Tổng quan nghiên cứu
Phụ nữ Việt Nam chiếm hơn 50% tổng dân số cả nước và giữ vai trò trọng yếu trong sự phát triển kinh tế - xã hội. Tại huyện Mỹ Lộc, tỉnh Nam Định, tỷ lệ lao động nông nghiệp chiếm tới 54% dân số toàn huyện, trong đó phụ nữ chính là lực lượng sản xuất nòng cốt tại các làng quê. Thực tế điều tra sơ bộ cho thấy có khoảng 60% đến 70% nam giới trong độ tuổi lao động rời địa phương để làm việc tại các thành phố lớn hoặc khu công nghiệp. Bối cảnh này đặt lên vai người phụ nữ trọng trách kép: vừa cáng đáng toàn bộ công việc sản xuất nông nghiệp, quán xuyến kinh tế hộ gia đình, vừa trực tiếp tham gia đóng góp sức người, sức của vào Chương trình Mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới.
Mặc dù đóng góp của nữ giới là rất lớn, các nghiên cứu chuyên sâu đánh giá toàn diện vai trò, mức độ tham gia và những rào cản thể chế đối với phụ nữ trong tiến trình nông thôn mới tại địa bàn vẫn còn khoảng trống đáng kể. Luận văn thạc sĩ chuyên ngành Phát triển Nông thôn của tác giả Vũ Đức Luyện tại Học viện Nông nghiệp Việt Nam được thực hiện nhằm hệ thống hóa cơ sở lý luận, đánh giá thực trạng vai trò của phụ nữ và phân tích các nhân tố ảnh hưởng tại huyện Mỹ Lộc. Phạm vi nghiên cứu tập trung vào 3 xã điểm gồm Mỹ Tân, Mỹ Thành và Mỹ Thịnh trong khung thời gian từ tháng 9/2017 đến tháng 10/2018, kế thừa chuỗi dữ liệu phát triển giai đoạn 2012-2018. Kết quả nghiên cứu có ý nghĩa thực tiễn to lớn trong việc cung cấp luận cứ khoa học để hoàn thiện chính sách, góp phần thúc đẩy 7/11 xã đã đạt chuẩn tiếp tục nâng cao chất lượng tiêu chí, hỗ trợ các xã còn lại về đích đúng lộ trình năm 2019, đồng thời nâng mức thu nhập bình quân đầu người toàn huyện vượt mốc 32 triệu đồng/năm.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết áp dụng
Luận văn xây dựng trên nền tảng hai lý thuyết nền tảng về bình đẳng giới trong kinh tế học phát triển: tiếp cận Phụ nữ trong phát triển (WID - Women in Development) và tiếp cận Giới và phát triển (GAD - Gender and Development). Tiếp cận WID nhấn mạnh sự cần thiết phải đưa phụ nữ hòa nhập vào dòng chảy phát triển kinh tế thông qua việc tạo cơ hội việc làm, cải thiện thu nhập và tiếp cận các nguồn lực sản xuất. Trong khi đó, tiếp cận GAD mở rộng khung phân tích sang mối quan hệ quyền lực giữa nam và nữ, cơ cấu phân công lao động xã hội và quá trình trao quyền (empowerment) cho phụ nữ để họ trở thành chủ thể chủ động định hình tương lai cộng đồng. Cơ sở lý luận này kết hợp chặt chẽ với tư tưởng Hồ Chí Minh về giải phóng phụ nữ và các văn bản pháp lý then chốt của Nhà nước Việt Nam như Luật Bình đẳng giới năm 2006, Nghị quyết số 11-NQ/TW của Bộ Chính trị về công tác phụ nữ thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa, cùng Quyết định số 1980/QĐ-TTg về Bộ tiêu chí quốc gia về xã nông thôn mới giai đoạn 2016-2020.
