Luận văn thạc sĩ nghiên cứu mối quan hệ giữa sinh kế của người dân địa phương và hoạt động bảo tồn ở khu bảo tồn thiên nhiên đất ngập nước vân long tỉnh ninh bình

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu nghiên cứu mối quan hệ giữa sinh kế của người dân địa phương và hoạt động bảo tồn ở khu bảo tồn, đánh giá hiện trạng, phân tích vấn đề, đề xuất biện

Trường đại học

Đại Học Quốc Gia Hà Nội

Chuyên ngành

Khoa Học Môi Trường

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Văn Thạc Sĩ

2012

87
2
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về mối quan hệ giữa sinh kế và bảo tồn tại Vân Long

Khu bảo tồn thiên nhiên đất ngập nước Vân Long, Ninh Bình, là một trong những khu vực quan trọng về đa dạng sinh học tại Việt Nam. Nơi đây không chỉ là môi trường sống của nhiều loài động thực vật quý hiếm mà còn là nguồn sinh kế cho người dân địa phương. Nghiên cứu này nhằm làm rõ mối quan hệ giữa sinh kế của người dân và hoạt động bảo tồn tại khu vực này. Việc bảo tồn không chỉ giúp duy trì hệ sinh thái mà còn tạo ra cơ hội phát triển bền vững cho cộng đồng.

1.1. Đặc điểm sinh thái và kinh tế xã hội của Vân Long

Vân Long có diện tích 2.736 ha, với hệ sinh thái đa dạng bao gồm các loài thủy sinh và động vật hoang dã. Kinh tế địa phương chủ yếu dựa vào nông nghiệp và du lịch sinh thái. Sự phát triển kinh tế này có thể ảnh hưởng đến công tác bảo tồn nếu không được quản lý hợp lý.

1.2. Vai trò của cộng đồng trong bảo tồn sinh thái

Cộng đồng địa phương đóng vai trò quan trọng trong việc bảo tồn đa dạng sinh học. Họ không chỉ là những người hưởng lợi từ tài nguyên thiên nhiên mà còn là những người bảo vệ chúng. Sự tham gia của cộng đồng vào các hoạt động bảo tồn có thể tạo ra những lợi ích kinh tế và môi trường bền vững.

II. Thách thức trong việc bảo tồn và phát triển sinh kế tại Vân Long

Mặc dù có nhiều lợi ích từ việc bảo tồn, nhưng khu vực Vân Long cũng đối mặt với nhiều thách thức. Các hoạt động khai thác tài nguyên không bền vững, như đánh bắt thủy sản và khai thác đá vôi, đang gây áp lực lên hệ sinh thái. Điều này không chỉ ảnh hưởng đến đa dạng sinh học mà còn đến sinh kế của người dân.

2.1. Tác động của khai thác tài nguyên đến bảo tồn

Các hoạt động khai thác tài nguyên như đánh bắt thủy sản và săn bắt động vật hoang dã đã làm suy giảm đa dạng sinh học tại Vân Long. Việc này không chỉ đe dọa các loài mà còn ảnh hưởng đến nguồn thu nhập của người dân địa phương.

2.2. Mâu thuẫn giữa phát triển kinh tế và bảo tồn

Sự phát triển kinh tế thường đi kèm với việc khai thác tài nguyên thiên nhiên. Điều này tạo ra mâu thuẫn giữa nhu cầu phát triển và yêu cầu bảo tồn. Cần có các giải pháp hợp lý để cân bằng giữa hai yếu tố này.

III. Phương pháp bảo tồn hiệu quả tại Vân Long

Để bảo tồn hiệu quả tại Vân Long, cần áp dụng các phương pháp bảo tồn đa dạng sinh học kết hợp với phát triển sinh kế bền vững. Các giải pháp này không chỉ giúp bảo vệ môi trường mà còn tạo ra cơ hội kinh tế cho cộng đồng.

