Mở đầu Chƣơng 1. Tổng quan các nghiên cứu về lồng ghép BĐKH trong quy hoạch sử dụng không gian Chƣơng 2. Cơ sở phƣơng pháp luận Chƣơng 3. Lồng ghép BĐKH vào quy hoạch sử dụng không gian khu kinh tế mở Nhơn Hội Kết luận và kiến nghị.
4 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU VỀ LỒNG GHÉP BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU TRONG QUY HOẠCH SỬ DỤNG KHÔNG GIAN 1.1 NGHIÊN CỨU VỀ TÁC ĐỘNG CỦA BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU 1.Thế giới: McGranahan& nnk (2006) cho r ng các khu định cƣ đô thị lớn có xu hƣớng tập trung nhiều hơn ở vùng ven biển, và có khoảng 65% các thành phố có dân số lớn hơn 5 triệu đƣợc đặt tại các khu vực này. Trên toàn cầu, có nhiều khu vực đông dân cƣ ven biển và các thành phố lớn n m dƣới mực nƣớc biển trung bình, dễ bị ngập lụt bởi nƣớc dâng do bão [79]. Thực tế cho thấy, các tác động tiềm tàng của BĐKH tại các khu vực khác nhau trên trái đất, đặc biệt là các thành phố ngày càng rõ rệt. Theo thống kê, khoảng một nửa dân số thế giới hiện đang sống ở các thành phố và mức độ tập trung sẽ tăng cao hơn nữa trong những năm tới [85].
Tác động tiềm tàng của BĐKH có ảnh hƣởng nghiêm trọng đến cơ sở hạ tầng đô thị nhƣ hệ thống giao thông, trong đó lũ lụt là một ví dụ về tác động tiềm năng nghiêm trọng trong khu vực đô thị vì mật độ dân số tƣơng đối cao [83]. Hai quan điểm về định lƣợng kinh tế của tác động BĐKH bao gồm: không gây tác động nhiều (William Nordhaus, Lomborg [86]) và quan điểm gây thiệt hại lớn (Nicolas Stern). Ủng hộ quan điểm của Stern, nhà kinh tế học Kenenth Arrow cho r ng, chúng ta cần hành động cắt giảm khí nhà kính ngay chứ không nên đƣơng đầu với rủi ro của việc trì hoãn hành động‖ (Arrow, 2007).Trong nƣớc: Chiến lƣợc quốc gia về BĐKH năm 2012 đã nêu rõ, BĐKH là một trong những thách thức lớn nhất đối với nhân loại. BĐKH sẽ tác động nghiêm trọng đến sản xuất, đời sống và môi trƣờng trên phạm vi toàn thế giới.
Nhiệt độ tăng, mực nƣớc biển dâng gây ngập lụt, gây nhiễm mặn nguồn nƣớc, ảnh hƣởng đến nông nghiệp, gây rủi ro lớn đối với Công nghiệp và các hệ thống KT-XH trong tƣơng lai. Vấn đề BĐKH đã, đang và sẽ làm thay đổi toàn diện và sâu sắc quá trình phát triển 5 và an ninh toàn cầu nhƣ năng lƣợng, nƣớc, lƣơng thực, xã hội, việc làm, ngoại giao, văn hóa, kinh tế, thƣơng mại. Việt Nam đƣợc đánh giá là một trong những quốc gia bị ảnh hƣởng nặng nề nhất của BĐKH; trong đó Đồng b ng sông Cửu Long là một trong ba đồng b ng trên thế giới dễ bị tổn thƣơng nhất do nƣớc biển dâng, bên cạnh đồng b ng sông Nile (Ai Cập) và đồng b ng sông Ganges (Bangladesh). Tác động của BĐKH đối với nƣớc ta là rất nghiêm trọng, là nguy cơ hiện hữu cho mục tiêu xóa đói giảm nghèo, cho việc thực hiện các mục tiêu thiên niên kỷ và sự phát triển bền vững của đất nƣớc.