Khung phân tích của đề tài xác lập hệ thống đánh giá 7 vai trò trụ cột của người phụ nữ nông thôn: tham gia Ban chỉ đạo xây dựng nông thôn mới cấp xã (nơi tỷ lệ nữ giới đạt 18,2%); tham gia quy hoạch tổng thể và lập kế hoạch phát triển; thực hiện công tác thông tin tuyên truyền; trực tiếp đóng góp nguồn lực đất đai, tiền của và ngày công; tiếp cận tiến bộ khoa học kỹ thuật mới; ra quyết định phát triển kinh tế gia đình; và thực hiện quyền kiểm tra, giám sát chất lượng các công trình phúc lợi. Đặc biệt, luận văn tích hợp cuộc vận động "Xây dựng gia đình 5 không, 3 sạch" do Hội Liên hiệp Phụ nữ phát động, vốn gắn trực tiếp với 8/19 tiêu chí nông thôn mới quốc gia.
Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu sử dụng kết hợp nguồn dữ liệu thứ cấp từ Niên giám thống kê huyện Mỹ Lộc giai đoạn 2012-2016 và báo cáo tổng kết của Ban chỉ đạo Nông thôn mới huyện với nguồn dữ liệu sơ cấp thu thập trực tiếp tại địa bàn. Phương pháp chọn mẫu phân tầng có chủ đích được triển khai tại 3 xã đại diện: Mỹ Tân (vùng sản xuất rau màu, hoa chuyên canh ven đô), Mỹ Thành (vùng thuần nông lúa nước kết hợp kinh tế trang trại) và Mỹ Thịnh (vùng chuyển đổi ngành nghề dịch vụ). Tổng cỡ mẫu điều tra bao gồm 120 hộ gia đình nông thôn cùng 30 cán bộ quản lý cấp xã, thôn và đại diện Hội Phụ nữ cơ sở.
Lý do lựa chọn phương pháp chọn mẫu phân tầng là nhằm đảm bảo tính đại diện cho các tiểu vùng sinh thái nông nghiệp và mức độ phát triển kinh tế khác nhau trên tổng diện tích tự nhiên 7.448,9 ha của huyện. Về xử lý dữ liệu, tác giả ứng dụng phương pháp thống kê mô tả (tính tần số, tỷ lệ phần trăm, giá trị trung bình) và thống kê so sánh để lượng hóa mức độ tham gia của phụ nữ. Đồng thời, các công cụ Đánh giá nông thôn có sự tham gia (PRA) như sơ đồ VENN và ma trận SWOT được áp dụng để phân tích mạng lưới tương tác thể chế và nhận diện điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội, thách thức. Toàn bộ tiến trình điều tra thực địa và xử lý dữ liệu hoàn thành trong mốc thời gian từ tháng 9/2017 đến tháng 10/2018, đảm bảo độ tin cậy và tính khoa học cao.
Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Những phát hiện chính
Thứ nhất, phụ nữ là lực lượng đi đầu trong việc huy động nguồn lực vật chất và ngày công lao động xây dựng cơ sở hạ tầng. Tại 3 xã điều tra điểm (Mỹ Tân, Mỹ Thành, Mỹ Thịnh), người dân và hội viên phụ nữ đã trực tiếp đóng góp 20,94 tỷ đồng tiền mặt, hiến 15.215 m2 đất nông nghiệp và thổ cư để mở rộng đường liên thôn, đồng thời đóng góp 14.832 ngày công lao động tham gia đào đắp kênh mương và làm đường giao thông nội đồng.
Thứ hai, phụ nữ khẳng định vai trò nòng cốt trong việc bảo vệ môi trường và kiến tạo cảnh quan nông thôn xanh - sạch - đẹp. Hội viên phụ nữ tại 3 xã đã trực tiếp đảm nhận trồng và chăm sóc 14.300 m đường hoa ven các trục đường chính, biến các bãi rác tự phát thành tuyến đường kiểu mẫu, tạo bước đột phá trong việc hoàn thành tiêu chí số 17 về môi trường.
