Mở đầu” (Introduction) của các bài báo khoa học và của các luận án. Kết quả nghiên cứu của luận án góp phần nâng cao chất lượng giảng dạy năng lực ngôn ngữ trong diễn ngôn khoa học. Nghiên cứu này cũng đã tìm ra và mở rộng bộ công cụ đánh giá ở góc độ “thang độ” và cho rằng trong diễn ngôn khoa học “thang độ” đóng vai trò quan trọng trong việc làm tăng cường ngữ nghĩa của từ ngữ không mang tính biểu thái. Trong luận văn (2010) với đề tài “Phân tích thái độ trong thể loại kể chuyện trong sách giáo khoa tiếng Anh bậc trung học phổ thông” (Analyses of attitudes in story genres from English textbooks for senior high schools), một sinh viên Trung quốc đã tìm hiểu và phân tích NNĐG thể hiện “thái độ” hiển ngôn trong bài đọc ở ba tiểu loại kể chuyện, đó là tường thuật, giãi bày cảm xúc và tự sự.
Kết quả của nghiên cứu nhằm giúp học sinh hiểu được ý nghĩa tầng sâu của văn bản, mục đích của tác giả và mô-típ của từng thể loại văn bản. Nghiên cứu của chúng tôi về sách giáo khoa đã có tham khảo nhất định kết quả của luận văn này. Tuy nhiên luận văn này chưa hệ thống hóa được các biện pháp hiện thực hóa “thái độ” (attitude) hiển ngôn, chưa tìm hiểu NNĐG thể hiện “thái độ” hàm ngôn. Hơn nữa luận văn này chưa hề đề cập tới góc độ thứ hai của bộ công cụ đánh giá, đó là “thang độ” (graduation) Luận văn Thạc sỹ của Kawamitsu (2012) tìm ra sự khác biệt về NNĐG trong SGK ngữ văn từ lớp 2 đến lớp 4 ở Nhật và ở Mỹ.
Nghiên cứu này có nhiều điểm 11 giống với nghiên cứu của chúng tôi đó là nghiên cứu sách giáo khoa bậc tiểu học và so sánh hai bộ sách ở hai ngôn ngữ khác nhau đó là tiếng Anh (ở Mỹ) và tiếng Nhật. Chúng tôi đã tham khảo luận văn này để có hiểu biết thêm về phương pháp phân tích văn bản phục vụ cho luận án của chúng tôi. Luận văn này phát triển hơn luận văn đề cập ở trên là đã quan tâm đến NNĐG thể hiện “thái độ” hàm ngôn. Tuy nhiên, luận văn này cũng chưa hệ thống hóa được các biện pháp hiện thực hóa “thái độ” hiển ngôn và cũng chưa mở rộng đến góc độ thứ hai của bộ khung đánh giá, đó là NNĐG thể hiện “thang độ”.
Luận văn thạc sỹ của Canfield (2013) đi theo hướng tìm ra sự khác biệt về đặc điểm ngữ pháp từ vựng trong hai thể loại văn bản có mục đích xã hội khác nhau rõ nét, đó là thể loại “kể chuyện” và “thông tin”. Đối tượng nghiên cứu của luận văn này khá gần với đối tượng nghiên cứu của chúng tôi, đó là sách Reading/Language Arts từ lớp 2 đến lớp 4 của nhà xuất bản Houghton Mifflin Harcourt publishing. Nghiên cứu này có điểm phát triển hơn các nghiên cứu trước là đi sâu hơn về các giá trị mở rộng ở phía tay phải của bộ công cụ đánh giá. Tuy nhiên, cũng giống hai nghiên cứu nêu trên, luận văn này cũng chưa hệ thống hóa được các biện pháp hiện thực hóa “thái độ” hiển ngôn và cũng chưa mở rộng đến góc độ thứ hai của bộ khung đánh giá, đó là NNĐG thể hiện “thang độ”.
