mở đầu của quá trình giao tiếp; Giai đoạn điều khiến, phát triển và điều chỉnh quá trình giao tiếp; Giai đoạn kết thúc quá trình giao tiếp [1, tr. Sự phân chia như vậy là hợp lí, dưới đây chúng tôi xin làm rõ hơn các hoạt động cụ thê của từng giai đoạn giao tiếp: - Giai đoạn định hướng cho hoạt động giao tiếp: là giai đoạn xác định được đặc điểm của đối tượng giao tiếp, mục đích và nhiệm vụ giao tiếp, các phương tiện sử dụng làm công cụ giao tiếp v. - Giai đoạn mở dau của quá trình giao tiếp: là giai đoạn tạo tâm thé cho hoạt động giao tiếp từ việc xây dựng kế hoạch, các bước cụ thé hoá cho việc thực hiện kế hoạch giao tiếp và những điều kiện đảm bảo cho hoạt động giao tiếp có kết quả. - Giai đoạn điều khiển, phát triển và điều chỉnh quá trình giao tiếp: ở giai đoạn nảy các chủ thể giao tiếp được bộc lộ hướng tới mục đích và nhiệm vụ giao tiếp, đòi hỏi sự tích cực, chủ động, linh hoạt của chủ thé giao tiếp.
Day cũng là giai đoạn thường nảy sinh những yếu tố bất ngờ ngẫu nhiên, cần đến sự chú ý điều chỉnh của chủ thê giao tiếp. - Giai đoạn kết thúc quá trình giao tiếp: lúc này hoạt động giao tiếp đã được thực hiện, chủ thê giao tiếp phải đánh giá được hiệu quả giao tiếp. Hiệu quả 16 của hoạt động giao tiếp trước sẽ làm tiền đề và góp phần điều chỉnh hoạt động giao tiếp sau đó. Đề thực hiện giao tiếp, con người sử dụng nhiều phương tiện khác nhau, nhưng ngôn ngữ được coi là phương tiện giao tiếp cơ bản, cũng là phương tiện giao tiếp có nhiều ưu thế nhất.
Chính vì vậy khả năng ứng dụng của giao tiếp ngôn ngữ rất cao, nhất là trong lĩnh vực truyền thông. Giao tiếp ngôn ngữ 1. Khái niệm Giao tiếp ngôn ngữ (GTNN) hay giao tiếp bằng ngôn ngữ là hình thức giao tiếp cơ bản và quan trọng nhất của xã hội loài người. Nó lấy ngôn ngữ (nói và viết) làm phương tiện.
Ngôn ngữ là một hệ thống tín hiệu đặc biệt vừa có tính đơn trị vừa có đa trị. Đồng thời, ngôn ngữ là loại phương tiện vừa có khả năng miêu tả đúng với hiện thực lại vừa có thể chuyển tải được chính xác ké cả những tư tưởng, tình cảm vốn rất khó xác định của con người. Mỗi tín hiệu ngôn ngữ vừa truyền tải nội dung sự vật, hiện tượng vừa có khả năng biểu hiện các sắc thái tình cảm (yêu, ghét, hờn, giận.) của chủ thé đối với sự vật, hiện tượng mà nó biểu hiện. Và, vì là một hệ thống tín hiệu có tính xã hội cao, ngôn ngữ không chỉ là phương tiện tư duy, giao tiếp của những con người trong cùng một thời đại mà còn ở các thời đại khác nhau, lứa tuổi và nền văn hoá khác nhau.
Hoạt động GTNN có hai quá trình: tạo lập văn ban và lĩnh hội văn bản. Văn bản (hay ngôn bản) vừa là sản phẩm vừa là phương tiện của hoạt động giao tiếp. Tác giả Pham Văn Nam (2009) đã khái quát hóa hoạt động GTNN qua so đồ: p oo oeeeee | `e Ngônbản ¿Ý x 2 ` /e (Van ban) ạ`'- So dé 1.5 [40] Tao lập văn ban là hoạt động cua người phat tin. Một văn ban (nói va viết) ra đời nghĩa là một thông điệp đã được người phát « mã » hoá bằng ngôn ngữ.