Thứ ba, sự chủ động tiếp cận vốn và nâng cao quyền năng kinh tế hộ gia đình có chuyển biến vượt bậc. Thông qua kênh ủy thác của Hội Liên hiệp Phụ nữ với Ngân hàng Chính sách Xã hội, tổng dư nợ cho vay phát triển kinh tế hộ đạt hàng chục tỷ đồng. Hàng trăm hội viên đã mạnh dạn vay vốn chuyển đổi mô hình sang trồng hoa, cây cảnh công nghệ cao và chăn nuôi an toàn sinh học, đóng góp vào mức tăng trưởng GDP bình quân của huyện đạt 32 triệu đồng/người/năm.
Thứ tư, sự hiện diện của phụ nữ trong công tác quản lý và giám sát công trình có sự cải thiện rõ nét. Tỷ lệ phụ nữ tham gia Ban chỉ đạo xây dựng nông thôn mới cấp xã đạt 18,2%, tham gia tích cực vào các Ban giám sát đầu tư của cộng đồng để nghiệm thu từng hạng mục nhà văn hóa, đường trục thôn xóm.
Thảo luận kết quả
Thực trạng phụ nữ nắm vai trò chủ đạo trong xây dựng nông thôn mới tại Mỹ Lộc bắt nguồn từ sự phân công lao động khách quan khi 60% đến 70% nam giới đi làm ăn xa. Tuy nhiên, tỷ lệ phụ nữ nắm giữ vị trí lãnh đạo trong Ban chỉ đạo cấp xã (18,2%) vẫn còn khiêm tốn so với đóng góp thực tế. Điều này phản ánh tư tưởng định kiến giới truyền thống vẫn còn tồn tại ở một bộ phận cán bộ cơ sở và gia đình. Kết quả này tương đồng với các phát hiện tại huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh (nơi phụ nữ đóng góp ngày công lớn nhưng ít tham gia quy hoạch vĩ mô) và huyện Phụng Hiệp, tỉnh Hậu Giang (nơi phụ nữ kiểm soát nguồn lực hộ nhưng hạn chế quyền quyết định sản xuất lớn).
Ngược lại, kinh nghiệm quốc tế từ phong trào Mỗi làng một sản phẩm (OVOP) tại Nhật Bản cho thấy khi 339 nhóm phụ nữ chế biến nông sản được chính quyền trao quyền và hỗ trợ công nghệ, doanh thu toàn vùng đã tăng từ 35,9 tỷ yên lên 141 tỷ yên. Điều này khẳng định việc trao quyền kinh tế và nâng cao năng lực cho phụ nữ là chìa khóa then chốt. Dữ liệu khảo sát về mức độ tự quyết định của phụ nữ đối với các khoản đóng góp tự nguyện có thể được trực quan hóa sinh động qua biểu đồ tròn (Pie Chart) thể hiện 3 nhóm: vợ tự quyết, chồng quyết, và hai vợ chồng đồng thuận. Đồng thời, cấu trúc tương tác giữa Hội Phụ nữ với Đảng ủy, UBND và Đoàn Thanh niên được biểu diễn tối ưu qua Sơ đồ VENN, minh chứng rằng sự hỗ trợ của chính quyền là nhân tố quyết định hiệu quả hoạt động của các cấp hội.
Đề xuất và khuyến nghị
Thứ nhất, nâng cao tỷ lệ phụ nữ tham gia công tác lãnh đạo và điều hành. Ban Thường vụ Huyện ủy và UBND huyện Mỹ Lộc cần ban hành quy chế bắt buộc lồng ghép giới, nâng tỷ lệ cán bộ nữ trong Ban chỉ đạo xây dựng nông thôn mới cấp xã từ mức 18,2% hiện nay lên tối thiểu 30% trong giai đoạn 2019-2022, đảm bảo tiếng nói của phụ nữ trong mọi quyết định quy hoạch.
