CHƯƠNG I CO SO LY THUYET 1.1 Các quan niệm về lỗi Lỗi và các vấn đề liên quan đến lỗi trong quá trình học ngoại ngữ đã được rất nhiều nhà nghiên cứu trên thế giới quan tâm, dựa trên kết quả nghiên cứu của các ngành tâm lý học, tâm lý học ngôn ngữ, ngôn ngữ học, ngôn ngữ học ứng dụng, ngôn ngữ học đối chiếu. Chính vì vậy mà đã có rất nhiều quan niệm khác nhau về lỗi khác nhau khi nhìn nhận dưới những góc độ khác nhau. Các nhà nghiên cứu theo thuyết hành vi và cấu trúc luận dựa trên cơ sở lí thuyết của các nhà tâm lý học nỗi tiếng như Thorndike (1932), Skinner (1957). Theo đó, hành vi của con người diễn ra theo trình tự: kích thích để tạo ra hành vi, phản ứng và củng cố nhằm khẳng định sự phù hợp (hay không phù hợp) của phản ứng, khuyến khích sự lặp lại (hoặc làm mắt đi) phản ứng trong tương lai để hình thành thói quen.
Việc học ngoại ngữ cũng là một sự hình thành thói quen theo trình tự như trên. Kết quả nghiên cứu thuyết hành vi của các nhà nghiên cứu tâm lý học theo thuyết hành vi cùng với các nhà ngôn ngữ học cấu trúc trở thành cơ sở lí thuyết cho sự hình thành hướng dạy học theo khuynh hướng cấu trúc — coi việc học ngoại ngữ là một quá trình hình thành thói quen một cách máy móc. Và dưới cái nhìn của các nhà nghiên cứu theo hướng cấu trúc thì lỗi trong quá trình học tiếng là không được chấp nhận và phải được ngăn chặn bằng mọi giá bởi vì lỗi là những biểu hiện không tốt cho việc học tiếng một cách có hiệu quả và là những nhân tố ngăn cản việc hình thành thói quen sử dụng đúng ngôn ngữ đích. Còn đối với các nhà ngôn ngữ học chức năng, họ có xu hướng đề cao chức năng giao tiếp của ngôn ngữ, phát triển năng lực giao tiếp cần thiết 10 hơn là chỉ nắm vững các cấu trúc, năng lực giao tiếp trở thành một mục tiêu chính của việc dạy và học tiếng.
Chính vì vậy mà dưới cái nhìn của các nhà ngôn ngữ học chức năng, việc người học tiếng mắc lỗi được coi là đương nhiên và có thể bỏ qua trong quá trình giao tiếp, miễn là người nói diễn đạt được điều họ muốn nói. Các nhà tâm lý và tâm lí học ngôn ngữ cũng có cái nhìn khác về lỗi trong quá trình học tiếng. Quá trình học tiếng không đơn giản là bắt chước, có kích thích là có phản ứng mà nó còn chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố bên trong và bên ngoài, có thể là tâm lý, độ tuổi, môi trường học. Bằng chứng là khi nghiên cứu quá trình thụ đắc ngôn ngữ của trẻ em trước tuôi dậy thì, các nhà nghiên cứu phát hiện ra rất nhiều lỗi sáng tạo.
Sự xuất hiện của những lỗi này là đương nhiên và nó sẽ mắt đi trong quá trình thụ đắc ngôn ngữ của trẻ. Các nhà ngôn ngữ học đối chiếu thì quan tâm đến việc so sánh đối chiếu giữa ngôn ngữ và văn hóa của tiếng mẹ đẻ với ngôn ngữ và văn hóa của ngôn ngữ đích nhằm tìm ra sự khác biệt giữa hai hệ thống, từ đó đưa ra những dự báo về khó khăn và những lỗi người học có thể mắc phải trong quá trình học ngoại ngữ. Đối với họ, việc phân tích đối chiếu này là cần thiết nhằm giúp cho người học đạt hiệu quả cao trong quá trình học và sử dụng ngôn ngữ đích. Dưới góc độ giao tiếp liên văn hóa thì kiến thức ngôn ngữ là yếu tố làm nền tảng cho việc đạt được hiệu quả giao tiếp.
