Tổng quan nghiên cứu

Khu bảo tồn thiên nhiên đất ngập nước Vân Long được thành lập chính thức theo Quyết định số 2888/QĐ-UB ngày 18/12/2001 của Ủy ban nhân dân tỉnh Ninh Bình, sở hữu tổng diện tích quy hoạch 2.736 ha trải rộng trên địa giới hành chính của 7 xã miền núi thuộc huyện Gia Viễn. Đây là khu vực đất ngập nước nội địa nguyên vẹn tiêu biểu của vùng đồng bằng Bắc Bộ, đồng thời là sinh cảnh cư ngụ trọng yếu của quần thể Voọc mông trắng lớn nhất thế giới với giá trị bảo tồn toàn cầu. Tuy nhiên, vùng lõi khu bảo tồn hiện có 425 hộ dân với 1.450 nhân khẩu sinh sống tập trung tại 5 thôn thuộc hai xã Gia Hưng và Gia Hòa, vốn duy trì sinh kế dựa vào việc khai thác nguồn lợi tự nhiên từ năm 1978.

Vấn đề nghiên cứu trọng tâm là sự xung đột sâu sắc giữa các yêu cầu bảo tồn nghiêm ngặt của khu bảo tồn và nhu cầu sinh nhai truyền thống của cộng đồng dân cư địa phương. Mục tiêu cụ thể của luận văn là nhận diện toàn diện các hoạt động sinh kế, phân tích mức độ tác động hai chiều giữa bảo tồn và sinh kế, từ đó xây dựng hệ thống khuyến nghị thực tiễn nhằm điều hòa mối quan hệ này. Phạm vi không gian của đề tài tập trung vào 5 thôn vùng lõi gồm Hoa Tiên, Cọt, Gọng Vó, Đồi Ngô và Vườn Thị, được khảo sát thực tế trong năm 2012.

Nghiên cứu có ý nghĩa khoa học sâu sắc khi cung cấp mô hình thực nghiệm về phương thức đồng quản lý tài nguyên dựa vào cộng đồng cho hệ sinh thái đất ngập nước. Về mặt thực tiễn, kết quả nghiên cứu chỉ ra thứ tự ưu tiên xử lý các hoạt động sinh kế gây áp lực lên đa dạng sinh học, hỗ trợ Ban quản lý rừng đặc dụng Hoa Lư - Vân Long và chính quyền địa phương cân bằng bài toán bảo tồn thiên nhiên với mục tiêu nâng cao phúc lợi kinh tế cho người dân bản địa.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn vận dụng nền tảng của khoa học sinh học bảo tồn theo quan điểm của Soulé và Richard, nhấn mạnh cách tiếp cận đa ngành kết hợp chặt chẽ giữa sinh học, kinh tế học và khoa học quản lý nhằm hạn chế triệt để nguy cơ tuyệt chủng loài. Hai phương thức bảo tồn cốt lõi được phân tích là bảo tồn nguyên vị (in-situ) tại các sinh cảnh núi đá vôi ngập nước tự nhiên và bảo tồn chuyển vị (ex-situ) hỗ trợ phục hồi loài. Nghiên cứu đồng thời tích hợp lý thuyết hệ sinh thái đất ngập nước theo Công ước Ramsar do Lê Diên Dực hệ thống hóa, bao gồm 4 chức năng nền tảng: chức năng điều chỉnh, chức năng mang tải, chức năng sản xuất và chức năng thông tin.