Thứ hai, mở rộng các chương trình đào tạo nghề và chuyển giao tiến bộ khoa học kỹ thuật. Trạm Khuyến nông huyện chủ trì phối hợp cùng Hội Liên hiệp Phụ nữ tổ chức định kỳ 15 đến 20 lớp tập huấn mỗi năm về kỹ thuật thâm canh rau an toàn, trồng hoa cao cấp và ứng dụng chế phẩm sinh học xử lý chất thải chăn nuôi, thu hút ít nhất 80% lao động nữ nông thôn tham gia trước năm 2021.
Thứ ba, tăng cường năng lực tiếp cận nguồn vốn ưu đãi và phát triển kinh tế tập thể. Chi nhánh Ngân hàng Chính sách Xã hội huyện ưu tiên nâng hạn mức cho vay qua tổ chức Hội Phụ nữ, phấn đấu tăng trưởng dư nợ ủy thác từ 12% đến 15% hàng năm. Song song đó, khuyến khích thành lập ít nhất 3 hợp tác xã hoặc tổ hợp tác do phụ nữ làm chủ tại mỗi xã vào năm 2020 nhằm nâng mức thu nhập của hội viên lên trên 45 triệu đồng/người/năm.
Thứ tư, đẩy mạnh phong trào tự quản môi trường gắn với cuộc vận động "Xây dựng gia đình 5 không, 3 sạch". Hội Liên hiệp Phụ nữ các xã tiếp tục nhân rộng thêm 20.000 m đường hoa tại các tuyến đường liên thôn, phấn đấu đạt tỷ lệ trên 95% hộ gia đình hội viên đạt chuẩn 8 tiêu chí của cuộc vận động vào cuối năm 2020.
Đối tượng nên tham khảo luận văn
Nhóm thứ nhất là các nhà hoạch định chính sách, cán bộ Ban chỉ đạo Chương trình Mục tiêu quốc gia xây dựng Nông thôn mới từ cấp huyện đến cơ sở. Luận văn cung cấp căn cứ thực tiễn để lồng ghép yếu tố giới vào 19 tiêu chí NTM và tối ưu hóa việc quản lý 20,94 tỷ đồng nguồn lực đóng góp trong dân.
Nhóm thứ hai là cán bộ Hội Liên hiệp Phụ nữ các cấp. Tài liệu này đóng vai trò như một cẩm nang nghiệp vụ quý báu, chia sẻ các bài học kinh nghiệm về phương thức vận động hội viên hiến đất, quy trình quản lý 14.300 m tuyến đường hoa tự quản và các mô hình quản lý vốn vay phát triển sản xuất.
Nhóm thứ ba là giảng viên, học viên cao học và sinh viên thuộc các chuyên ngành Phát triển Nông thôn, Kinh tế Nông nghiệp, Xã hội học và Giới trong Phát triển. Luận văn là tài liệu tham khảo học thuật chuẩn mực về việc ứng dụng khung phân tích WID, GAD và công cụ PRA (sơ đồ VENN, ma trận SWOT) trong nghiên cứu thực địa.
Nhóm thứ tư là các tổ chức phi chính phủ (NGO) và các dự án tài trợ phát triển cộng đồng. Báo cáo cung cấp bộ dữ liệu thực tế về thực trạng lao động nữ (chiếm 54% lực lượng lao động nông nghiệp) để xây dựng các dự án can thiệp sinh kế và nâng cao năng lực cho phụ nữ nông thôn.
Câu hỏi thường gặp
Tỷ lệ phụ nữ tham gia Ban chỉ đạo xây dựng nông thôn mới cấp xã tại Mỹ Lộc hiện nay là bao nhiêu?
Theo kết quả điều tra tại các xã khảo sát, tỷ lệ phụ nữ tham gia Ban chỉ đạo cấp xã đạt 18,2%. Mặc dù con số này cho thấy sự tham gia của nữ giới vào bộ máy lãnh đạo, nhưng vẫn cần tiếp tục nâng lên mức tối thiểu 30% để đảm bảo mục tiêu bình đẳng giới.
