Tổng quan luận án

Công trình khoa học mang tên "Nghiên cứu ngôn ngữ đánh giá trong sách giáo khoa bậc tiểu học (So sánh sách tiếng Anh tiểu học ở Singapore và sách tiếng Việt tiểu học ở Việt Nam)" được tác giả Nguyễn Thị Hương Lan thực hiện tại Học viện Khoa học Xã hội thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam, dưới sự hướng dẫn khoa học của GS. Nguyễn Văn Hiệp. Luận án thuộc chuyên ngành Ngôn ngữ học so sánh, đối chiếu, mã số 9 22 02 41, bảo vệ năm 2018 tại Hà Nội.

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Ngôn ngữ đánh giá (NNĐG) – phương tiện biểu đạt cảm xúc cá nhân, đánh giá hành vi của con người và định giá sự vật, hiện tượng – giữ vai trò trọng yếu trong thực tiễn giao tiếp xã hội. Dù thu hút sự chú ý của nhiều học giả quốc tế trong việc khảo sát chức năng xã hội của ngôn ngữ, hướng tiếp cận này vẫn còn mới mẻ tại Việt Nam.

Môn học ngôn ngữ ở bậc tiểu học thực hiện chức năng kép: vừa là công cụ học tập, vừa là đối tượng học tập. Nghiên cứu sách giáo khoa (SGK) ngôn ngữ ở cấp học này là một đòi hỏi cấp thiết nhưng chưa được quan tâm nghiên cứu đầy đủ tại Việt Nam. Trong bối cảnh triển khai Nghị quyết số 88/2014/QH13 của Quốc hội về việc "Đổi mới chương trình, sách giáo khoa giáo dục phổ thông" theo định hướng "Một chương trình, nhiều bộ sách", luận án tiến hành rà soát, đánh giá chương trình và SGK Tiếng Việt tiểu học hiện hành thông qua khảo sát ngôn ngữ đánh giá thể hiện chức năng liên nhân, đối chiếu với SGK tiếng Anh tiểu học của Singapore nhằm cung cấp luận cứ khoa học định hướng cho việc biên soạn và lựa chọn thể loại văn bản trong SGK mới.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu của luận án là xác định các điểm tương đồng và khác biệt về cấu trúc thể loại và đặc điểm của NNĐG thể hiện chức năng liên nhân (cụ thể là thái độ và thang độ) trong các bài đọc hiểu thuộc SGK tiếng Anh tiểu học ở Singapore và SGK tiếng Việt tiểu học ở Việt Nam, qua đó đáp ứng các mục tiêu giáo dục ngôn ngữ.

Để đạt được mục đích trên, luận án thực hiện năm nhiệm vụ cụ thể:

  1. Miêu tả và tổng hợp các thể loại văn bản xuất hiện trong cả hai bộ sách dựa trên lý thuyết thể loại trường phái Sydney nhằm xác định nguồn ngữ liệu nghiên cứu.
  2. Khảo sát, phân tích định lượng để xác định tỷ lệ các loại NNĐG thể hiện thái độ và thang độ trong hai bộ SGK.
  3. Khảo sát, phân tích định tính một số thể loại văn bản cốt lõi trong chương trình tiểu học nhằm làm rõ cấu trúc thể loại và đặc điểm NNĐG thực hiện chức năng liên nhân trong từng thể loại.
  4. Rút ra các điểm tương đồng và khác biệt nhằm phục vụ công tác giảng dạy, biên soạn SGK môn Tiếng Việt nói riêng và môn Ngữ văn nói chung tại Việt Nam.
  5. Khẳng định tính khả thi khi vận dụng lý thuyết Ngôn ngữ học chức năng hệ thống (NHCNHT) và Bộ công cụ đánh giá trong việc miêu tả, phân tích cấu trúc thể loại và NNĐG trong tiếng Việt, đồng thời chỉ ra các đặc trưng riêng biệt của tiếng Việt.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Ngôn ngữ đánh giá, cụ thể là các phương tiện ngôn ngữ thể hiện thái độ (attitude) và thang độ (graduation) trong các bài đọc hiểu của SGK tiếng Anh tiểu học ở Singapore và SGK tiếng Việt tiểu học ở Việt Nam.
  • Phạm vi ngữ liệu: Luận án tập trung khảo sát các bài đọc hiểu trong SGK lớp 3, lớp 4 và lớp 5. Cấp lớp 1 và lớp 2 không được chọn do nội dung chủ yếu tập trung vào vần, từ và câu, trong khi NNĐG cần được phân tích ở cấp độ văn bản và diễn ngôn. Luận án lựa chọn hai nhóm thể loại chính là "kể chuyện" và "lịch sử", gồm 14 văn bản tiếng Anh (ký hiệu từ E1 đến E13) và 18 văn bản tiếng Việt (ký hiệu từ V1 đến V13).
Nguồn SGK tiếng Anh (Singapore) Nguồn SGK tiếng Việt (Việt Nam)
My Pals are here! English 3A, 3B (Marshall Cavendish Education, 2003) Tiếng Việt 3, tập 1 (2006) và tập 2 (2004), NXB Giáo dục
My Pals are here! English 4A, 4B (Marshall Cavendish Education, 2003) Tiếng Việt 4, tập 1 (2006) và tập 2 (2007), NXB Giáo dục
My Pals are here! English 5A, 5B (Marshall Cavendish Education, 2004) Tiếng Việt 5, tập 1 (2007) và tập 2 (2007), NXB Giáo dục

