Chương 1. TRUYEN THONG PHAT TRIEN, MÔ HÌNH TRUYEN THONG PHAT TRIEN TREN KENH PHAT THANH CHUYEN BIET VE SUC KHOE 1.1 Cac khái niệm 1.1 Khái niệm “Phát triển” và các cách tiếp cận 1.1 Phát triển kinh tế Trong lịch sử thế giới và lịch sử nghiên cứu về lý thuyết truyền thông phát triển, tính từ sau Chiến tranh thế giới thứ 2, thuật ngữ “phát triển” (development) được nghiên cứu, định nghĩa với nhiều góc độ tiếp cận khác nhau và tùy thuộc vào từng giai đoạn. Thời kỳ đầu, phát triển gắn với quan điểm “phát triển kinh tế”. Sau Chiến tranh thé giới thứ 2, mô hình tăng trưởng kinh tế theo mô hình Âu — Mỹ phát triển mạnh mẽ.
Các tổ chức như Liên Hợp quốc, Ngân hàng thế giới, Quỹ Tiền tệ thé giới. tham gia tích cực vào chương trình phát triển, tái thiết kinh tế. Ở thời ky này, nhiều học giả quan tâm đến tăng trưởng kinh tế, coi kinh tế làm đầu và đồng nghĩa với phát triển [22] S. Mặc dù các chỉ tiêu tăng trưởng kinh tế là những yếu tố thể hiện tập trung nhất mức độ thỏa mãn nhu cầu vật chất cơ bản của con người nhưng đây cũng là cách tiếp cận thúc đây xã hội chạy theo hướng sản xuất hàng loạt, chủ nghĩa tiêu dùng, dẫn đến nguy cơ cạn kiệt nguồn tài nguyên và các hệ lụy khác đối với kinh tế, xã hội.
Chính sách phát triển dựa trên tăng trưởng kinh tế thuần túy theo mô hình Âu — Mỹ tạo nên khoảng cách chênh lệch sâu sắc giữa các nước phát triển và nước đang phát triển, giữa tầng lớp thượng lưu và dân lao động nghèo. Sự giàu lên của các nước công nghiệp phát triên lại là sự nghèo đói, lạc hậu và phụ thuộc của các nước 10 kém phát triển. Cùng với đó là những tác động tiêu cực tới môi trường, văn hóa bản địa, văn minh nhân loại và con người chính là nạn nhân gánh chịu hậu quả nặng nề. Dan dan, con người nhận thức ra rằng sự giàu có, tăng trưởng về vật chất không là điều kiện đủ dé đạt được một số mục tiêu quan trọng của cá nhân và cộng đồng như dân chủ, bình dang giới hay bảo tồn và phát triển di sản của loài người [23].
Paul Krugman, giáo sư kinh tế học của Dai hoc Princeton ( Mỹ) từng gọi kiểu tăng trưởng này là “sản xuất xúc xích” [23], tức là tăng trưởng mà không có phát triển, dẫn tới nguy co gia tăng thất nghiệp (jobless growth), tăng trưởng loại trừ (inclusive growth), tăng trưởng không có tiếng nói (voiceless growth), dần dan sự tăng trưởng không đảm bảo dân chủ, tăng trưởng nhưng để mất bản sắc văn hóa, tăng trưởng không có tương lai (futureless growth) và cuối cùng là sự tăng trưởng thiếu bền vững [22].2 Phát triển con người Khi những mặt trái của tăng trưởng theo hướng thiếu bền vững được bộc lộ, các nhà nghiên cứu đã hướng đến góc tiếp cận mới về “phát triển”. Đầu những năm 90 của thế kỷ XX, với tác động của “làn sóng thứ ba” ( Alvin Toffle, 2002) , nhu cầu cá nhân có điều kiện được đáp ứng, xu hướng cá nhân hóa, chuyên biệt hóa ngày càng phát triển, hình thái kinh tế mới dựa vào tri thức - “tri thức là sức mạnh” đã bật lên so với hình thái tăng trưởng kinh tế lỗi thời, lạc hau. Tác giả Alvin Tofler chia nền văn minh nhận loại thành 3 làn sóng: làn sóng thứ nhất với nền văn minh nông nghiệp thống trị, làn sóng thứ hai là làn sóng gắn với giai đoạn công nghiệp và làn sóng thứ 3 là nền văn minh hậu công nghiệp. Trong giai đoạn này, hình thức sản xuất công nghiệp hàng loạt đã trở nên yếu thế, thay vào đó là xu hướng của nhu cầu riêng biệt của từng nhóm khách hàng.