Nghiên cứu ―Tác động của BĐKH lên hệ sinh thái và phát triển nông thôn vùng đồng b ng sông Cửu Long‖, trong đó, xác định BĐKH làm suy giảm chất lƣợng tự nhiên, tác động tiêu cực đến KT-XH, làm thay đổi cán cân thức ăn trong sinh quyển, làm mất tính ĐDSH, suy kiệt đất và rừng. ĐBSCL sẽ bị ảnh hƣởng rất rõ rệt bởi BĐKH và NBD và có thể phỏng đoán trong tƣơng lai. Điều này khiến các quy hoạch đô thị bị phá vỡ, trật tự xã hội sẽ bị thử thách, môi trƣờng đô thị sẽ bị xấu đi (Lê Anh Tuấn, 2009) [42]. Nguyễn Quang Hồng (2010) với ―Phân tích kinh tế biến đổi khí hậu‖ tại Hội thảo ―Giải pháp thích nghi với biến đổi khí hậu tại Đồng b ng sông Cửu Long‖ ở Kiên Giang năm 2010 đã đánh giá tác động của BĐKH tới các ngành kinh tế, môi trƣờng và ĐDSH; nông-lâm nghiệp, Công nghiệp, cơ sở hạ tầng, giao thôngvà các ngành dịch vụ [18].26/06-10 ―Đánh giá mức độ suy thoái các hệ sinh thái vùng ven bờ biển Việt Nam và đề xuất các giải pháp quản lý bền vững‖ do TS.
Nguyễn Huy Yết làm chủ nhiệm thực hiện đã đƣợc hoàn thành năm 2010 [58]. Đề tài đã giải quyết đƣợc 3 mục tiêu chính là: (1) Xây dựng đƣợc bộ tƣ liệu đầy đủ và hệ thống về hiện trạng các hệ sinh thái ven bờ biển Việt Nam; (2) Xây dựng đƣợc luận chứng khoa học đánh giá nguyên nhân, mức độ suy thoái và dự báo xu thế biến động của các hệ sinh thái cùng ven bờ biển Việt Nam; (3) Đề xuất các giải pháp ngăn ngừa sự suy thoái các hệ sinh thái chủ yếu vùng ven bờ Việt Nam. Trong đó, tập thể tác giả đã nghiên cứu những tác động của BĐKH NBD tới sự suy thoái của 6 các hệ sinh thái (HST) ven biển rạn san hô, cỏ biển và rừng ngập mặn (RNM) và xây dựng đƣợc bộ tiêu chí đánh giá mức độ suy thoái của các HST này. Đây là những kết quả quan trọng góp phần đánh giá ảnh hƣởng của BĐKH NBD đến các HST phục vụ công tác bảo tồn các HST.
Bùi Xuân Thông (2010) trong báo cáo ―Xác định cơ sở khoa học và các giải pháp công trình bảo vệ bờ biển, đảo Việt Nam thích ứng BĐKH và giảm nhẹ thiên tai‖ (Tuyển tập Hội thảo Quốc gia ―Phục hồi và quản lý hệ sinh thái rừng ngập mặn trong bối cảnh biến đổi khí hậu‖, Cần Giờ-TP Hồ Chí Minh) đã đánh giá RNM có giá trị to lớn trong việc triết giảm năng lƣợng sóng, và chống xói lở bờ biển. Nghiên cứu cơ sở lý thuyết và xây dựng mô hình giảm năng lƣợng sóng qua RNM cũng trình bày kết quả nghiên cứu về phƣơng pháp định lƣợng hóa tác động của sóng, mực nƣớc biển dâng đối với độ cao thiết kế đê khi có tác động của các nhóm RNM tại khu vực đê biển [34]. Nguyễn Hoàng Trí (2010) trong tham luận ―Vai tr của các khu dự trữ sinh quyển trong bối cảnh BĐKH‖ - Tuyển tập Hội thảo Quốc gia ―Phục hồi và quản lý hệ sinh thái rừng ngập mặn trong bối cảnh BĐKH‖[41], đã đề cao vai tr của các khu dự trữ sinh quyển (DTSQ) góp phần bảo vệ các nguồn tài nguyên thiên nhiên (nƣớc, năng lƣợng, nông nghiệp và đa dạng sinh học); kiểm soát những tác động có hại của hiện tƣợng thay đổi khí hậu; phát triển nông thôn bền vững; đô thị hóa bền vững; ph ng chống và giảm nhẹ thiên tai. Về mặt kinh tế, khu DTSQ góp phần xóa đói giảm nghèo, nâng cao tinh thần và trách nhiệm tập thể trong các hoạt động kinh tế; phát triển kinh tế đi đôi với bảo vệ môi trƣờng và bảo đảm công b ng xã hội.Trong l nh vực giảm thiểu và thích ứng với BĐKH, các khu DTSQ góp phần quan trọng trong quá trình điều phối cũng nhƣ thực thi các chiến lƣợc Quốc gia về ứng phó với BĐKH (UNESCO 1996, 2005).