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Các hướng nghiên cứu ngữ pháp chức năng hệ thống, thể loại và ngôn ngữ đánh giá

Lý thuyết NHCNHT bắt nguồn từ các công trình nền tảng của M.A.K. Halliday: The linguistic sciences & language teaching (1961), System and function in language (1976), Language as social semiotics: The interpretation of language and meaning (1978), Writing science (1993), và An introduction to functional grammar (1994). Lý thuyết thể loại trong nhà trường được phát triển bởi Derewianka (1990), Martin và Rothery (thập niên 1980, 1990), Christie cùng cộng sự (1990, 1992), Martin và Rose (2003, 2008), Christie (2005), Humphrey cùng cộng sự (2012). Tại Việt Nam, hướng tiếp cận chức năng được đánh dấu bằng công trình Tiếng Việt: sơ khảo ngữ pháp chức năng của Cao Xuân Hạo (1991).

Bộ công cụ đánh giá (Appraisal Framework) do Martin và các cộng sự (Martin, 2000; Martin & Rose, 2007; Martin & White, 2005) xây dựng đã được áp dụng trong nhiều lĩnh vực: khoa học (Veel, 1998; Hood, 2010), giáo dục (Macken-Horarik, 2003, 2011), nghề nghiệp (Lipovsky, 2009, 2013), chính trị (Miller, 2007), truyền thông (White, 1998; Thompson & White, 2008). Khung này cũng được dùng để phân tích thể loại tự sự (Page, 2003; Painter, 2003), SGK lịch sử (Coffin, 2009), văn bản học thuật (Derewianka, 2007; Hao & Humphrey, 2012; Hood, 2004), văn bản nói và viết của người bản ngữ và phi bản ngữ trên nhiều ngôn ngữ như tiếng Áo (Kaltenbacher, 2006), tiếng Trung (Kong, 2006; McDonald, 2008), tiếng Pháp (Caffarel & Rechniewski, 2008), tiếng Ý (Pounds, 2010), tiếng Thụy Điển (Folkeryd, 2006), tiếng Tây Ban Nha (Oteiza & Pinto, 2008), tiếng Nhật (Sano, 2011; Thomson, 2008), tiếng Thái (Knox & Patpong, 2008).

Các nghiên cứu trực tiếp về NNĐG trong SGK và diễn ngôn giáo dục gồm: Susan (2010) nghiên cứu phần Mở đầu bài báo khoa học và mở rộng phạm trù thang độ; Luận văn (2010) của học viên Trung Quốc phân tích thái độ hiển ngôn trong thể loại kể chuyện SGK THPT; Kawamitsu (2012) so sánh NNĐG trong SGK ngữ văn lớp 2-4 ở Nhật Bản và Hoa Kỳ; Canfield (2013) phân tích đặc điểm ngữ pháp từ vựng trong thể loại kể chuyện và thông tin thuộc SGK của Houghton Mifflin Harcourt.