Alvin Toffle cho rằng nền văn minh mới gắn liền với sự thay đổi căn ban trong nhiều lĩnh vực. Trong đó, thay đổi mang tính nền tảng là xu hướng chia khách hàng, công chúng thành những nhóm nhỏ dé phục vu, thay vì coi công chúng, khách hàng là một nhóm lớn, có đặc điểm, nhu cầu, mối quan tâm giống nhau như trước đây. Xu hướng mới của nền sản xuất là hướng tới những nhu cầu riêng biệt của từng nhóm khách hàng. Quan niệm hướng góc tiêp cận cua phát triên về “phát trién con người” — coi con người là cua 11 cải đích thực của mỗi quốc gia.
Cách tiếp cận về phát triển con người quan tâm tới các nhu cầu cơ bản, phát triển bền vững, phát triển phụ nữ, giải phóng con người. Trong số các khái niệm về phát triển theo cách tiếp cận này, S.Melkote đã khái quát: “ Phát triển là quá trình có thé đem lại cho con người các cơ hội thích hợp va bền vững dé cải thiện cuộc sông của họ và cuộc sống của những người khác trong cộng đồng của mình” [52]. Phát triển không chỉ được đánh giá bằng chỉ số GDP, mà còn cần những chỉ số có tầm nhìn tổng quát hơn về phát triển là HDI ( chi số phát triển con người) và GPI ( chi số tiến bộ thực sự).3 Phát triển bền vững Thuật ngữ “Phát triển bền vững” ra đời từ cuối thập niên 1980. Năm 1987, Hội thảo toàn cầu về Môi trường và phát triển đã công bố báo cáo “Tương lai của chúng ta”, trong đó lần đầu tiên đưa ra khái niệm về phát triển bền vững dé chi sự phát triển đáp ứng nhu cầu của hiện tại nhưng không làm tốn hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu của các thế hệ tương lai.
Năm 1992, Hội nghị Thượng đỉnh Trái đất (Earth Summit) do Liên hợp quốc tổ chức tai Rio de Janeiro về Môi trường và phát triển với sự tham gia của hon 170 quốc gia, 2500 tổ chức phi chính phủ, 8000 nhà báo, đã hoạch định chương trình hành động vì sự phát triển bền vững trên phạm vi toàn cầu. Trong đó, không chỉ các nước đang phát triển mà cả các nước phát triển cũng phải có trách nhiệm chung dé duy trì sự phát triển bền vững. Về lý thuyết, phát triển bền vững là khả năng duy trì sự phát triển toàn diện một cách thường xuyên và lâu dài, có tầm nhìn xuyên thế hệ. Điều này trái ngược với phát triển kém bền vững khi chỉ đạt được một vài mục tiêu tăng trưởng mang tính nhất thời, thậm chí sẽ gây hậu quả trong tương lai.
