mở đầu và chuỗi kết thúc. Khi hội thoại, các nhân vật tham gia hội thoại luôn đổi vai cho nhau, luân phiên lượt lời cho nhau theo quy tắc “quay vòng giao tiếp”. Cũng theo hai tác giả này, đơn vị cấu trúc điển hình nhất của hội thoại là cặp thoại. Trong cặp thoại có thể xảy ra một vài trường hợp khác như chuỗi chêm xen, chuỗi bên cạnh (cặp kế cận)… Như vậy, các nhà ngôn ngữ học Mĩ khi nghiên cứu cấu trúc hội thoại đã phát hiện ra cặp kế cận và tổ chức được ưa chuộng.
Nghiên cứu ngôn ngữ hội thoại phát triển mạnh mẽ trong ngôn ngữ học Pháp – Thụy Sĩ từ những năm 1980. Đại diện tiêu biểu là Eddy Roulet và Catherine Kerbrat Orecchioni. Từ năm 1980 đến 1986, Orecchioni đã góp thêm tiếng nói cho lí thuyết hội thoại với nhiều thảo luận về nhiều vấn đề của lí thuyết hội thoại như cấu trúc hội thoại, chỗ ngừng trong hội thoại, các vận động trao đáp, các quy tắc hội thoại…Nhìn chung, các nhà nghiên cứu hội thoại Pháp – Thụy Sĩ đã tìm được những tiếng nói chung trong các vấn đề về cấu trúc hội thoại cũng như về phương hướng nghiên cứu hội thoại. Có thể nói, các nhà nghiên cứu hội thoại Mĩ và sau này các nhà nghiên cứu hội thoại thuộc trường phái phân tích diễn ngôn Anh (đại diện tiêu biểu là S.Coulthard) và phân tích hội thoại Pháp – Thụy Sĩ đã phát triển lí thuyết hội thoại và xây dựng lên một cấu trúc hội thoại hoàn thiện với các yếu tố: cuộc thoại – đoạn thoại – cặp thoại – bước thoại (tham thoại) – hành vi ngôn ngữ.
Như vậy, ngay từ khi ngữ dụng học mới ra đời, các vấn đề về hội thoại đã được các nhà nghiên cứu quan tâm và nó nhanh chóng trở thành một lĩnh vực đầy tiềm năng.duong) TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.duong) Ở Việt Nam, ngữ dụng học nói chung và hội thoại nói riêng xuất hiện khá muộn so với các chuyên ngành khác của ngôn ngữ học. Tuy nhiên, các nhà nghiên cứu ngữ dụng học hàng đầu Việt Nam đã rất nỗ lực và đã đưa các lí thuyết mới mẻ ấy đến với những người quan tâm tới lĩnh vực đầy hấp dẫn này. Năm 1998, tác giả Nguyễn Đức Dân, trong cuốn Ngữ dụng học, tập 1, đã dành toàn bộ chương III để giới thiệu các vấn đề về hội thoại: phương pháp nghiên cứu hội thoại, đặc điểm khái quát của một cuộc thoại, cấu trúc của một cuộc thoại, cấu trúc hội thoại (lượt lời và cặp thoại), sự liên kết các phát ngôn- các hành vi hội thoại. Tác giả Nguyễn Văn Khang đã tiếp cận hội thoại từ góc nhìn của ngôn ngữ học xã hội.
Trong cuốn Ngôn ngữ học xã hội- những vấn đề cơ bản (1999), phần cuối cùng của chương Giao tiếp ngôn ngữ, tác giả đã đề cập đến ba vấn đề của hội thoại như: cấu trúc hội thoại, chiến lược hội thoại và phong cách hội thoại. Tác giả đã đề cập đến các vấn đề của hội thoại trong mối liên quan chặt chẽ với ngữ cảnh, với đời sống xã hội, với các yếu tố như văn hóa, phong tục tập quán, chuẩn hành vi, quan niệm giá trị…Cũng xuất bản năm 1999, tác phẩm Ngữ nghĩa lời hội thoại của Đỗ Thị Kim Liên đã có đóng góp cho lí thuyết hội thoại với các nội dung về ý nghĩa tường minh, nghĩa hàm ẩn và nghĩa tình thái trong hội thoại. Đến năm 2005, Đỗ Thị Kim Liên tiếp tục xuất bản tác phẩm Giáo trình Ngữ dụng học. Cuốn sách đề cập đến nhiều vấn đề có tính chất cập nhật của lí thuyết hội thoại như sự quy chiếu và chỉ xuất, lập luận hội thoại, quy tắc hội thoại… Với công trình Dụng học Việt ngữ (2000), Nguyễn Thiện Giáp đã góp phần làm cho lí thuyết hội thoại thêm phong phú.
