Chương 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ THỰC TIỄN 1.1 Giới thiệu Chương này trình bày cơ sở lý thuyết và thực tiễn của ñề tài, gồm 2 phần chính: phần 1- trình bày những lý thuyết cơ bản có liên quan ñến ñầu tư và thu hút ñầu tư vào các KCN nói riêng và tỉnh Bình Phước nói chung, bao gồm các lý thuyết về môi trường ñầu tư, chất lượng, chất lượng dịch vụ và sự thoả mãn của khách hàng, tiếp thị ñịa phương và cạnh tranh; phần 2- trình bày tổng quan về các nghiên cứu trước ñây có liên quan ñến ñề tài.2 Tổng quan về cơ sở lý thuyết ðầu tư là một hoạt ñộng phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố và hiện tại có rất nhiều lý thuyết với nhiều quan ñiểm về ñầu tư khác nhau. Tuy nhiên, ñể xem xét hoạt ñộng ñầu tư của một DN tại một ñịa phương nào ñó chúng ta xem xét các lý thuyết về ñầu tư và môi trường ñầu tư; và khi xem ñịa phương là một thương hiệu chúng ta xem xét các lý thuyết về tiếp thị ñịa phương, năng lực cạnh tranh của ñịa phương và chất lượng dịch vụ công.1 Các khái niệm - ðầu tư: Theo quan ñiểm của chủ ñầu tư thì ñầu tư là hoạt ñộng bỏ vốn kinh doanh, ñể từ ñó thu ñược số vốn lớn hơn số vốn ñã bỏ ra, thông qua lợi nhuận. Theo quan ñiểm xã hội (quốc gia) ñầu tư là hoạt ñộng bỏ vốn phát triển, ñể từ ñó thu ñược các hiệu quả kinh tế xã hội, vì mục tiêu phát triển quốc gia. Các nhà kinh tế học dùng thuật ngữ ñầu tư ñể chỉ việc mua hàng hóa vốn mới, chẳng hạn như máy móc, nhà xưởng, nhà ở.
Khi ñề cập ñến các tài sản tài chính, các nhà kinh tế nói là “ñầu tư tài chính”, Olivier Blanchard (2000). Theo từ ñiển bách khoa toàn thư Việt Nam: khái niệm ñầu tư là sự bỏ vốn vào một DN, một công trình hay một sự nghiệp bằng nhiều biện pháp như cấp phát ngân sách, vốn tự có, liên doanh, hoặc vay dài hạn ñể 5 mua sắm thiết bị, xây dựng mới, hoặc thực hiện việc hiện ñại hoá, mở rộng xí nghiệp nhằm thu doanh lợi hay phát triển phúc lợi công cộng. Có ñầu tư sản xuất - xây dựng xí nghiệp, trang bị tư liệu sản xuất ñể sản xuất ra của cải và ñem lại doanh lợi- và ñầu tư dịch vụ - xây dựng những cơ sở phục vụ lợi ích công cộng như bệnh viện, trường học, thương mại, du lịch. Trong nghiên cứu này, thuật ngữ ñầu tư ñể chỉ việc mua hàng hóa vốn mới như mặt bằng xây dựng, nhà xưởng và phục vụ hoạt ñộng SXKD, mua, lắp ñặt máy móc thiết bị, vốn lưu ñộng.
- Khu công nghiệp: KCN ñược ñịnh nghĩa là khu tập trung các DN chuyên sản xuất hàng công nghiệp và thực hiện các dịch vụ cho sản xuất công nghiệp, có ranh giới ñịa lý xác ñịnh, không có dân cư sinh sống, do Thủ tướng Chính phủ quyết ñịnh thành lập, trong KCN có thể có DN chế xuất, Chính phủ (2008). KCN thường ñược xây dựng trên các vùng có nhiều ñất trống, các nhà máy xây dựng trong khu ñược tập trung theo chiều dọc, do ñó chi phí ñầu vào và ñầu ra của DN sẽ hạ thấp vì các nhà máy thường xây dựng sát cạnh nhau, ñầu ra của nhà máy này cũng là ñầu vào của nhà máy kia. Ngoài ra, các DN khi ñầu tư vào KCN sẽ giảm ñược nhiều chi phí như: chi phí mua ñất, xây dựng ñường dây tải ñiện, ñường giao thông vận tải vào nhà máy hệ thống cấp thoát nước, xử lý nước thải và chất thải rắn. Lợi ích của việc sản xuất tập trung tại các KCN so với phát triển công nghiệp tản mạn là tận dụng ñược lợi thế theo quy mô, tiết kiệm về kết cấu hạ tầng, quản lý hành chính và quản lý môi trường, ñồng thời cung cấp các dịch vụ thuận lợi.2 Các lý thuyết về ñầu tư và ñầu tư quốc tế Cho ñến nay các nhà kinh tế học trên thế giới ñã nghiên cứu, ñúc kết ñược khá nhiều lý thuyết giải thích cho quá trình ñầu tư, dịch chuyển ñầu tư quốc tế.