17 Lĩnh hội văn bản là hoạt động giải « mã » ngôn ngữ do người nhận tin thực hiện. Có được tín hiệu ngôn ngữ từ người phát, người nhận phải dựa vào năng lực ngôn ngữ cùng với thói quen giao tiếp trong một hoàn cảnh cụ thể mà chiếm lĩnh được nội dung ý nghĩa của văn bản. Hiệu quả của việc chuyền tải thông điệp phụ thuộc chính vào năng lực « mã » hoá thông tin của người phát và giải « mã » thông tin của người nhận. Việc lĩnh hội thông tin từ văn bản ngôn ngữ nhiều khi không giản đơn, nhất là đối với các văn bản có nhiều tầng nghĩa, các nhân vật giao tiếp lại khác nhau về văn hoá, đặc điểm tâm lí lứa tuổi, thói quen sử dụng ngôn ngữ v.
Chúng ta thường thay xuất hiện không ít những hiện tượng giao tiếp không hiệu quả. Có nghĩa là người nói nói một đăng, người nghe nghe một nẻo; nội dung văn bản đáng lẽ phải được hiểu thế này, nhưng lại bị hiểu theo nghĩa hoàn toàn khác theo kiểu « ông nói gà, bà nói vịt ». Điều này không chỉ có nguyên do từ văn bản, từ việc lập « mã » và giải « mã » thông tin, mà còn do trạng thái tâm li, sức khoẻ, khả năng chú ý, sự tương đồng về kinh nghiệm sống, về văn hoá của các bên tham gia giao tiếp. Chúng tôi khái quát hóa nguyên nhân của quá trình giao tiếp không hiệu quả theo sơ đồ dưới đây: Giao “7 Sơ đồ 1.6 18 Như vậy, muốn hoạt động giao tiếp ngôn ngữ có hiệu quả, các nhân vật giao tiếp không chỉ căn cứ vào bản thân văn bản mà còn cần chú ý đến các yếu tố khác trong quá trình giao tiếp có anh hưởng chi phối nội dung thông điệp.
Mục đích, hiệu quả của giao tiếp ngôn ngữ - GTNN không chỉ nhằm mục đích thông tin mà chủ yếu là tác động tới người nhận vé tư tưởng, tình cảm và hành động: Chức năng cơ bản của ngôn ngữ là thông báo, biểu hiện và tác động v. có khi thé hiện riêng rẽ, lại có khi được hoà trộn chặt chẽ trong một don vi ngôn ngữ. Vì vậy, người nhận chỉ ở trong một ngữ cảnh cụ thể, đối mặt trực tiếp, cảm nhận được đầy đủ nét mặt, cử chỉ, giọng điệu v. của người phát mới có thể lĩnh hội đầy đủ thông điệp mà người phát muốn gửi đến.
Nhiều khi ý nghĩa thông báo của hoạt động GTNN được ẩn đi mà chỉ còn sự tác động đến người nhận về tư tưởng, tình cảm và hành động. Hành động là chức năng thông qua giao tiếp, nói đúng hơn là với mục đích thông qua các diễn ngôn mà các đối ngôn tự ràng buộc mình và ràng buộc nhau vào một hành động nào đó. Theo Đỗ Hữu Châu (2003): « Có lẽ hành động là chức năng đầu tiên của con người đặt ra cho việc giao tiếp bằng ngôn ngữ và bằng những phương tiện khác » [5, tr. - « Mã » hoá đúng quy tắc ngôn ngữ là điều kiện cân thiết dé đạt đến mục đích giao tiếp chứ không phải là mục đích giao tiếp: Các đơn vị ngôn ngữ được hình thành bởi những quy tắc từ vựng, ngữ pháp và ngữ nghĩa.