Ông đã trình bày, phân tích và lí giải về một số vấn đề của hội thoại như: cấu trúc hội thoại, lịch sự hội thoại, nguyên tắc hội thoại, hàm ý hội thoại. Cụ thể ông đã trình bày về một số vấn đề: các yếu tố cấu trúc của hội thoại, cặp thoại, câu đáp được ưu tiên, sự trao đáp và thương lượng 9 (LUAN.duong) TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.duong) hội thoại, những lời ướm trước và những yếu tố phi lời trong hội thoại. Năm 2001, Đỗ Hữu Châu cho ra đời cuốn Đại cương ngôn ngữ học- tập 2- Ngữ dụng học. Đây có thể coi là một công trình chuyên sâu về ngữ dụng học nói chung và hội thoại nói riêng.
Trong công trình này, tác giả đã dành trọn một chương (157 trang) để bàn về các vấn đề của lí thuyết hội thoại: vận động hội thoại, quy tắc hội thoại, thương lượng hội thoại, cấu trúc hội thoại, ngữ pháp hội thoại. Có thể nói, trong tác phẩm Đại cương ngôn ngữ học- tập 2- Ngữ dụng học của Đỗ Hữu Châu, tất cả các vấn đề lớn của hội thoại đã được trình bày khá đầy đủ và chi tiết. Năm 2010, tác giả Đặng Thị Hảo Tâm cũng đã có đóng góp cho lí thuyết hội thoại với vấn đề thương lượng hội thoại, vận động hội thoại. Tác giả đã trình bày khái quát về thương lượng nội dung hội thoại và vai trò của thương lượng hội thoại… Tác giả Đỗ Việt Hùng, Đỗ Hữu Châu (2011) trong công trình Ngữ dụng học cũng có những đóng góp thêm cho lí thuyết hội thoại với các vận động hội thoại, các quy tắc hội thoại, thương lượng hội thoại, cấu trúc hội thoại.
Một số tác giả khác như Hoàng Phê, Nguyễn Văn Hiệp, Lê Đông đã công bố những công trình có liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp đến vấn đề hội thoại. Tiếp thu các lí thuyết hội thoại của các nhà ngôn ngữ học thế giới cũng như các nhà ngôn ngữ học hàng đầu Việt Nam, rất nhiều công trình nghiên cứu hội thoại đã ra đời. Các công trình nghiên cứu này có những hướng đi khác nhau, tập trung vào nghiên cứu các khía cạnh của hội thoại: cấu trúc hội thoại, các đơn vị hội thoại, lập luận hội thoại, các chiến lược hội thoại… Hướng nghiên cứu về cấu trúc cuộc thoại và các đơn vị hội thoại đã có nhiều công trình đáng ghi nhận. Điển hình nhất là Phạm Văn Thấu trong Luận án Tiến sĩ Cấu trúc liên kết cặp thoại (2000) đã đi sâu nghiên cứu cấu tạo của cặp thoại, các mô hình liên kết giữa các hành vi ngôn ngữ trong tổ chức cặp thoại như liên kết phẳng, liên kết lồng, liên kết đối xứng, liên kết móc xích… 10 (LUAN.duong) TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.duong) Đặc biệt, trong luận án này, tác giả đã mô hình hóa quan hệ giữa lời trao và lời đáp trong hội thoại về mặt hình thức ngữ pháp và đã đưa ra 16 mô hình trao - đáp: trần thuật – trần thuật, trần thuật – hỏi, trần thuật – mệnh lệnh, trần thuật – cảm thán, hỏi – trần thuật, hỏi – hỏi, hỏi – mệnh lệnh, hỏi – cảm thán, mệnh lệnh – trần thuật, mệnh lệnh – hỏi, mệnh lệnh – mệnh lệnh, mệnh lệnh – cảm thán, cảm thán – trần thuật, cảm thán – hỏi, cảm thán – mệnh lệnh, cảm thán – cảm thán.