Tuy nhiên, trong lịch sử ñầu tư là một quá trình tương ñối phức tạp và biến ñộng theo từng thời kỳ. Do vậy, mỗi lý thuyết ñưa ra ñều có những mặt mạnh và những hạn chế nhất ñịnh và chưa có lý thuyết nào giải quyết ñược toàn bộ các khía cạnh của quá trình ñầu tư. 6 Hymer (1960), trích trong Phạm Tố Mai (2008) lập luận rằng sự tồn tại của các công ty ña quốc gia là dựa trên sự không hoàn hảo của thị trường là cấu trúc không hoàn hảo và chi phí giao dịch không hoàn hảo. Cấu trúc thị trường không hoàn hảo sẽ giúp các công ty ñộc quyền tạo ñược sức mạnh trên thị trường.
Chi phí giao dịch không hoàn hảo tạo cơ hội cho các công ty ñộc quyền thu lợi nhuận thông qua việc sử dụng “thị trường nội bộ” thay cho những giao dịch ở bên ngoài. Nghiên cứu về cấu trúc không hoàn hảo của thị trường - lý thuyết công nghiệp lập luận rằng khi ñầu tư ra nước ngoài các DN ñầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) chịu nhiều chi phí và rủi ro hơn các DN nước sở tại. ðể cạnh tranh với các DN này, DN FDI phải có những lợi thế ñể bù ñắp ñược những chi phí phụ trội ñó. Lợi thế ñó là sức mạnh ñộc quyền ở một số mặt như: quy mô, kiến thức, sự khác biệt của sản phẩm, nhãn hiệu sản phẩm, công nghệ, mạng lưới phân phối và kỹ năng tiếp thị, khả năng tiếp cận với những nguồn vốn rẻ.
Nghiên cứu về chi phí giao dịch không hoàn hảo – lý thuyết nội vi hóa cho rằng việc nội vi hóa các giao dịch thông qua FDI có lợi hơn các giao dịch thông qua thị trường. Các lợi ích từ FDI bao gồm việc tiết kiệm thời gian ñàm phán hợp ñồng licensing, tránh ñược những bất trắc trong ñàm phán và rủi ro do sự thiếu tin tưởng giữa các ñối tác, giảm thiểu những tác ñộng của Chính phủ thông qua việc chuyển giá và khả năng phân biệt ñối xử theo giá, Phạm Tố Mai (2008).Knickerbocker, trích trong Phạm Tố Mai (2008) ñưa ra lý thuyết hành vi chiến lược trên cơ sở xem xét giữa FDI và các ñối thủ cạnh tranh trong ngành công nghiệp ñộc quyền nhóm cho rằng có sự ñầu tư kéo theo khi một DN ñộc quyền nhóm ñầu tư vào một thị trường khu vực, một nước hay một ngành nào ñó thì các ñối thủ cạnh tranh trong ngành sẽ theo chân DN tiên phong ñầu tư vào thị trường ñó như một hành vi chiến lược nhằm ngăn chặn không cho ñối thủ nắm lợi thế trước mình. Lý thuyết về xu hướng ñầu tư quốc tế cho rằng: khi nền kinh tế phát triển, cấu trúc kinh tế thay ñổi và cùng với nó mức ñộ và bản chất của ñầu tư nước ngoài vào trong nước cũng như ñầu tư trong nước ra nước ngoài cũng thay ñổi. Như vậy, 7 có một sự tác ñộng qua lại giữa phát triển kinh tế và FDI.