Tình hình nghiên cứu ngôn ngữ đánh giá và sách giáo khoa tại Việt Nam

Tại Việt Nam, các nghiên cứu vận dụng Bộ công cụ đánh giá còn rất khiêm tốn:

  • Nguyễn Hồng Sao (2010): Phân tích cấu trúc thể loại và NNĐG trong tin quốc tế và phóng sự báo chí tiếng Việt và tiếng Anh.
  • Tran & Thomson (2008): Khảo sát nguồn lực tiếng Việt biểu đạt thái độ của nhà báo qua 01 bài báo về chiến tranh Iraq.
  • Trần Thị Hồng Vân (2011): Khám phá thái độ xã hội đối với chất lượng giáo dục sau đại học qua phỏng vấn trực tiếp ở ba góc độ thái độ cơ bản nhưng chưa đi sâu vào các nhánh giá trị tinh tế bên phải của mô hình.
  • Võ Đức Duy (2011): Nghiên cứu NNĐG thể hiện giọng điệu trong bản tin kinh doanh.
  • Ngô Thị Bích Thu (2013): Khảo sát tư liệu hội thoại của sinh viên du học Úc, chỉ ra các nguồn lực tiếng Việt đặc thù thể hiện thái độ và thang độ như tiểu từ tình thái, đại từ nhân xưng, từ láy và từ ghép.

Về nghiên cứu SGK tiểu học tại Việt Nam: Nguyễn Thị Minh Phương (2011) khảo sát từ Hán-Việt ở cấp độ từ; Lê Thị Ngọc Diệp (2013) nghiên cứu tổng thể các đơn vị ngôn ngữ từ âm vị, từ, ngữ cố định, câu đến văn bản trong SGK Tiếng Việt và SGK tiếng Anh Singapore nhưng chưa đi sâu vào bình diện liên nhân, thể loại và ngữ cảnh.

Khoảng trống nghiên cứu của luận án

Các nghiên cứu trước đây về SGK tiểu học chưa gắn kết phân tích mục đích giao tiếp với cấu trúc thể loại văn bản và ngữ cảnh (trường, không khí, cách thức). Các nghiên cứu quốc tế về SGK chưa hệ thống hóa đầy đủ các biện pháp hiện thực hóa thái độ hiển ngôn, thái độ hàm ngôn và chưa mở rộng khảo sát trục thang độ (graduation). Luận án của tác giả giải quyết khoảng trống này bằng việc kết hợp đồng thời phân tích định tính và định lượng về thái độ và thang độ trong hai bộ SGK tiểu học tiếng Anh và tiếng Việt.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết

+-------------------------------------------------------------------------+
|                  NGÔN NGỮ HỌC CHỨC NĂNG HỆ THỐNG (SFL)                  |
|             (M.A.K. Halliday; Martin & Rose; Eggins; Humphrey)          |
+-------------------------------------------------------------------------+
       |
       +---> Ngữ cảnh & Ngữ vực (Register): Trường (Field), Không khí (Tenor), Cách thức (Mode)
       |
       +---> Lý thuyết thể loại (Genre Theory - Trường phái Sydney)
       |
       +---> 3 Siêu chức năng ngữ nghĩa:
             * Nghĩa tư tưởng (Ideational): Kinh nghiệm (6 quá trình) & Logic
             * Nghĩa liên nhân (Interpersonal): Hệ thống Thức, Tình thái & Khung Đánh giá
             * Nghĩa văn bản (Textual): Cấu trúc liên kết, mạch lạc văn bản
  1. Lý thuyết Ngôn ngữ học chức năng hệ thống (NHCNHT): Ngôn ngữ được nhìn nhận là một nguồn tạo nghĩa xã hội – ký hiệu học (social semiotics). Nghĩa của văn bản gắn liền với ngữ cảnh tình huống thông qua ba biến tố ngữ vực: Trường (Field), Không khí (Tenor), và Cách thức (Mode). Hệ thống ngữ nghĩa bao gồm ba siêu chức năng: nghĩa tư tưởng (kinh nghiệm và logic, hiện thực hóa qua 6 loại quá trình: vật chất, tinh thần, phát ngôn, hành vi, tồn tại, quan hệ), nghĩa liên nhân và nghĩa văn bản.
  2. Lý thuyết thể loại trường phái Sydney: Thể loại (genre) là quá trình xã hội có mục đích, từng bước được cấu trúc hóa để thực hiện các chức năng trong một nền văn hóa nhất định.
  3. Bộ công cụ đánh giá (Appraisal Framework): Nằm ở tầng ngữ nghĩa diễn ngôn thuộc siêu chức năng liên nhân, gồm ba trục: Thái độ (Attitude), Thang độ (Graduation) và Giọng điệu (Engagement). Luận án tập trung vào hai trục Thái độ và Thang độ.
Trục hệ thống Tiểu hệ thống bậc 1 Tiểu hệ thống bậc 2 và tiêu chí phân loại
Thái độ (Attitude) Tác động (Affect) Mong muốn / không mong muốn
Hạnh phúc / không hạnh phúc
An toàn / không an toàn
Thỏa mãn / không thỏa mãn
Phán xét hành vi (Judgement) Thuộc tính cá nhân (Social Esteem): Thông thường (may mắn, danh tiếng, ứng xử), Khả năng (trí tuệ, vật chất, xã hội), Kiên trì.
Quy ước xã hội (Social Sanction): Chân thật, Phép tắc / đạo đức.
Đánh giá sự vật hiện tượng (Appreciation) Phản ứng (Reaction): Tác động chú ý, cảm thụ.
Tổng hợp (Composition): Tính cân bằng, độ phức tạp.
Giá trị (Valuation): Tầm quan trọng, tính lợi / hại.
Thang độ (Graduation) Lực (Force) Cường độ (Intensity): Tăng/giảm phẩm chất, quá trình, tình thái.
Lượng hóa (Quantification): Số lượng, khối lượng, phạm vi, độ gần, tần xuất.
Tiêu điểm (Focus) Làm sắc nét (sharpen) hoặc làm mờ (soften) ranh giới ngữ nghĩa.
  • Phương thức hiện thực hóa thái độ:
    • Hiển ngôn (inscribed): Mã hóa trực tiếp bằng từ vựng biểu thái (tính từ, trạng từ, động từ chỉ quá trình tinh thần, danh ngữ hóa).
    • Hàm ngôn (invoked): Thể hiện qua ba cấp độ: Gợi mở (provoke - dùng so sánh, ẩn dụ, nhân hóa), Ra hiệu (flag - dùng yếu tố thang độ, đại từ nhân xưng), Cung cấp (afford - lựa chọn có mục đích các sự kiện kinh nghiệm).
  • Phương thức hiện thực hóa thang độ (Cường độ): Từ đơn thuần, pha trộn ngữ nghĩa (semantic infusion), lặp lại, tình thái từ, câu cảm thán và câu mệnh lệnh.

Phương pháp nghiên cứu

  • Phương pháp phân tích định lượng: Sử dụng công cụ phân tích diễn ngôn để thống kê tần số và tỷ lệ phần trăm các loại thái độ, thang độ và các phương thức hiện thực hóa trong ngữ liệu.
  • Phương pháp phân tích định tính: Phân tích cấu trúc phân đoạn thể loại và giải mã đặc điểm vận hành của NNĐG trong các bài đọc hiểu thuộc từng thể loại cụ thể.
  • Phương pháp phân tích ngữ cảnh: Phân tích nghĩa biểu thái của từ ngữ và phát ngôn trong mối liên hệ chặt chẽ với ngữ cảnh tình huống và ngữ cảnh văn hóa.
  • Thủ pháp nghiên cứu: Cải biến, mô hình hóa, lập bảng đối chiếu và thống kê ngữ liệu.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý luận