Các công trình nghiên cứu Ngôn ngữ đánh giá trong tiếng Việt Cho đến nay, nghiên cứu NNĐG trong tiếng Việt vẫn còn rất hạn chế. Theo khảo sát của chúng tôi có năm nghiên cứu sau đây áp dụng bộ công cụ đánh giá vào nghiên cứu của mình (Nguyen, 2010; Tran, 2011; Tran & Thomson, 2008; Vo, 2011, Thu, 2013). Nguyễn Hồng Sao (2010) đã có công trình nghiên cứu lấy cấu trúc thể loại và ngôn ngữ trong tin quốc tế và phóng sự sử dụng bộ công cụ đánh giá làm công cụ đo lường. Tuy nhiên, đây mới chỉ là bước đầu bộ công cụ đánh giá được dùng làm cơ sở phân tích ngôn ngữ báo chí qua bình diện liên nhân ở hai thể loại cơ bản của báo tiếng Việt và tiếng Anh mà thôi.
Luận án đã liệt kê các ví dụ NNĐG được sử dụng trong văn bản và quy nó vào phạm trù nhằm đưa ra những nhận xét về mặt nội dung, ý nghĩa của văn bản. Hạn chế của công trình này là chưa hệ thống và nêu lên được các 12 biện pháp mà NNĐG được sử dụng trong hai thể loại báo nêu trên trong tiếng Việt và tiếng Anh. Trong nghiên cứu của Tran & Thomson, việc phân tích NNĐG trong văn bản viết tập trung trả lời câu hỏi nhà báo Việt nam sử dụng nguồn lực ngôn ngữ tiếng Việt như thế nào để bày tỏ quan điểm, thái độ đánh giá chính phủ Mỹ trong sự kiện chiến tranh Iraq. Tác giả chỉ sử dụng duy nhất 1 bài báo, do vậy chưa thể khái quát đặc điểm NNĐG trong tiếng Việt đối với thể loại văn bản viết.
Luận án của Trần Thị Hồng Vân (2011) sử dụng bộ công cụ đánh giá để khám phá thái độ của xã hội với vấn đề chất lượng giáo dục sau Đại học ở Việt nam. Số liệu được thu thập từ các cuộc phỏng vấn trực tiếp. Nghiên cứu đã phát hiện một số vấn đề về chất lượng liên quan đến bậc đào tạo này. Vấn đề được phản ánh trong các đánh giá của các bên liên quan: người có ít quyền lực nhất, đó là sinh viên và người có quyền lực cao nhất là các ông chủ doanh nghiệp.
Nghiên cứu của Trần Thị Hồng Vân thể hiện tiềm năng áp dụng thành công bộ công cụ đánh giá bằng tiếng Anh để khai thác và tìm hiểu NNĐG trong tiếng Việt. Tuy nhiên nghiên cứu này chỉ tìm hiểu thái độ ở ba góc độ (đó là: tác động, phán xét về hành vi và đánh giá các sự vật, hiện tượng) mà không đi sâu vào phân tích các ý nghĩa tinh tế hơn phát triển về phía tay phải của bộ công cụ đánh giá (chẳng hạn như trong cảm xúc có hạnh phúc hay bất hạnh (Un/happiness). Đây là một khoảng trống cho các nghiên cứu sau này áp dụng bộ công cụ đánh giá một cách chi tiết. Luận án của Võ Đức Duy (2011) nghiên cứu việc sử dụng nguồn lực NNĐG thể hiện giọng điệu của các nhà báo trong bản tin cứng kinh doanh.
Nghiên cứu của tác giả này là nguồn tham khảo rất hữu ích cho luận án của chúng tôi khi cả hai nghiên cứu đều tìm hiểu ngôn ngữ đánh giá trong văn bản viết. Công trình của Ngô Thị Bích Thu (2013) phân tích trên tư liệu hội thoại giữa một nhóm sinh viên về việc trải nghiệm cuộc sống và học tập ở Úc và quan điểm của họ với các vị trí công việc ở Việt nam, tập trung vào hai phạm trù thái độ và thang độ. Số liệu từ luận án cho thấy khoảng cách khá lớn về khả năng sử dụng NNĐG bằng tiếng Anh so với tiếng Việt trong giao tiếp của các sinh viên tham gia nghiên 13 cứu. Nghiên cứu cũng đã chỉ ra nguồn lực ngôn ngữ thái độ và thang độ đặc thù trong tiếngViệt, bao gồm tiểu từ tình thái, đại từ nhân xưng, từ láy và từ ghép.