Hoạt động GTNN không phải nhằm mục đích chuyền tải các quy tắc đó, trừ khi quy tắc ngôn ngữ chính là nội dung giao tiếp. Một GTNN thông thường chỉ thật sự thành công khi cả người phát và người nhận đều lĩnh hội thông điệp theo cùng một nội dung. Sử dụng đúng các quy tắc ngôn ngữ chính là điều kiện căn bản dé chuyền tải đúng nội dung giao tiếp mà người phát mong muốn. Ví dụ: dấu thanh trong tiếng Việt là một quy tắc, các phép hoán dụ, an dụ v.
là những quy tắc để chuyên nghĩa của từ. Nhưng người nhận tin nhiều khi không quan tâm đến những quy tắc ấy, mà chỉ cần biết người « phát » muốn nói gì, mong muốn gì. 19 - Hiệu qua của GTNN tỉ lệ thuận với sự hiểu biết về đối tượng giao tiếp: Đối tượng giao tiếp trong thực tế rất đa dạng, có thể là một người hoặc nhiều người, có người chủ động, hào hứng, có người bị động, khiên cưỡng. Nếu nguoi nói đón được thị hiếu, sở thích của người nghe thì sẽ chủ động lựa chọn được nội dung nói, cách nói phù hợp làm cho người nghe thấy « lọt tai » hơn.
Hiểu biết đối tượng giao tiếp bao gồm nhiều mặt: tâm lí lứa tuôi, giới tính, sở thích, mối quan tâm, nghề nghiệp, vị trí xã hội v. Sự hiểu biết về đối tượng giao tiếp càng kĩ bao nhiêu thì hiệu quả giao tiếp cũng theo đó mà tăng lên bấy nhiêu. Thực tế chứng minh rằng các đối tượng giao tiếp khác nhau sẽ quan tâm đến nội dung giao tiếp khác nhau, theo những yêu cầu, mức độ khác nhau, và họ cũng đòi hỏi những cách diễn đạt khác nhau. Chủ tịch Hồ Chí Minh lúc sinh thời đã từng rất chú trọng đến đặc điểm này khi người nhắc nhở những người làm báo phải cân nhắc kĩ Viết cho ai? Viết như thế nào? 1.
Giao tiếp hội thoại trên bình diện giao tiếp ngôn ngữ 1. Khai niệm, phân loại Khi bàn về hội thoại, Đỗ Hữu Châu cho rằng: Hội thoại là một hoạt động căn ban, thường xuyên, phổ biến của sự hành chức ngôn ngữ. Các hình thức hành chức khác của ngôn ngữ đều được giải thích dựa vào hình thức hoạt động căn bản này [dẫn theo 33]. Từ điển tiếng Việt (1997) định nghĩa: Hội thoại là sử dụng một ngôn ngữ dé nói chuyện với nhau [46, tr.
Theo chúng tôi, hội thoại là dạng thức giao tiếp bằng khẩu ngữ (tức là dùng ngôn ngữ lời nói) giữa các nhân vật tham gia giao tiếp nhằm trao đôi thông tin hoặc trao đôi tư tưởng, tình cảm v. theo một mục đích xác định. Trong hội thoại, ngoài ngôn ngữ là công cụ chính, các bên tham thoại còn có thể sử dụng các phương tiện kèm ngôn ngữ như điệu bộ, cử chỉ, nét mặt v. dé hỗ trợ.
Hiện nay có nhiều cách phân loại hội thoại, nhưng phổ biến nhất là dựa vào số lượng người tham gia. Theo đó, sẽ có các hình thức hội thoại giữa hai 20 người, hay còn gọi là song thoại (dialogue); giữa ba người, hay còn gọi la tam thoại (trilogue) và giữa nhiều người, đó là đa thoại (multilogue/ polylogue). Căn cứ vào cương vị và tư cách của những người tham gia hội thoại, có hội thoại mang tính chủ động hay bị động của người nghe, hội thoại với sự có mặt hay văng mặt của người nghe (như trên phát thanh hay truyền hình), hội thoại có người điều khiến và hội thoại không có người điều khién. Dựa vào mục đích hội thoại, có hội thoại có mục đích, hội thoại không có mục đích.
Hội thoại có mục đích là những cuộc hội thoại có đích được các bên tham thoại xác định rõ ràng, ví dụ hội thoại trong các buổi thương thuyết, ngoại giao, hội thảo khoa học, phỏng vấn v. Hội thoại không có mục đích thường là những cuộc thoại mà các bên tham gia giao tiếp không xác định mục đích một cách rõ ràng. Những cuộc trò chuyện, tan gau đều thuộc loại này.