3.1. Bảo tồn tại chỗ và bảo tồn chuyển vị

Bảo tồn tại chỗ giúp duy trì các quần thể động thực vật trong môi trường tự nhiên của chúng. Trong khi đó, bảo tồn chuyển vị có thể được áp dụng cho các loài hiếm, giúp tăng cường sự đa dạng sinh học.

3.2. Tăng cường nhận thức cộng đồng về bảo tồn

Giáo dục và nâng cao nhận thức cho cộng đồng về tầm quan trọng của bảo tồn là rất cần thiết. Các chương trình đào tạo và hoạt động cộng đồng có thể giúp người dân hiểu rõ hơn về lợi ích của việc bảo vệ môi trường.

IV. Ứng dụng thực tiễn từ nghiên cứu tại Vân Long

Nghiên cứu này không chỉ cung cấp cái nhìn sâu sắc về mối quan hệ giữa sinh kế và bảo tồn mà còn đưa ra các ứng dụng thực tiễn cho việc quản lý khu bảo tồn. Các giải pháp đề xuất có thể giúp cải thiện tình hình sinh kế cho người dân địa phương trong khi vẫn bảo vệ được đa dạng sinh học.

4.1. Các mô hình phát triển sinh kế bền vững

Các mô hình phát triển sinh kế bền vững có thể bao gồm du lịch sinh thái, nông nghiệp hữu cơ và các hoạt động sản xuất thân thiện với môi trường. Những mô hình này không chỉ tạo ra thu nhập mà còn bảo vệ tài nguyên thiên nhiên.

4.2. Hợp tác giữa các bên liên quan

Sự hợp tác giữa chính quyền, tổ chức phi chính phủ và cộng đồng địa phương là rất quan trọng. Các bên liên quan cần làm việc cùng nhau để xây dựng các chính sách bảo tồn hiệu quả và bền vững.

V. Kết luận và triển vọng tương lai cho Vân Long

Khu bảo tồn thiên nhiên đất ngập nước Vân Long có tiềm năng lớn trong việc bảo tồn đa dạng sinh học và phát triển sinh kế bền vững. Tuy nhiên, để đạt được điều này, cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa các bên liên quan và các giải pháp quản lý hiệu quả.

5.1. Tương lai của bảo tồn và phát triển tại Vân Long

Tương lai của khu bảo tồn phụ thuộc vào khả năng quản lý và bảo vệ tài nguyên thiên nhiên. Cần có các chính sách hỗ trợ và khuyến khích người dân tham gia vào các hoạt động bảo tồn.

5.2. Đề xuất các giải pháp cho Vân Long

Các giải pháp cần được đề xuất bao gồm tăng cường quản lý tài nguyên, phát triển các mô hình sinh kế bền vững và nâng cao nhận thức cộng đồng về bảo tồn. Những giải pháp này sẽ giúp bảo vệ khu bảo tồn và cải thiện sinh kế cho người dân địa phương.

23/07/2025
Luận văn thạc sĩ nghiên cứu mối quan hệ giữa sinh kế của người dân địa phương và hoạt động bảo tồn ở khu bảo tồn thiên nhiên đất ngập nước vân long tỉnh ninh bình

Trích đoạn nội dung tài liệu

Phần mở đầu Chƣơng 1: Tổng quan các vấn đề nghiên cứu Chƣơng 2: Địa điểm, thời gian, đối tƣợng và phƣơng pháp nghiên cứu Chƣơng 3: Kết quả và thảo luận Kết luận, kiến nghị 3 CHƢƠNG 1. TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Sinh học bảo tồn Theo Soulé (1985) “Sinh học bảo tồn là một khoa học đa ngành được xây dựng nhằm hạn chế các mối đe dọa đối với đa dạng sinh học”. Sinh học bảo tồn có hai mục tiêu: Một là tìm hiểu những tác động tiêu cực do các hoạt động của con ngƣời gây ra đối với các loài, quần xã và các hệ sinh thái, hai là xây dựng các phƣơng pháp tiếp cận để hạn chế sự tuyệt diệt của các loài và nếu có thể đƣợc, cứu các loài đang bị đe dọa bằng cách đƣa chúng họ nhập trở lại các hệ sinh thái còn phù hợp đối với chúng.

