Chương 1. Giới thiệu đề tài Trong chương này trình bày chủ yếu là các phần: lý do chọn nghiên cứu, vấn đề nghiên cứu, mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu, phạm vi và đối tượng nghiên cứu, ý nghĩa của đề tài và kết cấu của luận văn. Cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu trước Nêu các khái niệm về chất thải rắn sinh hoạt, hàng hóa và dịch vụ môi trường, mức sẵn lòng trả (willingness to pay - WTP). Do dịch vụ thu gom rác là một loại hàng hóa phi thị trường do đó việc định giá cần có các biện pháp riêng biệt đặc thù, chương này cũng trình bày các phương pháp định giá hàng hóa và dịch vụ phi thị trường.
Ngoài ra, tác giả cũng trình bày mô hình kinh tế và môi trường, ứng dụng cân bằng vật chất trong kinh tế học môi trường - trường hợp quản lý chất thải rắn nhằm tìm mối liên hệ qua lại giữa kinh tế và môi trường. Để có cơ sở cho việc xây dựng mô hình nghiên cứu, tác giả cũng đã tìm hiếu được một số nghiên cứu trước có liên quan nội dung nghiên cứu của đề tài. Phương pháp nghiên cứu Phần này trình bày mô hình nghiên cứu đã được tổng hợp, đề xuất bổ sung trên cơ sở các nghiên cứu trước. Dựa trên mục tiêu của đề tài, tác giả sử dụng phương pháp định tính là tìm hiểu, phỏng vấn ý kiến của các chuyên gia nhằm tìm ra các yếu tố, hành Trang 4 vi thải rác của con người có khả năng ảnh hưởng đến mức sẵn lòng trả cho dịch vụ thu gom rác thải sinh hoạt, phưomg pháp định lượng nhằm đạt kết quả mong đợi.
Phân tích kết quả Sử dụng phần mềm SPSS 18.0 phân tích, kiểm định các biến. tìm ra các yếu tố ảnh hưởng đến mức sẵn lòng trả của các hộ dân đổi với dịch vụ thu gom rác thải sinh hoạt. Trình bày kết quả phân tích có kểt hợp thống kê mô tả dựa trên các biểu đồ thể hiện tỷ lệ các yếu tố có liên quan đến đề tài. Kết luận và khuyến nghị Trình bày kết luận dựa trên kết quả phân tích nghiên cứu ở chương 4, kết hợp tình hình thực tế tại địa phương đưa ra một số khuyến nghị và chính sách có thể áp dụng nhằm mở rộng mạng lưới thu gom rác thải sinh hoạt, đạt mục tiêu quốc gia theo Quyết định số 2149/QĐ-TTg ngày 17/12/2009 của Thủ tướng chính phủ; tiến tới xã hội hóa trong lĩnh vực môi trường, đồng thời cũng nêu lên những hạn chế của đề tài và hướng nghiên cứu tiếp theo.
Trang 5 CHƯƠNG 2 Cơ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN cứu TRƯỚC 2. Khái niệm về chất thải rắn sinh hoạt Chất thải rắn - CTR (còn gọi là rác) là các chất rắn bị loại trong quá trình sống, sinh hoạt, hoạt động sản xuất của con người và động vật. CTR phát sinh từ các hộ gia đình, khu công cộng, khu xây dựng, khu thương mại, bệnh viện, khu xử lý chất thải. Trong đó, CTR sinh hoạt chiễm tỷ lệ cao nhất, số lượng, thành phần chất lượng thải tại từng quốc gia, khu vực là rất khác nhau, phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế, khoa học, kỹ thuật.