Nhìn chung, các công trình nghiên cứu trên đây đã xây dựng nền tảng lí luận cơ bản, vững chắc về lí thuyết hội thoại: vận động hội thoại, cấu trúc hội thoại, quy tắc hội thoại, thương lượng hội thoại, ngữ pháp hội thoại, ngữ nghĩa hội thoại… Trên cơ sở những tri thức nền đó, các nhà nghiên cứu ngôn ngữ học đi sau có thể ứng dụng, liên hệ, mở rộng, áp dụng nghiên cứu lí thuyết hội thoại trong mọi khía cạnh của thực tiễn đời sống. Những công trình nghiên cứu trên đây đi sâu vào nghiên cứu hội thoại trong những giao tiếp nói chung. Nhưng chỉ khi hội thoại được nghiên cứu trong những phạm vi giao tiếp cụ thể thì chúng ta mới thấy hết được sự sống động của nó. Sớm nhận ra điều đó nên nhiều phạm vi giao tiếp cụ thể đã được các nhà nghiên cứu quan tâm và đi sâu vào phân tích như giao tiếp của hội thoại mua bán ở chợ, giao tiếp quảng cáo giữa chủ sản phẩm và người tiêu dùng, giao tiếp tại tòa án, giao tiếp đàm phán thương mại, … Năm 2012, trong bài viết “Tìm hiểu cấu trúc trao đáp trong mối tương quan với nhân tố quyền lực ở phạm vi giao tiếp pháp đình tiếng Việt”, Lương Thị Hiền đã trình bày các kiểu cấu trúc trao – đáp trong hội thoại tại tòa án.
Tuy nhiên, xét về nghiên cứu theo phạm vi giao tiếp cụ thể, thì hội thoại mua bán sớm thu hút được sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu hơn cả. Nguyễn Thị Lý trong Tham thoại trong giao tiếp mua bán hiện nay (1994) đã đi sâu nghiên cứu tham thoại mua bán… Năm 1994, trong Luận văn thạc sĩ Tìm hiểu cặp 11 (LUAN.duong) TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.duong) thoại trong giao tiếp mua bán hiện nay Dương Tú Thanh đã bàn về một đơn vị của cuộc thoại, đó là cặp thoại. Năm 1996, Mai Thị Kiều Phượng cũng tiếp cận cặp thoại trong Những đặc điểm cấu trúc ngôn ngữ song thoại giữa người mua và người bán. Năm 2006, trong công trình Đặc điểm cuộc thoại mua bán ở chợ Nghệ Tĩnh, Trịnh Thị Mai đã đi sâu vào tìm hiểu cuộc thoại trong hội thoại mua bán.
Tác giả đã chỉ ra đặc điểm của từng phần trong cấu trúc của cuộc thoại mua bán như phần dẫn nhập, phần nội dung và phần kết thúc với các hành vi ngôn ngữ điển hình cho từng phần. Các công trình nghiên cứu trên là những gợi ý quan trọng đối với chúng tôi trong quá trình triển khai luận án. Tình hình nghiên cứu hội thoại dạy học Nghiên cứu hội thoại trong dạy học là lĩnh vực được nhiều nhà nghiên cứu hội thoại trên thế giới quan tâm và cũng đã có nhiều công trình đáng ghi nhận về lĩnh vực này. Tuy nhiên, tác phẩm để lại tiếng vang lớn nhất và gây ảnh hưởng sâu rộng nhất là công trình Hướng tới phân tích diễn ngôn (Toward an analysis of discourse) của Sinclaire và Coulthard, xuất bản năm 1975.
Trong công trình này, các tác giả đã miêu tả mô hình của các cuộc hội thoại giữa giáo viên và học sinh trong giờ học. Cấu trúc của một cuộc thoại dạy học đã được Sinclaire và Coulthard xây dựng và mô tả, trong đó toàn bộ bài học được coi như một cuộc thoại, gồm một số phiên giao dịch giữa giáo viên với học sinh (đoạn thoại), mỗi phiên giao dịch lại được thực hiện bởi một loạt trao đáp (exchanges) và mỗi loạt trao đáp lại được tạo ra bởi những bước thoại (moves), mỗi bước thoại lại được tạo lập bởi các hành vi ngôn ngữ .