Từ khi hình thành và phát triển con ngƣời đã tồn tại bằng cách khai thác đa dạng sinh học. Tốc độ, số lƣợng khai thác tăng theo mức sống và nhu cầu con ngƣời bởi đa dạng sinh học cung cấp thực phẩm, thuốc men, vật liệu xây dựng, sợi, nhiên liệu và nhiều giá trị gián tiếp khác nhƣ: điều hòa khí hậu, chu trình dinh dƣỡng.Tuy nhiên con ngƣời khai thác không bền vững gây suy giảm đa dạng sinh học và tuyệt chủng loài mà hậu quả trong tƣơng lai là khôn lƣờng và không thể cứu vãn nổi. Theo Richard(1999) thì sự đa dạng về loài đang giảm dần cùng với sự tăng trƣởng của các quần thể loài ngƣời. Hiện nay có thể nhìn thấy 40% sản phẩm thứ cấp của hệ sinh thái trên cạn đƣợc con ngƣời sử dụng, hủy hoại hay loại bỏ; lƣợng này chiếm 25% tổng sản phẩm thứ cấp trên toàn Trái đất.

Riêng rừng mƣa nhiệt đới mỗi năm có khoảng 0,2 – 0,3% tổng số loài sẽ bị mất, tức là mỗi ngày có 68 loài bị mất đi hay 3 loài bị mất trong vòng một giờ. Trong thời gian 10 năm từ 1993 đến 2003 có khoảng 250.000 loài bị tuyệt chủng. Chính vì thế mà ngành sinh học bảo tồn đã ra đời để giải quyết các vấn đề này. Một dẫn chứng của Phòng nghiên cứu chính sách, Trung tâm Con ngƣời và Thiên nhiên (2012) về bảo tồn loài Sao la không thành công do không áp dụng đúng nguyên tắc của sinh học bảo tồn.

Họ đã thống kê trong hơn 100 triệu đô la nƣớc ngoài đầu tƣ cho bảo tồn từ những thập niên 90 thì kinh phí đầu tƣ cho bảo tồn Sao 4 la chiếm phần tƣơng đối, điển hình là dự án do chính phủ Hà Lan tài trợ 2,47 triệu đô la và dự án do liên minh Châu Âu tài trợ với kinh phí là 17 triệu đô la. Tuy nhiên, kết quả cho bảo tồn loài Sao la vẫn còn trong tình trạng “ bí ẩn”. Tính tới thời điểm hiện tại vẫn chƣa có một nghiên cứu cơ bản, thật sự lâu dài, có hệ thống và phƣơng pháp tin cậy đƣợc thực hiện để nghiên cứu về Sao la, đồng thời vai trò của sự tham gia của cộng đồng địa phƣơng lại không đƣợc coi trọng nên dẫn đến nguyên nhân bảo tồn không hiệu quả loài Sao la. Ngƣợc lại, theoRichard(1999) công tác bảo tồn loài vẹt Macao ở Pêru lại rất thành công nhờ áp dụng sinh học bảo tồn.