Chương 1 hệ thống hóa các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước về ngữ pháp chức năng hệ thống, lý thuyết thể loại và bộ công cụ đánh giá; tổng thuật các nghiên cứu về SGK tiếng Việt tiểu học. Tác giả thiết lập nền tảng lý luận của đề tài gồm ba trụ cột: lý thuyết NHCNHT của Halliday, lý thuyết thể loại trường phái Sydney (Martin & Rose, Eggins, Humphrey) và Bộ công cụ đánh giá của Martin & White (2005) kết hợp các phát triển mở rộng của Hood (2010) và Thu (2013). Chương này làm rõ ranh giới ngữ pháp và ngữ nghĩa giữa ba phạm trù tác động, phán xét hành vi và đánh giá sự vật hiện tượng, đồng thời chi tiết hóa các biện pháp hiện thực hóa thái độ hiển ngôn, hàm ngôn và hệ thống thang độ (lực và tiêu điểm).

Chương 2: Ngôn ngữ đánh giá trong sách tiếng Anh tiểu học ở Singapore và sách tiếng Việt tiểu học ở Việt Nam – Phân tích định lượng

Chương 2 thực hiện thống kê, phân tích định lượng và so sánh các giá trị NNĐG trong ngữ liệu 14 văn bản tiếng Anh và 18 văn bản tiếng Việt. Các nội dung định lượng cốt lõi bao gồm:

Nhóm phân tích định lượng Các hạng mục và chỉ số được khảo sát, đối chiếu
Hệ thống Thái độ hiển ngôn - Tỷ lệ phân bố giữa ba giá trị: Tác động, Phán xét hành vi, Đánh giá SVHT.
- Tỷ lệ các nhóm trong giá trị Tác động (mong muốn, hạnh phúc, an toàn, thỏa mãn); người thể hiện mong muốn và phương thức hiện thực hóa từ vựng.
- Tỷ lệ các nhóm trong Phán xét hành vi (thuộc tính cá nhân vs. quy ước xã hội; khả năng trí tuệ/vật chất/xã hội) và phân loại đối tượng nhân vật được phán xét.
- Tỷ lệ các nhóm trong Đánh giá SVHT (phản ứng, tổng hợp, giá trị).
Hệ thống Thái độ hàm ngôn - Tỷ lệ các biện pháp hiện thực hóa hàm ngôn: Gợi mở (provoke), Ra hiệu (flag), Cung cấp (afford).
- Khảo sát các mức độ nghĩa đánh giá và vai trò của đại từ nhân xưng, ngôn ngữ tượng hình trong tiếng Việt.
Hệ thống Thang độ - Tỷ lệ giữa hai loại thang độ: Lực (Force) và Tiêu điểm (Focus).
- Tỷ lệ các biện pháp thể hiện thang độ hiển ngôn.
- Tỷ lệ các yếu tố thể hiện Cường độ (từ đơn thuần, pha trộn ngữ nghĩa, lặp lại, tình thái từ...) và Lượng hóa (số lượng, phạm vi, độ gần, tần xuất).
Cấu trúc liên kết đánh giá - Phân tích chuỗi đánh giá: Liên kết sóng đôi tác động và đích, liên kết sóng đôi tích lũy khả năng, liên kết sóng đôi phản ứng/phán xét gián tiếp.
- Phân tích mô hình liên kết ba, cụm liên kết ba và hội chứng (syndrome) tác động / phán xét hành vi trong văn bản hai ngôn ngữ.

Chương 3: Ngôn ngữ đánh giá trong sách tiếng Anh tiểu học ở Singapore và sách tiếng Việt tiểu học ở Việt Nam – Phân tích định tính

Chương 3 bắt đầu bằng việc so sánh mục tiêu chương trình tiếng Anh tiểu học ở Singapore và chương trình tiếng Việt tiểu học ở Việt Nam. Tiếp đó, tác giả đi sâu phân tích định tính cấu trúc thể loại và đặc điểm vận hành của NNĐG thể hiện chức năng liên nhân qua 5 thể loại văn bản cốt lõi:

  1. Thể loại "Chuyện ngụ ngôn":
    • Phân tích cấu trúc phân đoạn và mạng lưới NNĐG trong bài đọc The Fox and the Crow (E1) ở sách tiếng Anh và bài đọc Cuộc chạy đua trong rừng (V1) ở sách tiếng Việt.
    • Khảo sát cách thức tác giả sử dụng phán xét hành vi và tác động để xây dựng bài học đạo đức.
  2. Thể loại "Tường thuật":
    • Khảo sát bài đọc Adventures in space (E4) và bài đọc Trên con tàu vũ trụ (V4).
    • Phân tích chuỗi liên kết các sự kiện kết hợp với sự tăng/giảm thang độ cường độ để tạo dựng trải nghiệm phiêu lưu và cung cấp thông tin.
  3. Thể loại "Tự sự - Chuyện thần thoại":
    • Khảo sát bài đọc King Midas (E13) và văn bản tương ứng Điều ước của vua Mi-đát (V13).
    • Phân tích các phân đoạn mở đầu, biến cố, giải quyết biến cố và sự chuyển hóa trạng thái cảm xúc (tác động) cùng sự phán xét hành vi tham lam/hối hận của nhân vật vua Mi-đát.
  4. Thể loại "Tự sự - Sự tích":
    • Phân tích cấu trúc thể loại và NNĐG qua từng phân đoạn của bài đọc The Red Hill (E3 - phân đoạn 1 và 2) và bài đọc Sự tích chú Cuội cung trăng (V3 - phân đoạn 1 và 2).
    • Khảo sát sự đan xen giữa đánh giá sự vật hiện tượng và phán xét phẩm chất nhân vật qua các tình tiết ly kỳ.
  5. Thể loại "Tin tức":
    • Khảo sát cách thức tổ chức bài đọc tin tức trong SGK tiếng Anh và bài đọc tin tức trong SGK tiếng Việt.
    • Phân tích cơ chế lan tỏa đánh giá tích cực (ví dụ hình tượng chiến sĩ cứu hỏa) thông qua các chuỗi quan hệ từ vựng trái nghĩa và lựa chọn cú mang nghĩa liên nhân.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp mới về mặt lý luận

  1. Luận án làm sáng tỏ và chứng minh tính khả thi của việc ứng dụng lý thuyết Ngôn ngữ học chức năng hệ thống (NHCNHT), lý thuyết thể loại trường phái Sydney và Bộ công cụ đánh giá (Appraisal Framework) vào việc miêu tả, giải thích các hiện tượng ngôn ngữ trong tiếng Việt ở tầng ngữ nghĩa diễn ngôn.
  2. Bổ sung các kết quả nghiên cứu đối chiếu Anh - Việt trên bình diện chức năng liên nhân, cụ thể hóa các mô hình phân tích thái độ (tác động, phán xét hành vi, đánh giá sự vật hiện tượng) và thang độ (cường độ, lượng hóa) trong văn bản SGK.
  3. Nhận diện các nét đặc thù mang tính loại hình và văn hóa của tiếng Việt trong việc hiện thực hóa NNĐG, chẳng hạn:
    • Sử dụng hệ thống từ láy, từ ghép để pha trộn ngữ nghĩa biểu thái;
    • Vận dụng tiểu từ tình thái và hệ thống đại từ nhân xưng xưng hô giàu sắc thái đánh giá để biểu đạt thái độ hàm ngôn (ở cấp độ ra hiệu);
    • Vai trò của tính từ làm thành tố phụ bổ nghĩa cho động từ biểu đạt cách thức/cường độ trong tiếng Việt (do tiếng Việt không có trạng từ với tư cách từ loại độc lập như tiếng Anh).

