nhân cách được hiếu như là toàn bộ mối quan hệ x ã hội của cá nhân (Lucien Seve. Zeigam ite, Ogorodnikov). Trong thực tế của đời số n s m ột số 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com người lấy quan điểm xã hội của mỗi cá nhân (gia đình, nhà trườne, cơ quan công tác, nghề nghiệp, bạn bè) làm chuẩn để đánh giá nhân cách, v ề thực chất của quan điểm này là xã hội hoá nhân cách một cách giản đơn.
Nhân cách được hiểu đồng nghĩa với khái niệm con người.Platonov cho rằng nhân cách là con người có ý thức, nhân cách là con người có lí trí, có ngôn ngữ, lao động. Loại quan điểm này nói về cái chung, cái đặc trưng nhất của con người m à không chú ý đến cái đặc thù cái riêng của nhân cách. Nhân cách được hiểu như ỉ à cá nhân con người với tư cách là chủ th ể của mối quan hệ và hoạt động có ỷ thức. Hiện nay quan điểm này được đa số các nhà tâm lí học xã hội chấp nhận; họ coi nhân cách là cá nhân, là cá thể so với tập thể, là hạt của nhân xã hội.
Nhân cách được hiểu như !à các ĨÌIUỘC tính nào đó tạo nên bản chất nhân cách như các thuộc tính ổn định, các thuộc tính sinh vật hoặc thuộc tính xã hội.Bueva cho rằng nhân cách là con người với toàn bộ những phẩm chất xã hội của nó; nhân cách là toàn bộ những đặc tính và những qui luật cá nhân (H.Phorvec), là tổns số những đặc điểm cá nhân con người m à k h ô n s người nào có (E.Hollander), là tâm thế (D. Unadze), là thái độ (V.M iaxisev), là phương thức tồn tại của con người trong xã hội với điều kiện lịch sử cụ thể (L. Những quan điểm này chỉ chú ý đến đặc điểm chung nhất của nhân cách, hoặc chỉ chú ý đến các đơn nhất trong nhân cách. Đó cũng chưa thè hiện tính chất toàn diện trong định nghĩa nhân cách.
Nhân cách được hiểu như cciu trúc hệ thống tâm lí của cá nhân. Trong hàng chục năm trở lại đây nhiều nhà tâm lí học đều có xu hướng hiểu nhân cách như là cấu trúc, hệ thống tàm lí. N hân cách là cấu tạo tâm lí mới được hình thành trong mối quan hệ sốn? của cá nhân do kết quả hoạt động cải tạo cứa con người đó (A .Leonchiev) Vói 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com quan niệm bản chất nhân cách là một hệ thống tổ chức, K .O buchow xki định n sh ĩa nhân cách như sau: "Nhân cách là sự tổ chức những thuộc tính tâm lí của con người có tính chất điều kiện lịch sử xã hội, ý nghĩa của nó cho phép giải thích và dự đoán hành động cơ bản của con người". M ặc dù có những cố gắng để làm rõ về cấu trúc nhân cách (thành phần cấu trúc, sự phối hợp giữa các thành phần đó, thứ bậc của thành phần, v.) nhưng nói chung họ đã quy nhân cách về tàm lý học, là biểu hiện ''thứ chủ nghĩa duy vật y h ọc” trong quan niệm nhàn cách m à Lucien Seve đã phê phán [6, tr.
Nhìn chuns, có nhiểu quan niệm và định nghĩa về nhàn cách. Các nhà n sh iên cứu thuộc • các lĩnh vưc • khoa học • khác nhau đều đinh • nghĩa c nhân cách từ sóc độ này hay sóc độ khác. Các định nshĩa có những ơiá trị nhất định về m ặt khoa học. Tuv nhiên, mỗi định nghĩa chỉ phản ánh được m ột khía cạnh nào đó của nhân cách.
Dưới góc độ xã hội học, nhàn cách được xem như là những nhân vật, những cá nhàn có vai trò nhất định tronii xã hội. Dưới sóc đỏ tàm lý hoc, nhàn cách một cấu trúc tàm lý. nhữns thuộc tính tâm lý hay bộ mặt tâm K của cú iihân. Dưới góc độ 2Ĩá trị học.
nhàn cách là mối quan hệ giữa siá trị của chủ thể với giá trị của nhóm, của cộne đồng xã hội và của nhân loại. Dưới góc độ đạo đức học. nhàn cách là những phẩm chất đạo đức của cá nhân, như tính trune thực, dũng c:un. vị tha, nhàn hàu, cần c ù.
Để có một khái niệm nhân cách toàn diện phải xuất phát từ nhữns quan điểm của chủ nshĩa M ác về bản chất con người. Triết học M ác ra đời đánh dấu bước ngoặt vĩ đại trong lịch sử tư tưởng của nhàn loại. Theo đánh giá của V. triết học M ác đã khắc phục nhữns thiếu sót lớn nhất của lich sử triết học.
Chủ nshĩa duy tàm "không thấy được" điểm xuất phát từ hiện thực khách quan, chủ nghĩa duy vật siêu hình ''không thấy được" vai trò tích cực của chủ thể con người. 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Con người, theo quan điểm m ác-xít, đó là m ột thể thốns nhất của cái sinh vật và cái xã hội. Bản chất con người là bản chất xã hội của nhân cách.M ác nói: "Trong tính hiện thực của nó, bán chất con người là tổng hoà những quan hệ xã hội'' [34, t r. Con người là một thực thể m ang quan hệ xã hội, đồng thời là chủ thể của những quan hệ xã hội đó.
Con nsười với tư cách là sản phẩm của tự nhiên, là sự phát triển tiếp tục của giói tự nhiên; mặt khác, con người là một thực thể xã hội được tách ra như m ột lực lượng đối ỉập với giới tự nhiên. Sự tác đ ộns qua lại giữa cái sinh học và cái xã hội trong con nơười tạo thành bản chất người. Nói một cách cụ thể hem, con người, một m ặt là sản phẩm của lịch sử, m ặt khác là chủ thể sáng tạo ra chính lịch sử đó do sự cộng sinh của các quy luật sinh vật học - tâm lý - ý thức và sự hoạt độns của các quy luật xã hội tác độne đến con người. Trên bình diện tâm lý học, phương diện tự nhiên, cái sinh học của con nsười là nơi phát sinh và chứa đự ns rất nhiều nhu cầu.
Những nhu cầu đó bị ch ế ước bởi khá nãns xã hội tronơ việc thoả mãn chúng. Thông thường thì nhu cầu cá nhân muốn vượt ra ngoài khuôn khổ xã hội. Sự chế ước lẫn nhau giữa những phươns diện tự nhiên và xã hội tạo thành cuộc sốns nội tâm của mỗi con nsười. Đó là hạt nhân hình thành nhàn cách ở mỗi con người.
Dựa trên quan điểm duy vật về lịch sử. tâm lý học xem sư hình thành và phát triển nhân cách như một quá trình vận động. Khi sinh ra con người chưa phải là một nhân cách. N han cách được hình thành, phát triển trons cuộc sốns con nsười.
Khi ý thức phát triển đến một mức độ nhất định, nhân cách mới bắt đầu hình thành, phát triển.