Khi FDI xuất hiện nó ñược ñịnh hình bởi xu hướng phát triển, và ñến lượt mình FDI lại tác ñộng lên xu hướng phát triển. Lợi thế cạnh tranh mà DN có phụ thuộc vào các tài sản họ có bao gồm cả tài sản tự nhiên - tài nguyên thiên nhiên hay lao ñộng phổ thông - và tài sản tạo dựng - nguồn nhân lực có tay nghề, vốn, công nghệ, các kỹ năng quản lý, tiếp thị. Các hoạt ñộng FDI dịch chuyển nguồn lực qua lại giữa các nước và góp phần làm thay ñổi những ñặc tính của sở hữu, ñịa ñiểm, nội vi hóa của các DN ñộc quyền, trích trong Phạm Tố Mai (2008). Dunning (1977), trích trong Phạm Tố Mai (2008) ñưa ra lý thuyết chiết trung bằng cách tổng hợp ba dòng lý thuyết về FDI là lý thuyết tổ chức công nghiệp, lý thuyết nội vi hoá và lý thuyết ñịa ñiểm công nghiệp.
Theo ông, một DN chỉ thực hiện FDI khi hội tụ ba ñiều kiện: (1) sở hữu / quy mô: DN phải sở hữu một số lợi thế so với DN khác như quy mô, công nghệ, mạng lưới tiếp thị, khả năng tiếp cận nguồn vốn có lãi suất thấp hay các tài sản vô hình ñặc thù của DN; (2) nội vi hoá: việc sử dụng những lợi thế ñó trong nội bộ DN có lợi hơn là bán hay cho các DN khác thuê; (3) ñịa ñiểm: Sản xuất tại nước tiếp nhận ñầu tư có chi phí thấp hơn là sản xuất tại nước mẹ rồi xuất khẩu. Lợi thế ñịa ñiểm có thể có ñược nhờ các nguồn tài nguyên thiên nhiên, lao ñộng, các rào cản thương mại, chính sách khuyến khích ñầu tư và cả những tác ñộng ngoại vi mà ñịa ñiểm có thể tạo ra cho DN khi hoạt ñộng tại ñó. Paul Krugman (1991), trích trong Linh Vũ (2009) ñề xuất ra lý thuyết ñịa lý kinh tế mới theo ñó các hãng có xu hướng xác ñịnh vị trí sản xuất của mình ở những nơi “trung tâm” ñông ñúc dân cư và vốn, vì tận dụng ñược lợi thế nhờ quy mô. Nhưng việc này sẽ dẫn tới dân cư - vừa là người cung cấp lao ñộng vừa là người tiêu dùng - sẽ càng di chuyển tới những “trung tâm” này vì ở ñó có tính lợi thế quy mô cao hơn, cũng có nghĩa là giá cả hàng hóa rẻ hơn và sản phẩm ña dạng hơn.
Sự hạn chế tập trung hóa chính là ở chi phí vận chuyển. Chi phí vận chuyển tới người tiêu dùng sẽ cao nếu như các hãng tập trung hóa ở một khu vực nhất ñịnh trong quốc gia. Do ñó, quyết ñịnh lựa chọn ñịa ñiểm sản xuất của các hãng phụ thuộc vào 8 tương quan giữa việc tận dụng lợi thế quy mô và việc tiết kiệm chi phí vận chuyển. Giảm chi phí vận chuyển sẽ dẫn tới quá trình tập trung hóa và ñô thị hóa.3 Các lý thuyết về môi trường ñầu tư Theo world bank (2004), trích trong Nguyễn Trọng Hoài (2007) thì môi trường ñầu tư là tập hợp những yếu tố ñặc thù ñịa phương ñang ñịnh hình cho các cơ hội và ñộng lực ñể DN ñầu tư có hiệu quả, tạo việc làm và mở rộng sản xuất.
Tập hợp những yếu tố ñặc thù này bao gồm hai thành phần chính là chính sách của ñịa phương - cơ sở hạ tầng mềm - và các nhân tố khác liên quan ñến quy mô thị trường và ưu thế ñịa lý - cơ sở hạ tầng cứng.