Đóng góp mới về mặt thực tiễn và kiến nghị

  1. Đối với công tác giảng dạy: Cung cấp cơ sở khoa học cho giáo viên tiểu học trong việc hướng dẫn học sinh tiếp nhận bài đọc hiểu, nhận diện mục đích thể loại và giải mã các tầng nghĩa biểu thái hiển ngôn và hàm ngôn trong văn bản.
  2. Đối với công tác phát triển chương trình và biên soạn SGK:
    • Cung cấp tiêu chí cho các nhà hoạch định chương trình và tác giả biên soạn SGK Tiếng Việt/Ngữ văn trong việc lựa chọn, sắp xếp các thể loại văn bản phù hợp với lứa tuổi và mục tiêu phát triển năng lực ngôn ngữ của học sinh.
    • Định hướng việc chú trọng đưa vào SGK các nguồn tài nguyên ngôn ngữ đánh giá đa dạng, giúp học sinh tiểu học phát triển kỹ năng giao tiếp liên nhân, năng lực bày tỏ cảm xúc và đánh giá chuẩn mực hành vi xã hội theo tinh thần đổi mới giáo dục.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của đề tài

  • Phạm vi lớp học: Do đặc thù chương trình lớp 1 và lớp 2 tập trung vào kỹ năng luyện vần, từ và câu đơn lẻ, luận án giới hạn việc khảo sát ngữ liệu trong phạm vi SGK lớp 3, lớp 4 và lớp 5.
  • Phạm vi thể loại: Luận án tập trung khảo sát hai nhóm thể loại chính là "kể chuyện" và "lịch sử" với quy mô 14 bài đọc tiếng Anh (E1-E13) và 18 bài đọc tiếng Việt (V1-V13); chưa mở rộng khảo sát chuyên sâu đối với thể loại văn bản thông tin do tiềm năng xuất hiện NNĐG trong thể loại này thấp hơn.
  • Phạm vi khung lý thuyết: Luận án giới hạn khảo sát ở hai góc độ Thái độ (Attitude) và Thang độ (Graduation); trục Giọng điệu (Engagement) không được đi sâu phân tích do phạm trù này có thiên hướng phù hợp với thi pháp học hoặc tự sự học hơn là mục tiêu miêu tả ngôn ngữ học chức năng của đề tài.

Hướng nghiên cứu tiếp

  • Mở rộng phân tích toàn diện các thể loại văn bản khác (thông tin, văn bản giải thích, lập luận) trong SGK các cấp học cao hơn (THCS, THPT).
  • Vận dụng đầy đủ cả ba trục của Bộ công cụ đánh giá (bao gồm cả trục Giọng điệu) để khảo sát các loại hình diễn ngôn văn học và diễn ngôn báo chí trong nhà trường.
  • Khảo sát, đánh giá sự phát triển năng lực sử dụng NNĐG trong các bài viết và lời nói thực tế của học sinh tiểu học.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo chuyên khảo cho các đối tượng:

  • Nghiên cứu sinh, học viên cao học và giảng viên chuyên ngành Ngôn ngữ học, Ngôn ngữ học so sánh đối chiếu: Tham khảo quy trình vận dụng lý thuyết NHCNHT và Bộ công cụ đánh giá vào việc phân tích định tính, định lượng trên ngữ liệu văn bản viết đối chiếu Anh - Việt.
  • Nhà xây dựng chương trình giáo dục và tác giả biên soạn SGK môn Tiếng Việt / Ngữ văn: Tham khảo khung thể loại trường phái Sydney, các mô hình cấu trúc phân đoạn văn bản và tiêu chí phân bổ nguồn lực ngôn ngữ liên nhân trong việc tuyển chọn ngữ liệu SGK.
  • Giáo viên tiểu học: Sử dụng các kết quả phân tích định tính 5 thể loại cốt lõi trong Chương 3 để nâng cao kỹ thuật phân tích văn bản tập đọc, hỗ trợ học sinh nhận biết thái độ, phán xét và cảm xúc được mã hóa trong bài đọc.

Câu hỏi thường gặp

1. Vì sao luận án chỉ chọn ngữ liệu SGK lớp 3, 4, 5 mà không khảo sát SGK lớp 1 và 2?

Theo tác giả trình bày, nội dung SGK tiếng Anh và tiếng Việt ở lớp 1 và lớp 2 chủ yếu tập trung vào phần phát âm, chữ cái, vần, luyện từ và câu đơn giản. Ngôn ngữ đánh giá vận hành ở tầng ngữ nghĩa diễn ngôn và cần được phân tích ở cấp độ văn bản hoàn chỉnh, do đó ngữ liệu SGK lớp 3, 4 và 5 được lựa chọn để đảm bảo tính xác thực và đầy đủ của cấu trúc thể loại.