Khung lý thuyết về sự đánh đổi giữa bảo tồn và phát triển của Hoàng Văn Thắng được áp dụng để làm rõ bản chất mâu thuẫn lợi ích giữa các bên liên quan. Cơ sở pháp lý của đề tài căn cứ vào hệ thống văn bản quy phạm pháp luật hoàn chỉnh tại Việt Nam, bao gồm Luật Thủy sản năm 2003 tại Điều 8 quy định danh mục loài và phạm vi bảo vệ nguồn lợi, Luật Bảo vệ và Phát triển rừng năm 2004, Luật Đa dạng sinh học năm 2008 tại Điều 30 về quyền và nghĩa vụ của cộng đồng trong khu bảo tồn. Bên cạnh đó, các chính sách như Nghị định số 117/2010/NĐ-CP về quản lý rừng đặc dụng và Quyết định số 24/2012/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ quy định mức đầu tư 100.000 đồng/ha/năm cho hợp đồng bảo vệ rừng và hỗ trợ 40 triệu đồng/thôn/năm cho vùng đệm đã tạo hành lang pháp lý trực tiếp cho các phân tích trong nghiên cứu.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu phối hợp đồng bộ các nguồn dữ liệu thứ cấp từ Niên giám thống kê huyện Gia Viễn năm 2010, báo cáo tổng hợp của 7 xã vùng bảo tồn với dữ liệu sơ cấp thu thập trực địa. Cỡ mẫu nghiên cứu được xác định theo công thức chuẩn của Cochran do Nguyễn Trương Nam dẫn giải với độ tin cậy 95% tương ứng hệ số Z bằng 1,96, mức sai số chấp nhận d bằng 0,1 và tỷ lệ ước tính p bằng 50%, cho ra quy mô mẫu lý thuyết là 97 hộ dân. Trong quá trình triển khai thực địa từ tháng 4/2012 đến tháng 12/2012, do điều kiện mùa mưa lũ ngập úng và trùng thời điểm bà con nông dân cấy lúa mùa, tác giả áp dụng phương pháp chọn mẫu phân tầng có chủ đích với cỡ mẫu thực tế là 60 phiếu hỏi tại 5 thôn vùng lõi, tương ứng 12 hộ/thôn, đại diện đầy đủ các nhóm hộ khá, trung bình, nghèo, cán bộ thôn và hộ nhận khoán.

Các phương pháp phân tích chủ đạo bao gồm phương pháp Đánh giá nhanh nông thôn (RRA) với kỹ thuật phỏng vấn bán cấu trúc (SSI), phương pháp phân tích ma trận điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức (SWOT), cùng phương pháp tham vấn chuyên gia gồm lãnh đạo Ban quản lý khu bảo tồn, cán bộ kiểm lâm và trưởng thôn. Lý do lựa chọn tổ hợp phương pháp này nhằm đối chiếu chéo thông tin định tính và định lượng, phản ánh khách quan bức tranh sinh kế trong mối tương quan với các chỉ số sinh thái học của 722 loài thực vật và 39 loài thú hiện diện tại khu bảo tồn.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Kết quả điều tra thực nghiệm đã chỉ ra sự chuyển dịch sinh kế rõ rệt của cộng đồng địa phương qua hai mốc thời gian trước và sau khi thành lập Khu bảo tồn thiên nhiên đất ngập nước Vân Long.

Trước năm 2001, các hoạt động khai thác tài nguyên rừng diễn ra tự do và chiếm tỷ trọng rất cao: khai thác củi đun chiếm 83,3%, đốt than củi chiếm 61,7%, khai thác củi thương mại chiếm 25,0%, khai thác đá xây dựng chiếm 26,7%, xâm canh đất rừng làm nông nghiệp chiếm 36,7% và chăn thả gia súc chiếm 33,3% tổng số hộ được điều tra. Hoạt động săn bắt động vật hoang dã ghi nhận ở mức 6,7%. Nguồn thu nông nghiệp thời kỳ này rất thấp với mức bình quân lương thực chỉ đạt 360 kg/người/năm vào năm 2000, khiến áp lực khai thác rừng gia tăng mạnh mẽ, dẫn đến tình trạng xói mòn và gây ra 3 đến 5 đợt lũ tràn mỗi mùa mưa.

Sau khi khu bảo tồn được thành lập, các biện pháp thực thi pháp luật nghiêm ngặt đã đem lại những biến chuyển mang tính bước ngoặt:

  • Hoạt động khai thác than củi, củi bán thương mại, khai thác đá xây dựng và săn bắt động vật hoang dã đã giảm tuyệt đối về mức 0,0%.
  • Hoạt động khai thác củi đun giảm mạnh từ 83,3% xuống chỉ còn 6,7%, hoạt động xâm canh đất rừng giảm sâu từ 36,7% xuống 1,7%, và tỷ lệ chăn thả gia súc giảm từ 33,3% xuống 8,3%.
  • Cơ cấu nghề nghiệp chuyển đổi tích cực: tỷ lệ người dân tham gia các ngành nghề phi nông nghiệp tự do như thợ xây, phụ hồ, công nhân khu công nghiệp tăng vọt từ 16,7% lên 58,3%, tỷ lệ công nhân viên chức đạt 18,3%, đồng thời hình thành nhóm sinh kế mới là nhận khoán khoanh nuôi bảo vệ rừng chiếm 23,3%.
  • Hoạt động khai thác thủy sản tuy đã giảm từ 31,7% xuống còn 10,0%, nhưng vẫn là điểm nóng phức tạp do áp lực kinh tế, khi người dân lén lút sử dụng kích điện và đun tép trái phép vào ban đêm để thu nhập khoảng 200.000 đồng/buổi phục vụ nghề làm mắm tép Gia Viễn.