Các công trình nghiên cứu sách giáo khoa tiếng Việt bậc tiểu học Trong phần này chúng tôi trình bày hai nghiên cứu mà chúng tôi có tham khảo cho luận án của mình, đồng thời tóm lược các ý kiến về đặc điểm ngôn ngữ sách giáo khoa tiếng Việt bậc tiểu học. Trong luận văn thạc sỹ ngôn ngữ học “Đặc điểm từ Hán Việt trong bộ sách giáo khoa ở bậc tiểu học” (2011), tác giả Nguyễn Thị Minh Phương đã xây dựng được bảng từ Hán Việt trong chương trình tiếng Việt ở bậc tiểu học, đồng thời đề cập đến cách giải thích và giảng dạy từ Hán việt nhằm góp phần vào việc giảng dạy từ Hán Việt phù hợp, hiệu quả và biên soạn, chỉnh lí SGK. Như vậy, luận văn này mới chỉ nghiên cứu ngôn ngữ ở cấp độ từ mà thôi. Luận án tiến sỹ ngữ văn của Lê Thị Ngọc Diệp “Các đơn vị ngôn ngữ trong sách giáo khoa môn tiếng Việt bậc tiểu học ở Việt nam (So sánh với sách giáo khoa môn tiếng Anh cùng bậc ở Singapore)” (2013) có lẽ là một công trình nghiên cứu một cách có hệ thống và toàn diện vấn đề ngôn ngữ SGK tiếng Việt bậc tiểu học.
Luận án đi vào hướng nghiên cứu các đơn vị ngôn ngữ: âm vị, từ, ngữ cố định, câu và văn bản, được sử dụng trong bộ SGK môn tiếng Việt bậc tiểu học ở Việt Nam và SGK môn tiếng Anh cùng bậc ở Singapore. Do quy mô của nghiên cứu là quá rộng, luận án này không thể đi sâu nghiên cứu một bình diện ngôn ngữ cụ thể nào. Trong phần “Lịch sử vấn đề” của luận án, Lê Thị Ngọc Diệp đã tóm tắt những bài viết và các công trình nghiên cứu liên quan đến chương trình và SGK bậc tiểu học nói chung và SGK tiếng Việt tiểu học nói riêng. Hầu hết các nghiên cứu này đều chưa quan tâm đến mục đích giao tiếp với thể loại và cấu trúc văn bản, văn bản và ngữ cảnh (trường diễn ngôn, quan hệ liên nhân và kênh giao tiếp).
Đây là một khoảng trống sẽ được triển khai trong luận án của chúng tôi. Cơ sở lý luận Nền tảng lý luận của luận án này dựa trên cơ sở lý thuyết ngôn ngữ học chức năng hệ thống (NHCNHT), bộ công cụ Đánh giá (Appraisal Framework) và lý thuyết về thể loại theo trường phái Sydney. Lý thuyết ngôn ngữ học chức năng hệ thống 14 1. Quan niệm về ngôn ngữ Ngôn ngữ học chức năng hệ thống (NHCNHT) là lý thuyết về ngôn ngữ vượt ra khỏi sự miêu tả về ngữ pháp đơn thuần.
Theo trường phái NHCNHT, ngôn ngữ là một nguồn tạo nghĩa hơn là những bộ công thức như cách hiểu của ngữ pháp truyền thống và ngữ pháp tạo sinh của Chomsky. Halliday (2004) cho rằng: “ngôn ngữ được giải thích như là một hệ thống các ý nghĩa, được kèm theo bởi các hình thức mà qua đó các ý nghĩa được hiện thực hoá” (tr. Lý thuyết chức năng hệ thống giải thích ngôn ngữ như là một mạng lưới của những sự lựa chọn được móc nối với nhau: hoặc sự lựa chọn này, hoặc lựa chọn kia hoặc sự lựa chọn khác. Đối tượng lựa chọn được hình thức hoá bằng các hệ thống.
Halliday tập trung vào các chức năng tạo cho ngôn ngữ một hình thức như hiện có, thường được gọi là “ngôn ngữ theo hướng nhìn xã hội – kí hiệu học”. Ông cho rằng, những đòi hỏi của xã hội đã giúp ngôn ngữ hình thành nên cấu trúc của nó.