2. Bộ công cụ đánh giá (Appraisal Framework) trong luận án được giới hạn khảo sát ở những góc độ nào và vì sao?

Bộ công cụ đánh giá gồm ba trục: Thái độ (Attitude), Thang độ (Graduation) và Giọng điệu (Engagement). Luận án giới hạn nghiên cứu ở hai trục Thái độ và Thang độ. Trục Giọng điệu không được đưa vào khảo sát chi tiết vì tác giả nhận định phạm trù này gắn liền với thi pháp học (poetics) hoặc tự sự học (narratology) hơn là mục tiêu nghiên cứu ngôn ngữ học thuần túy của đề tài.

3. Hai nhóm thể loại văn bản nào trong sách giáo khoa được tác giả lựa chọn làm ngữ liệu nghiên cứu chính?

Tác giả lựa chọn hai nhóm thể loại là "Kể chuyện" và "Lịch sử". Thể loại kể chuyện xuất hiện phổ biến ở tất cả các khối lớp trong cả hai bộ sách. Thể loại thông tin tuy phổ biến nhưng mang mục đích cung cấp kiến thức khách quan, ít tiềm năng sử dụng NNĐG. Nhóm thể loại lịch sử xuất hiện xuyên suốt trong SGK tiếng Việt và có mặt ở SGK tiếng Anh lớp 5, cung cấp nguồn ngữ liệu phù hợp cho việc phân tích thái độ và thang độ.

4. Luận án đã mở rộng chi tiết các tiểu hệ thống của "Phán xét hành vi" (Judgement) như thế nào so với khung lý thuyết gốc?

Kế thừa đề xuất của Ngô Thị Bích Thu (2013), tác giả chia nhỏ nhánh "Khả năng" (Capacity) thành ba yếu tố: khả năng trí tuệ (năng lực nhận thức, học vấn), khả năng vật chất (thể chất, kỹ năng công nghệ) và khả năng xã hội (năng lực cá nhân và liên nhân). Nhánh "Thông thường" (Normality) được chia thành: may mắn (fortune), danh tiếng (reputation) và ứng xử (behavior) để phù hợp với đặc điểm nhận thức của học sinh tiểu học.

5. Thái độ hàm ngôn được hiện thực hóa qua các cấp độ nào trong khung phân tích của luận án?

Thái độ hàm ngôn được phân loại thành ba cấp độ:

  • Gợi mở (provoke): Thực hiện qua các thủ pháp nghệ thuật như so sánh, ẩn dụ từ vựng, nhân hóa, thành ngữ, tục ngữ.
  • Ra hiệu (flag): Thực hiện qua các yếu tố thang độ hoặc các đại từ nhân xưng biểu đạt sắc thái biểu cảm trong ngữ cảnh cụ thể.
  • Cung cấp (afford): Thực hiện qua việc lựa chọn có chủ ý các sự kiện, hành động thuộc nghĩa biểu đạt/tư tưởng để người đọc tự suy ra đánh giá.

Kết luận

Luận án của Nguyễn Thị Hương Lan là công trình nghiên cứu đối chiếu về ngôn ngữ đánh giá trong SGK tiểu học giữa tiếng Anh (Singapore) và tiếng Việt (Việt Nam) dựa trên lý thuyết Ngôn ngữ học chức năng hệ thống, lý thuyết thể loại trường phái Sydney và Bộ công cụ đánh giá. Bằng việc kết hợp phương pháp phân tích định lượng về tần suất, tỷ lệ các loại thái độ, thang độ và phân tích định tính trên 5 thể loại văn bản cốt lõi, công trình đã làm sáng tỏ các điểm tương đồng, khác biệt về mặt liên nhân và chỉ ra các phương thức biểu đạt đặc thù của tiếng Việt. Kết quả nghiên cứu cung cấp cơ sở lý luận và thực tiễn phục vụ việc giảng dạy môn Tiếng Việt cũng như định hướng công tác biên soạn, lựa chọn ngữ liệu sách giáo khoa phổ thông tại Việt Nam.