Thảo luận kết quả

Sự suy giảm ngoạn mục của các hoạt động xâm hại tài nguyên rừng bắt nguồn từ sự kết hợp hiệu quả giữa nỗ lực tuần tra kiên quyết của lực lượng kiểm lâm và tác động tích cực từ quá trình công nghiệp hóa tại địa phương. Sự hình thành của Khu công nghiệp Gián Khẩu và các cụm công nghiệp Gia Sinh, Gia Vân đã mở ra thị trường lao động dồi dào, giải quyết việc làm cho lao động phổ thông với mức tiền công từ 120.000 đến 300.000 đồng/ngày công. Bên cạnh đó, các dự án tài trợ từ Quỹ Bảo tồn Việt Nam (VCF) và Hội Động vật học Frankfurt (FZS) đã hỗ trợ cải tạo 60% vườn tạp, cung cấp 2.000 cây ăn quả, 15.000 cây lâm nghiệp giống và 300 con thỏ giống, đồng thời giao khoán cho 65 hộ gia đình bảo vệ 1.965 ha rừng.

Tuy nhiên, chính sách bảo tồn cũng tạo ra những tác động tiêu cực đáng kể đến kinh tế hộ gia đình chưa được bù đắp thỏa đáng. Kết quả khảo sát cho thấy 36,7% số hộ gặp khó khăn lớn về địa bàn chăn thả gia súc, 28,3% nhận định việc cấm chăn nuôi dê núi làm sụt giảm nghiêm trọng nguồn thu nhập chính, 23,3% thiếu hụt nguồn thức ăn thô xanh, và 13,3% hộ gia đình phải phát sinh thêm chi phí tài chính mua than, gas và chất đốt thay thế củi rừng. Dữ liệu nghiên cứu khi biểu diễn qua biểu đồ so sánh tương quan tỷ lệ phần trăm các hoạt động sinh kế trước - sau thành lập và bảng ma trận đánh giá mức độ ảnh hưởng đã chứng minh rõ nét: cộng đồng vùng lõi đã chấp hành tốt quy chế bảo tồn nhưng đang phải chịu sự đánh đổi kinh tế trực tiếp, đòi hỏi các chính sách hỗ trợ sinh kế thay thế có tính căn cơ và bền vững hơn.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên các phân tích thực chứng, luận văn đưa ra 4 nhóm giải pháp trọng tâm nhằm hài hòa giữa bảo tồn đa dạng sinh học và phát triển sinh kế bền vững:

  • Phát triển sinh kế thay thế thân thiện với môi trường: Ban quản lý khu bảo tồn phối hợp với Ủy ban nhân dân huyện Gia Viễn xây dựng và vận hành mô hình du lịch sinh thái đất ngập nước dựa vào cộng đồng gắn với bảo tồn Voọc mông trắng. Đặt mục tiêu đến giai đoạn 2013-2015 thu hút từ 30% đến 40% số hộ dân vùng lõi tham gia vào chuỗi dịch vụ chèo thuyền nan, dịch vụ lưu trú homestay và tiêu thụ đặc sản địa phương có kiểm soát, tạo thu nhập ổn định từ 4.000.000 đến 5.000.000 đồng/hộ/tháng. Nhân rộng mô hình hầm khí sinh học biogas và hỗ trợ 100% bếp đun tiết kiệm củi cho các hộ dân còn lại nhằm chấm dứt hoàn toàn việc lấy củi trong phân khu bảo vệ nghiêm ngặt.

  • Hoàn thiện cơ chế quản lý và chia sẻ lợi ích: Áp dụng triệt để chính sách đồng quản lý tài nguyên và cơ chế chi trả dịch vụ môi trường rừng theo Quyết định số 24/2012/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ. Thực hiện giao khoán bảo vệ rừng minh bạch với định mức kinh phí 100.000 đồng/ha/năm cho cộng đồng 5 thôn vùng lõi, đồng thời giải ngân kịp thời khoản kinh phí hỗ trợ phát triển vùng đệm 40 triệu đồng/thôn/năm để thành lập quỹ quay vòng vốn phát triển chăn nuôi nhốt chuồng có kiểm soát dịch bệnh.