Năm 2011, Tổng cục Môi trƣờng đã hoàn thành báo cáo ―Điều tra, đánh giá và cảnh báo biến động của các yếu tố khí tƣợng thuỷ văn và sự dâng cao mực nƣớc biển do biến đổi khí hậu có nguy cơ gây tổn thƣơng tài nguyên - môi trƣờng (TNMT) vùng biển và dải ven biển Việt Nam, đề xuất các giải pháp ph ng tránh và 7 ứng phó‖. Trong báo cáo đã phân tích, đánh giá biến động, xu thế và qui luật hoạt động của các yếu tố khí tƣợng, thủy văn gây tổn thất TNMT trong mối liên hệ với sự BĐKH, trong đó khẳng định bão, áp thấp nhiệt đới, gió mùa, thủy triều là các nhân tố chính tạo ra sự dâng rút của mực nƣớc biển. Năm 2010, Viện Khoa học Khí tƣợng thủy văn và biến đổi khí hậu đã công bố ―Biến đổi khí hậu và tác động ở Việt Nam‖, sản phẩm chính của đề tài KC.13/06-10 đã cung cấp cái nhìn tổng quát và toàn diện về BĐKH, NBD, bao gồm các thuật ngữ, các kiến thức cơ bản về BĐKH nói chung; các biểu hiện BĐKH ở Việt Nam trong giai đoạn qua, các kịch bản BĐKH, tác động của BĐKH và các giải pháp chiến lƣợc ứng phó với BĐKH tại Việt Nam. Tài liệu này cũng giới thiệu một số các phƣơng pháp nghiên cứu về BĐKH tại Việt Nam nhƣ phƣơng pháp nghiên cứu biểu hiện của BĐKH, phƣơng pháp đánh giá tác động của BĐKH và phƣơng pháp xây dựng các giải pháp thích ứng với BĐKH [47].
Gần đây, trong khuôn khổ Chƣơng trình khoa học và Công nghệ phục vụ Chƣơng trình mục tiêu Quốc gia ứng phó với biến đổi khí hậu giai đoạn 2011 – 2015, đề tài ―Nghiên cứu ảnh hƣởng của BĐKH đến sự biến đổi tài nguyên nƣớc Đồng b ng sông Cửu Long‖ do PGS.TS Trần Hồng Thái là chủ nhiệm đã xác định đƣợc diễn biến hạn hán, ngập lụt vùng ĐBSCL trong những năm gần đây và đánh giá đƣợc những tác động tiềm tàng của BĐKH ở ĐBSCL gồm: thiếu hụt nguồn nƣớc, ngập lụt tác động đến quỹ đất (theo các mức ngập ≥ 0,25m, ≥ 0,75m, ≥ 1,5m) và d ng chảy theo mùa, từ đó xây dựng bản đồ ngập đối với các loại quỹ đất [31]. Đề tài cũng đã áp dụng mô hình ADCIRC của Hoa Kỳ để tính toán dao động mực nƣớc tại các điểm ven bờ, nh m đƣa ra một cách định lƣợng dự tính mực nƣớc biển trong tƣơng lai. Từ đó, đƣa ra đƣa ra 5 giải pháp khai thác, sử dụng và bảo vệ tài nguyên nƣớc của ĐBSCL trong bối cảnh BĐKH đang diễn ra phức tạp, gồm: quy hoạch tập trung vào các công trình quản lý lũ và những công trình phục vụ lấy nƣớc tƣới - tiêu; xây dựng đê biển dọc bờ biển Đông và bờ biển Tây, các cống ngăn xâm ngập mặn; chuyển đổi sử dụng đất và cơ cấu cây trồng vật nuôi: lựa chọn giống thích hợp, giống kháng mặn, giống bố trí lại mùa vụ xen giữa trồng cây và nuôi 8 trồng thủy hải sản (mô hình lúa - tôm sú, lúa - cá nƣớc lợ .); biện pháp tích trữ nƣớc mƣa theo quy mô gia đình và bảo vệ môi trƣờng; hợp tác quốc tế: thúc đẩy Ủy hội Mê Công quốc tế về giám sát tài nguyên nƣớc, giám sát thiên tai liên quan đến nƣớc, chia sẻ nguồn nƣớc giữa các quốc gia, không chia sẻ nguồn nƣớc sông Mê Công cho các lƣu vực khác. Trong khi đó, đề tài ―Nghiên cứu, đánh giá biến động đƣờng bờ biển các tỉnh Nam Bộ dƣới tác động của BĐKH và mực NBD‖ do PGS.