Đó là vấn đề tăng trưởng kinh tế và đáp ứng các nhu cầu của con người, xã hội cần gắn với bảo vệ môi trường, bảo vệ nguồn tài nguyên thiên nhiên và sự phát triển của nguồn nhân lực. Tháng 9/2015, tại Hội nghị Thưởng đỉnh Liên hợp quốc về phát triển bền vững, các quốc gia trên thế giới đã thông qua chương trình nghị sự 2023 vì sự phát triển bền vững. Mục tiêu phát triển bền vững (SDG) là mục tiêu phổ quát được đưa ra nhằm chấm dứt đói nghèo, bảo vệ hành tinh và đảm bao tất cả mọi người được hưởng hòa bình và thịnh vượng. SDG là sự tiếp nối của Mục tiêu phát triển Thiên 12 niên ky (MDG), tam nhin dén 2030, bao gom 17 muc tiéu, 169 muc tiéu cu thé va 232 chi tiêu, dựa trên 6 chủ đề: nhân phẩm, con người, hành tính, quan hệ đối tác, công lý và thịnh vượng.2 Khái niệm Truyền thông phát triển 1.1 Sự ra đời và các cách tiếp cận khái niệm Truyền thông phát triển Từ sau Thế chiến thứ hai đến đầu thập niên 1970, thuật ngữ “Truyền thông và phát triển” (Communication and Development) được sử dụng pho biến với tu cách là một lĩnh vực riêng biệt trong nghiên cứu truyền thông, thê hiện mối quan hệ giữa các phương tiện truyền thông đại chúng và sự phát triển.
Tuy nhiên, các nhà nghiên cứu nhận thấy, cần nhắn mạnh tính trực tiếp hơn vào việc làm thé nào dé các chương trình truyền thông đạt được hiệu quả, tác động tích cực đến sự thay đôi xã hội và phát triển của quốc gia. Thuật ngữ “Truyền thông phát triển” ( Development Communication) hướng tới việc xem xét tính thực tiễn của hoạt động truyền thông, khảo sát hiệu quả của các chương trình truyền thông vì mục tiêu phát triển. Thuật ngữ “Truyền thông phát triển” ra đời, ghi dấu ấn của nhà nghiên cứu Nora C. Quebral với tác phẩm “Truyền thông phát triển trong lĩnh vực nông nghiệp”, năm 1971.
Công trình là nghiên cứu tỉ mi về vai trò của phát thanh đối với người dân trong sản xuất nông nghiệp. Quebral định nghĩa “ Truyền thông phát triển là ngành khoa học và nghệ thuật truyền thông nghiên cứu sự dịch chuyên của một quốc gia và người dân từ nghèo đói đến một trình độ phát triển cao hơn, tạo dựng công bằng xã hội tốt hơn, và đáp ứng sâu rộng hơn khả năng của con người”. Tổ chức Ngân hàng Thế giới cũng định nghĩa truyền thông phát triển là một lĩnh vực liên ngành dựa trên nghiên cứu thực nghiệm giúp xây dựng sự đồng thuận, tạo ra sự chia sẻ kiến thức để đạt được các thay đổi tích cực trong các sáng kiến phát triển. Hội nghị toàn cầu đầu tiên về truyền thông phát triển tổ chức tại Rome, Italia, tháng 10/2006, đưa ra định nghĩa về truyền thông phát triển: “một quá trình xã hội dựa trên đối thoại, sử dụng hàng loạt các công cụ và phương pháp.
Nó chính là việc tìm kiếm thay đổi ở các mức độ khác nhau bao gồm lắng nghe, xây dựng 13 lòng tin, chia sẻ kiến thức, kỹ năng, xây dựng chính sách, tranh luận, học tập vì sự thay đôi bền vững và có ý nghĩa” [57]. Có nhiều cách tiếp cận khác nhau đối với khái niệm Truyền thông phát trién. Các cách tiếp cận này đều có một điểm chung là dùng truyền thông dé thúc day phát triển, nên có một số học giả dùng thuật ngữ “truyền thông hỗ trợ phát triển” (communication support development), “truyền thông vì phát triển” (communication for development), “truyền thông trong phát triển” (communication in development). Về co bản, các nhà nghiên cứu đều chia sẻ ý tưởng chung về khái niệm truyền thông phát triển là sự kết hợp của các mô hình truyền thông nhằm phổ biến, truyền bá tri thức với vai trò tham gia tích cực, hai chiều giữa những chủ thể tham gia nhằm thay đổi xã hội theo hướng tiến bộ, bền vững.
Truyền thông phát triển quan tâm tới cộng đồng địa phương, tính bản địa. Vai trò của truyền thông đối với sự nghiệp phát triển được nhìn nhận trên diện rộng, quy mô và đa chiều.