Phụ nữ huyện Mỹ Lộc đã đóng góp những nguồn lực cụ thể nào cho xây dựng nông thôn mới?
Tại 3 xã nghiên cứu điểm, phụ nữ cùng gia đình đã đóng góp 20,94 tỷ đồng tiền mặt, tự nguyện hiến 15.215 m2 đất thổ cư và đất canh tác, đồng thời trực tiếp đóng góp 14.832 ngày công lao động xây dựng các công trình hạ tầng công cộng.
Phong trào nào của phụ nữ tạo dấu ấn rõ nét nhất đối với tiêu chí môi trường?
Cuộc vận động "Xây dựng gia đình 5 không, 3 sạch" gắn với mô hình đường hoa phụ nữ tự quản đã mang lại hiệu quả vượt bậc. Chị em đã trực tiếp trồng và chăm sóc 14.300 m đường hoa ven các trục lộ chính, giúp hoàn thành xuất sắc tiêu chí môi trường số 17.
Đâu là những rào cản lớn nhất hạn chế vai trò của phụ nữ nông thôn tại địa bàn?
Rào cản lớn nhất gồm: gánh nặng công việc gia đình gia tăng khi 60% đến 70% nam giới đi làm ăn xa; trình độ chuyên môn, học vấn còn hạn chế; cùng tâm lý tự ti và thiếu cơ hội tiếp cận các lớp tập huấn kỹ thuật sản xuất hiện đại.
Luận văn đã rút ra những bài học kinh nghiệm quốc tế nào để áp dụng cho địa phương?
Luận văn đã nghiên cứu phong trào Saemaul Undong của Hàn Quốc và phong trào Mỗi làng một sản phẩm (OVOP) của Nhật Bản với 339 nhóm phụ nữ chế biến nông sản đạt doanh thu 141 tỷ yên, từ đó khuyến nghị đẩy mạnh mô hình hợp tác xã do phụ nữ làm chủ.
Kết luận
- Khẳng định phụ nữ là lực lượng lao động trụ cột (chiếm trên 54% lao động nông nghiệp) và giữ vai trò quyết định trong sự nghiệp xây dựng nông thôn mới tại huyện Mỹ Lộc.
- Ghi nhận những đóng góp ấn tượng của phụ nữ và nhân dân với 20,94 tỷ đồng kinh phí, 15.215 m2 đất hiến và 14.832 ngày công lao động tại 3 xã nghiên cứu điểm.
- Góp phần quan trọng giúp 7/11 xã đạt chuẩn nông thôn mới đến cuối năm 2017 và nâng cao chất lượng cảnh quan môi trường thông qua 14.300 m đường hoa phụ nữ tự quản.
- Chỉ rõ những nút thắt về tỷ lệ cán bộ nữ trong Ban chỉ đạo cơ sở (chỉ đạt 18,2%) và sự hạn chế trong việc tiếp cận khoa học kỹ thuật của lao động nữ.
- Đề xuất hệ thống 4 nhóm giải pháp toàn diện về thể chế, đào tạo nghề, vốn vay ưu đãi và truyền thông nhằm nâng tầm vị thế cho phụ nữ nông thôn.
Mục tiêu tiếp theo của huyện là tiếp tục hoàn thiện các tiêu chí để đưa toàn bộ các xã còn lại về đích trong giai đoạn 2018 - 2019, phấn đấu đạt chuẩn huyện nông thôn mới vào năm 2019. Hãy tham khảo và ứng dụng ngay những phân tích chuyên sâu cùng hệ thống giải pháp của luận văn này để xây dựng các chính sách phát triển nông nghiệp bền vững, nâng cao quyền năng kinh tế và thúc đẩy bình đẳng giới tại địa phương!