Bất kỳ một hoạt động nào của con người, tại nhà, công sở, trên đường đi, tại nơi công cộng., đều sinh ra một lượng rác đáng kể. Thành phần chủ yếu của chúng là chất hữu cơ và rất dễ gây ô nhiễm trở lại cho môi trường. Cho nên, CTR sinh hoạt (rác thải sinh hoạt) có thể định nghĩa là những thành phần tàn tích hữu cơ phục vụ cho hoạt động sống của con người. Thành phần rác thải sinh hoạt Thành phần chất thải % khối lượng Rau, thực phẩm thừa, chất hữu cơ dễ phân hủy 64.6 Giấy, bao bì giấy 2.1 Plastic khó tái chế 9.1 Cao su, đế giày dép 6.3 Vải sợi, vật liệu sợi 4.6 Thành phần khác 5.
Khái niệm chi trả dịch vụ môi trường Thu gom RTSH là một hoạt động trong lĩnh vực dịch vụ môi trường. Đe hoạt động này có thể tồn tại và phát triển theo chiều hướng tốt hơn thì cần có khoản phí bù đắp, từ đó có khái niệm về chi trả dịch vụ môi trường. Theo tài liệu dự án PES, khái niệm chi trả dịch vụ môi trường được sử dụng phổ biến: Trang 6 Là cam kết tham gia hợp đồng trên cơ sở tự nguyện có ràng buộc về mặt pháp lý và với hợp đồng này thì một hay nhiều người mua chi trả cho dịch vụ hệ sinh thái xác định nhiều người bán và người bán này có trách nhiệm đảm bảo một loại hình sử dụng đất nhất định cho một giai đoạn xác định bằng cách trả tiền mặt hoặc các hỗ trợ cho một hoặc nhiều người bán và người bán này có trách nhiệm đảm bảo một loại hình sử dụng nhất định cho một giai đoạn xác định để tạo ra các dịch vụ hệ sinh thái thoả thuận. Các khái niệm quan trọng liên quan đến “chi trả là gì”: Chi trả dịch vụ hệ sinh thái là sự bồi thường cho việc cung cấp các dịch vụ hệ sinh thái này; sự bồi thường và/ hoặc các hỗ trợ này có thể biểu hiện dưới nhiều hình thức (tiền mặt, hỗ trợ hiện vật, miễn thuế, đảm bảo quyền hưởng dụng .) Các khái niệm quan trọng liên quan đến “đối tượng tham gia”: Người bán là người sẵn lòng (hoặc bị bắt buộc) tạo ra các hàng hoá và dịch vụ hệ sinh thái thông qua việc quản lý hệ sinh thái; Người mua là người sẵn lòng (hoặc bị bắt buộc) phải trả cho các lợi ích từ việc nhận được hàng hoá và dịch vụ hệ sinh thái.
Khái niệm về mức sẵn lòng trả (Willingness to pay - WTP) Theo Barry C.Field and Martha K.Field (2009): mặt giá trị của sự phân tích dựa trên các khái niệm cơ bản mà cá nhân có sở thích đối với hàng hóa, dịch vụ được lựa chọn, họ có thể thể hiện ưu đãi đối với một hay một gói hàng qua gói hàng hóa khác. Trong nền kinh tế hiện đại có hàng ngàn hàng hóa và dịch vụ khác nhau, vì vậy chúng ta chỉ tập trung vào một trong số chúng. Chúng ta có thể trình bày các khái niệm cơ bản sau đây: Giá trị tốt đối với một người là những gì người đó sẵn sàng và có thể hy sinh cho nó. Vì vậy, ý tưởng cơ bản của giá trị gắn liền với khả năng chi trả; giá trị của một hàng hóa tốt đối với ai đó là những gì người đó sẵn sàng trả tiền cho nó.
Theo Turner, Pearce và Bateman (1995) cho rằng: mức đo lường ý thích của một cá nhân về một mặt hàng được bộc lộ bằng mức giá sẵn lòng trả WTP của họ đối với mặt hàng đó. WTP đồng thời là đường cầu thị trường, là cơ sở xác định lợi ích đối với xã hội khi tiêu dùng hay bán một mặt hàng nào đó. Trang 7 Giá Hình 2. Đường mức sẵn lòng trả Đây có thể là một sản phẩm bán ở thị trường (một mặt hàng thị trường) hoặc có thể là một mặt hàng không có thị trường (một mặt hàng phi thị trường).