  • Tăng cường năng lực thực thi pháp luật và giám sát đa dạng sinh học: Kiện toàn lực lượng kiểm lâm địa bàn thuộc Ban quản lý rừng đặc dụng Hoa Lư - Vân Long, thành lập 05 tổ tuần tra liên ngành cơ động phối hợp chặt chẽ với Công an xã và lực lượng bảo vệ rừng thôn bản. Triển khai tuần tra chốt chặn 24/7 tại các luồng lạch đầm ngập nước, kiên quyết xử lý và tịch thu 100% dụng cụ kích điện, lưới mắt nhỏ, mìn và hoạt động đun tép trái phép nhằm phục hồi trữ lượng thủy sản tự nhiên.

  • Nâng cao nhận thức bảo tồn và chuyển giao kỹ thuật nông - lâm nghiệp: Trung tâm Khuyến nông tỉnh phối hợp với Ban quản lý tổ chức định kỳ 15 đến 20 khóa tập huấn kỹ thuật chuyển giao kỹ thuật canh tác đất dốc, trồng cỏ voi phục vụ chăn nuôi nhốt, cải tạo vườn tạp và kỹ thuật nuôi ong lấy mật dưới tán rừng cho tối thiểu 500 lượt hộ gia đình. Triển khai các chiến dịch truyền thông môi trường trực quan tại 7 xã ven khu bảo tồn để 100% người dân nắm vững ranh giới phân khu chức năng và tự giác chấp hành pháp luật bảo vệ tài nguyên thiên nhiên.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Công trình nghiên cứu mang giá trị học thuật và thực tiễn phong phú, đặc biệt hữu ích cho 4 nhóm đối tượng trọng tâm sau:

  • Cơ quan quản lý nhà nước và Ban quản lý các khu bảo vệ: Cán bộ lãnh đạo thuộc Cục Kiểm lâm, Sở Tài nguyên và Môi trường, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn các tỉnh, đặc biệt là Ban quản lý rừng đặc dụng Hoa Lư - Vân Long. Luận văn cung cấp luận cứ thực tiễn để xây dựng quy chế quản lý, phương án giao khoán bảo vệ rừng và giải quyết hài hòa xung đột sinh kế tại các khu bảo tồn đất ngập nước trên phạm vi toàn quốc.

  • Các tổ chức phi chính phủ và quỹ tài trợ bảo tồn quốc tế: Đội ngũ chuyên gia thuộc Quỹ Bảo tồn Việt Nam (VCF), Hội Động vật học Frankfurt (FZS), Tổ chức Bảo tồn Thiên nhiên Quốc tế (IUCN) và Quỹ Quốc tế Bảo vệ Thiên nhiên (WWF). Tài liệu đóng vai trò là nghiên cứu điển hình (case study) mẫu mực để thẩm định, thiết kế và đánh giá hiệu quả tác động của các chương trình can thiệp sinh kế cộng đồng vùng đệm.

  • Giảng viên, nhà nghiên cứu và học viên cao học: Các nhà khoa học, nghiên cứu sinh và học viên chuyên ngành Khoa học Môi trường, Quản lý Tài nguyên Thiên nhiên, Sinh học Bảo tồn và Phát triển Bền vững. Luận văn cung cấp bộ khung phương pháp luận kết hợp RRA, SWOT và công thức tính cỡ mẫu điều tra xã hội học môi trường có giá trị tham khảo học thuật cao.

  • Chính quyền địa phương cấp huyện và xã vùng dự án: Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân huyện Gia Viễn và 7 xã tiếp giáp khu bảo tồn. Công trình cung cấp bức tranh dữ liệu kinh tế - xã hội chi tiết của 12.843 hộ dân toàn vùng, phục vụ trực tiếp cho công tác quy hoạch chuyển đổi ngành nghề và xây dựng đề án nông thôn mới bền vững.

Câu hỏi thường gặp

  • Việc thành lập Khu bảo tồn thiên nhiên đất ngập nước Vân Long đã làm thay đổi thói quen sử dụng chất đốt của người dân như thế nào? Trước khi thành lập khu bảo tồn, 83,3% số hộ thường xuyên khai thác củi rừng và 61,7% hộ đốt than củi. Sau khi có quy chế bảo vệ, tỷ lệ lấy củi đun giảm xuống còn 6,7% và hoạt động đốt than chấm dứt hoàn toàn về 0,0%. Nhờ các dự án tài trợ bếp tiết kiệm củi và xây dựng hầm biogas, người dân đã chuyển đổi sang chất đốt thay thế, dù 13,3% hộ vẫn gặp khó khăn về chi phí nhiên liệu.