Họ đã nghiên cứu tập tính sinh học của chúng và tạo đƣợc công ăn việc làm cho dân địa phƣơng cũng nhƣ hỗ trợ tài chính đầy đủ cho các vƣờn quốc gia. Cộng đồng dân cƣ địa phƣơng cũng đã nhận thức đƣợc rằng những con vẹt Macao là một trong những nhân tố chính hỗ trợ thúc đẩy kinh tế tƣơng lai của họ chứ không chỉ là bữa ăn của ngày hôm nay và kết quả là đã huy động đƣợc sự tham gia tích cực của cộng đồng vào việc giữ gìn vẻ đẹp và chất lƣợng môi trƣờng của các vƣờn quốc gia và đó là điều minh chứng cho công tác bảo tồn chỉ đạt hiệu quả khi có sự phối hợp đa ngành thực hiện ngay từ đầu các vấn đề chính về sinh học, kinh tế, kinh tế - xã hội và quản lý thì mới giúp đƣợc vấn đề suy giảm đa dạng sinh học và tuyệt chủng loài.1 Các phƣơng pháp bảo tồn đa dạng sinh học Bảo tồn đa dạng sinh học ở tất cả các mức độ là duy trì một cách cơ bản các quần thể của các loài có thể thực hiện được hoặc các quần thể xác định được (Lê Trọng Cúc, 2002). Theo Richard (1999) chiến lƣợc tốt nhất nhằm bảo tồn lâu dài đa dạng sinh học là bảo tồn các quần xã và quần thể ngay trong điều kiện tự nhiên, một phƣơng thức thƣờng đƣợc nói đến là bảo tồn nguyên vị hay bảo tồn tại chỗ. Chỉ trong tự nhiên, các loài mới có khả năng tiếp tục quá trình thích nghi tiến hóa đối với môi trƣờng đang thay đổi trong các quần xã tự nhiên của chúng.

Tuy nhiên, đối với nhiều loài hiếm thì bảo tồn nguyên vị chƣa phải là giải pháp khả thi trong điều kiện những áp lực của con ngƣời ngày càng gia tăng. Nếu quần thể còn lại là quá nhỏ để 5 tiếp tục tồn tại, hoặc nếu nhƣ tất cả những cá thể còn lại đƣợc tìm thấy ở ngoài khu bảo vệ thì bảo tồn nguyên vị sẽ không có hiệu quả. Trong những trƣờng hợp này, giải pháp duy nhất để ngăn cho loài khỏi bị tuyệt chủng là bảo tồn các cá thể trong những điều kiện nhân tạo dƣới sự giám sát của con ngƣời. Chiến lƣợc này gọi là bảo tồn ngoại vi hay bảo tồn chuyển vị.

Bảo tồn chuyển vị và bảo tồn nguyên vị là những cách tiếp cận có tính bổ sung cho nhau. Những cá thể từ các quần thể đƣợc bảo tồn chuyển vị sẽ đƣợc thả định kỳ ra ngoài thiên nhiên để tăng cƣờng cho các quần thể đƣợc bảo tồn nguyên vị. Các quần thể chuyển vị mà có thể tự duy trì quần thể thì sẽ giảm với nhu cầu phải bắt các cá thể từ ngoài thiên nhiên để phục vụ mục đích trƣng bày hoặc nghiên cứu. Cuối cùng, việc những con vật đƣợc nuôi nhốt và trƣng bày sẽ góp phần giáo dục quần chúng về sự cần thiết phải bảo tồn loài cũng nhƣ bảo vệ các thành viên khác của loài đó ngoài tự nhiên.

Ngƣợc lại bảo tồn nguyên vị không thể thiếu đối với sự sống còn của những loài không thể nuôi nhốt, nhƣ loài tê giác chẳng hạn, cũng nhƣ để tiếp tục có các loài mới trƣng bày trong các vƣờn thú, thủy cung hay vƣờn thực vật.2 Hệ thống chính sách về bảo tồn ở Việt Nam Hiện nay đã có nhiều bộ luật quốc gia đã đƣợc ban hành nhằm bảo vệ đa dạng sinh học bao gồm: Luật số 17/2003/QH11 ngày 26/11/2003 của Quốc Hội ban hành luật thủy sản quy định về bảo vệ, sử dụng, khai thác, nuôi trồng và chế biến thủy sản. Trong đó, tại khoản 3 điều 8, chƣơng II đã nêu: Bộ thủy sản định kỳ quy định danh mục các loài bị cấm khai thác, hình thức khai thác, phạm vi khai thác để bảo tồn nhằm mục đích bảo tồn loài. Nhờ đó các KBT có vùng đất ngập nƣớc sẽ thực hiện công tác quản lý đồng thời cho phép ngƣời dân đƣợc phép khai thác nguồn lợi thủy sản của mình để phát triển kinh tế hộ gia đình theo các quy định ở khoản này. Luật số 29/2004/QH11 ngày 03/12/2004 của Quốc Hội ban hành luật bảo vệ và phát triển rừng.