Trong trường hợp thứ hai, cần phải tìm đường cầu bàng phương pháp đặc biệt. Ở đây, có thể xem đường cầu là “đường mức sẵn lòng trả”: nó cho thấy mức sẵn lòng trả cho một sản phẩm tương ứng với các mức giá khác nhau, số tiền mà cá nhân chi trả thật sự trên thị trường là phần diện tích OACD, nhưng thực tế là mức sẵn lòng trả ở những đơn vị đầu tiên có giá cao hơn, đoạn AB và giảm xuống DC ở những đơn vị cuối cùng. Do đó, WTP cao hơn phần chi trả thật sự, diện tích ABC, phần này được gọi là thặng dư của người tiêu thụ, hay còn gọi là WTP ròng, đo lường phần lợi ròng mà người tiêu thụ nhận được. Các phương pháp đánh giá hàng hóa và dịch vụ phi thị trường Hàng hóa và dịch vụ môi trường là loại mặt hàng phi thị trường.
Trên thị trường, mỗi loại hàng hóa đều được cung cấp thông tin khá rõ ràng về chất lượng, về công dụng, mẫu mã.được dùng làm cơ sở cho việc định giá và chọn lựa của mỗi cá nhân, thể hiện giá trị thị trường của hàng hóa này. Tuy nhiên, loại hàng hóa là dịch vụ môi trường thường không có giá thị trường và khó để xác định giá trị thực và tầm quan trọng của nó. Giá trị của nó chủ yếu phụ thuộc vào nhu cầu và độ ưa thích của cá nhân đối với loại hàng hóa này. Theo Hanley, Shogren và White (2001), các phương pháp định giá giá trị tài nguyên môi trường là: đánh giá ngẫu nhiên (Contingent valuation), thử nghiệm lựa chọn (Choice experiment), xếp hạng ngẫu nhiên (Contingent ranking).
Các phương pháp này có đặc điểm chung là chúng đều dựa trên cuộc khảo sát mà công chúng được Trang 8 trực tiếp đặt câu hỏi về WTP của nó (hoặc WTA) để thay đổi giả thuyết nhất định về chất lượng môi trường hoặc về sự lựa chọn giữa "gói" khác nhau về chất lượng môi trường và giá của mỗi gói. Phương pháp đánh giá ngẫu nhiên (CVM) là phổ biến nhất trong các phương pháp này trong thực tế. Theo Lê Ngọc Uyển và các cộng sự (2008), các phương pháp định giá giá trị tài nguyên môi trường là: Phương pháp phân tích chi phí - lợi ích, phương pháp đánh giá ngẫu nhiên, phương pháp chi phí du hành, định giá hưởng thụ, chi phí cơ hội, chi phí thay thế, chi trá của chính phủ, phương pháp nhân quả, chi phí thay đổi. Phương pháp phân tích lợi ích và chi phí được định nghĩa dựa trên các ước muốn và ý thích.
Việc gì đó thỏa mãn ước muốn là lợi ích, việc gì làm giảm sự thỏa mãn nhu cầu của con người là chi phí. Đối với nhà kinh tế, muốn biết sự thỏa mãn có gia tăng hay không, phải chú ý vào ý thích của con người. Nếu một người thích tình trạng B hơn tình trạng A hiện tại thì lợi ích ròng khi chuyển sang B đối với người đó phải là số dương. Bb - cb > 0 Trong đó, B là lợi ích, c là chi phí.
Lợi ích và chi phí được đo lường trên cơ sở phúc lợi của con người. Ngoài ra, để định giá loại hàng hóa phi thị trường này, theo Turner, Pearce và Bateman (1995) có nhiều phương pháp khác nhau nhằm xác định giá trị tiền tệ cho các tài nguyên môi trường.