  • Tại sao hoạt động khai thác thủy sản trái phép vẫn diễn ra phức tạp dù tỷ lệ hộ tham gia đã giảm từ 31,7% xuống 10,0%? Nguyên nhân chủ yếu do sức hút lợi nhuận từ nghề chế biến đặc sản mắm tép Gia Viễn. Chỉ với 2 giờ dùng dụng cụ đun tép hoặc kích điện ban đêm, người dân có thể thu hoạch lượng thủy sản trị giá khoảng 200.000 đồng, vượt trội so với thu nhập nông nghiệp thuần túy. Lực lượng kiểm lâm mỏng và địa hình đầm lầy hiểm trở cũng gây khó khăn cho công tác vây bắt vi phạm.

  • Chính sách nghiêm cấm chăn thả gia súc gây ra những khó khăn cụ thể nào cho kinh tế của các hộ gia đình vùng lõi? Chính sách này khiến 36,7% số hộ thiếu bãi chăn thả và 28,3% hộ bị ảnh hưởng nghiêm trọng đến nguồn thu nhập gia đình do đàn dê núi trước đây mang lại hiệu quả kinh tế rất cao (khoảng 2.000.000 đồng/con giống). Người dân buộc phải chuyển sang chăn thả ven đê, trồng thêm cỏ voi hoặc đầu tư chuyển sang nuôi nhốt với chi phí thức ăn cao hơn.

  • Người dân địa phương đã chủ động thích ứng và chuyển dịch cơ cấu sinh kế sang các ngành nghề nào để thay thế nguồn thu từ rừng? Cộng đồng đã chủ động chuyển đổi mạnh mẽ sang nhóm nghề tự do phi nông nghiệp, nâng tỷ lệ tham gia từ 16,7% lên 58,3%. Lao động địa phương đi làm thợ xây, phụ hồ với thu nhập từ 120.000 đến 300.000 đồng/ngày công, hoặc làm công nhân tại các khu công nghiệp lân cận như Gián Khẩu, Gia Vân. Ngoài ra, 23,3% số hộ tham gia nhận khoán bảo vệ rừng và nhân rộng mô hình nuôi ong mật dưới tán rừng.

  • Phương pháp điều tra xã hội học trong luận văn được xử lý như thế nào để đảm bảo tính đại diện khoa học? Tác giả đã xác định cỡ mẫu lý thuyết là 97 hộ theo công thức của Cochran và chọn mẫu thực tế 60 hộ tại 5 thôn vùng lõi theo phương pháp phân tầng có chủ đích. Mẫu khảo sát bao quát đầy đủ các thành phần kinh tế từ hộ nghèo, hộ trung bình, hộ khá đến cán bộ thôn bản, đồng thời áp dụng phương pháp phỏng vấn bán cấu trúc (SSI) và đánh giá nhanh nông thôn (RRA) để thu thập dữ liệu xác thực.

Kết luận

  • Đề tài đã đánh giá toàn diện bức tranh chuyển dịch sinh kế tại vùng lõi Khu bảo tồn thiên nhiên đất ngập nước Vân Long, ghi nhận sự sụt giảm triệt để của các hoạt động khai thác củi từ 83,3% xuống 6,7%, than củi về 0,0% và gia tăng lao động phi nông nghiệp lên 58,3%.
  • Xác định rõ nét mối quan hệ tương tác hai chiều và sự đánh đổi kinh tế của 425 hộ dân vùng lõi, trong đó 36,7% hộ gặp khó khăn về vùng chăn thả và 28,3% hộ suy giảm thu nhập do các quy định bảo tồn nghiêm ngặt.
  • Khẳng định giá trị thực tiễn của các mô hình can thiệp hỗ trợ cộng đồng từ Quỹ Bảo tồn Việt Nam (VCF) và Hội Động vật học Frankfurt trong việc giao khoán 1.965 ha rừng và chuyển giao cây con giống chất lượng cao.
  • Đề xuất hệ thống 4 nhóm giải pháp mang tính khả thi cao gồm phát triển du lịch sinh thái cộng đồng, thực thi cơ chế đồng quản lý theo Quyết định số 24/2012/QĐ-TTg, tăng cường tuần tra kiểm soát đầm nước và đào tạo khuyến nông - lâm đến năm 2020.
  • Định hướng lộ trình tương lai kêu gọi sự phối hợp chặt chẽ giữa Ban quản lý khu bảo tồn, chính quyền địa phương và các tổ chức quốc tế nhằm nhân rộng mô hình chia sẻ lợi ích, bảo vệ vững chắc 2.736 ha hệ sinh thái đất ngập nước quý giá của Việt Nam.