Luật quy định rất cụ thể về quản lý, bảo vệ, phát triển, sử dụng 6 rừng, quyền và nghĩa vụ của chủ rừng. Đây là văn bản pháp luật đầu tiên đƣa ra những quy định chi tiết trong việc đồng quản lý tài nguyên rừng đƣợc thể hiện trong mục 2, chƣơng II tại luật này quy định về giao rừng, cho thuê rừng, thu hồi rừng, chuyển đổi mục đích sử dụng rừng. Từ đó đã tạo điều kiện cho sự phát triển kinh tế xã hội nói chung cho các hộ gia đình sống trực tiếp và gắn bó với rừng nói riêng. Luật số 20/2008/QH12 ngày 13/11/2008 của Quốc Hội ban hành luật đa dạng sinh học đƣa ra các điều quy định về bảo tồn và phát triển bền vững các loài sinh vật, luật cũng quy định về khu bảo tồn, phân cấp khu bảo tồn và những hành vi bị cấm trong khu bảo tồn.

Đặc biệt trong điều 30, mục 1, chƣơng 3 của luật này đã nêu quyền và nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân có hoạt động hợp pháp trong khu bảo tồn đƣa ra đƣợc ngoài trách nhiệm là quyền lợi ngƣời dân đƣợc hƣởng khi sống trong khu bảo tồn. Điều đó đã góp phần nâng cao hiệu quả công tác bảo tồn cũng nhƣ phát triển sinh kế cho ngƣời dân địa phƣơng. Nghị định số 117/2010/NĐ-CP, ngày 24/12/2010 của Chính phủ về tổ chức và quản lý hệ thống rừng đặc dụng đây là nghị định đƣợc xây dựng tƣơng đối hoàn chỉnh nhất từ trƣớc đến nay, thể hiện sự thông suốt về tổ chức và quản lý rừng và là dấu mốc quan trọng về chính sách pháp luật của Nhà nƣớc trong việc quản lý hệ thống rừng đặc dụng. Nghị định đáp ứng cơ chế, chính sách, là cơ sở cho các hoạt động bảo vệ, bảo tồn, duy trì phát triển các giá trị đặc biệt về thiên nhiên, mẫu chuẩn hệ sinh thái, đa dạng sinh học, nguồn gen sinh vật, di tích lịch sử, văn hóa, cảnh quan, nghiên cứu khoa học, cung ứng dịch vụ môi trƣờng rừng, góp phần giảm thiểu các tác động tiêu cực của biến đổi khí hậu và đảm bảo phát triển kinh tế, xã hội bền vững trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nƣớc.

Nghị định 18/ HĐBT ngày 7/1/1992 của Hội đồng Bộ trƣởng ban hành quy định danh mục thực vật rừng, động vật rừng quý hiếm và chế độ quản lý bảo vệ.Đây là văn bản pháp luật đầu tiên thống kê phân loại các loài động thực vật cần đƣợc bảo vệ và có sự phân rõ trách nhiệm, quyền hạn cho cơ quan tổ chức thực hiện là Bộ Lâm nghiệp. Nghị định đã tạo đƣợc bƣớc đột phá trong công tác bảo vệ đa dạng 7 sinh học. Đặc biệt bảng danh mục các loài và việc hình thành bản đồ xác định khu vực các loài cần bảo vệ và kiểm soát khai thác, đã giúp cho các nhà quản lý dễ dàng hơn trong công tác thực hiện thực thi nghị định này. Quyết định số24/2012/QĐ-TTg ngày 01/6/2012 của Thủ tƣớng Chính phủ về chính sách đầu tƣ phát triển rừng đặc dụng giai đoạn 2011 – 2020.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