Ngoài ra, đối tượng giao tiếp còn phải đạt được kỹ năng giao tiếp và những hiểu biết văn hóa của ngôn ngữ đích để có thể hiểu được ý nghĩa của những thông tin tiếp nhận một cách chính xác. Nếu yếu kém về một trong ba yếu tố này thì quá trình giao tiếp sẽ không đuợc xem là hiệu quả. Các quan niệm trên của các nhà nghiên cứu đã cho chúng ta một cái nhìn tổng thê về lỗi và sự khác biệt trong cách đánh giá lỗi. Đây là một điều 11 vô cùng cần thiết trước khi xác định và phân loại lỗi để tìm ra biện pháp hữu hiệu xử lí lỗi hiệu quả và triệt dé.2 Nguyên nhân tạo lỗi Các nhà nghiên cứu đều thừa nhận sự có mặt của lỗi trong quá trình học ngoại ngữ, xuất phát từ những nguyên nhân khác nhau.
Xét trên bình diện ngôn ngữ học, nguyên nhân sâu xa của lỗi chính là sự khác nhau giữa tiếng mẹ đẻ và ngôn ngữ đích trên nhiều bình diện: văn tự, ngữ âm, ngữ pháp. Sự khác nhau này là một rào cản lớn đối với người học. Nó được xem là nguyên nhân chủ chốt gây ra lỗi ở người học ngoại ngữ. Quá trình nghiên cứu và phân tích lỗi đã chứng minh được rằng người học ngoại ngữ mắc phải lỗi không chỉ là do sự khác nhau giữa ngôn ngữ của người học và ngôn ngữ đích mà còn đến từ nhiều nguyên nhân khác.
Xét trên bình diện tâm lý học, khi học ngoại ngữ, người học thường có thói quen chuyên di tiếng mẹ đẻ theo ca hai hướng tích cực và tiêu cực. Nghĩa là trong quá trình tiếp thu ngôn ngữ thứ hai, người học có xu hướng áp dụng những nguyên tắc trong ngôn ngữ mẹ đẻ vào ngôn ngữ đích. Nói cách khác, đây chính là sự chuyên di kiến thức mà người học đã biết được từ tiếng mẹ đẻ sang ngôn ngữ đích. Sự chuyển di tiêu cực gây ra những lỗi không nhỏ, thậm chí rất khó sửa vì người học áp dụng nguyên tắc của ngôn ngữ mẹ đẻ mà mình hiểu biết vào ngôn ngữ đích, trong khi những nguyên tắc ấy không phù hợp với ngôn ngữ đích.
Bên cạnh đó, yếu tổ văn hóa cũng có sự ảnh hưởng không nhỏ đến việc tiếp nhận và thấu hiểu vấn đề của người học. Sự chỉ phối và thói quen văn hóa dân tộc khiến người học có những cách học và cách nhìn nhận vẫn 12 đề khác nhau. Sự bất đồng văn hóa — nghĩa là sự khác nhau về cách tri nhận van dé, đặc trưng tâm lý, phong tục tập quán, cách diễn đạt một sự vật, hiện tượng. sẽ tạo ra những cản trở và khó khăn nhất định cho người học trong việc nắm bắt vấn đề khi học.
Thực tế cho thấy những học viên đến từ những nền văn hóa gần với văn hóa của ngôn ngữ đích hiểu vấn đề nhanh hơn do có những sự tương đồng nảo đó trong văn hóa. Ngoài ra còn có một số nguyên nhân chủ quan từ người học trực tiếp tác động đến việc hình thành lỗi như độ tuổi, kiến thức về ngôn ngữ của người học, mục đích học. Độ tuôi của người học có ảnh hưởng không nhỏ đến quá trình thụ đắc ngoại ngữ. Thực tế cho thấy người học có độ tuổi càng lớn thì khả năng tiếp thu ngôn ngữ càng giảm.
Như vậy người lớn tuổi hơn sẽ gặp khó khăn hơn và có nguy cơ mắc nhiều lỗi hơn khi học ngôn ngữ thứ hai, nhất là ở giai đoạn phát âm, khi mà các cơ quan phát âm đã quen thuộc với cấu âm của tiếng mẹ đẻ. Lỗi có thê do trình độ, kiến thức về ngôn ngữ chung của người học gây ra. Trong quá trình dạy tiếng, chúng ta có thể thấy rằng mặc dù ở độ tuổi tương đương nhau nhưng những người có kiến thức tốt về ngôn ngữ, đồng thời có khả năng bắt chước ngữ âm tốt sẽ ít chịu ảnh hưởng về mặt ngữ âm và âm vị trong tiếng mẹ đẻ của họ hơn khi học phát âm. Vì vậy những người này sẽ ít mắc lỗi phát âm hơn.
Đồng thời những người đã sử dụng thành thạo một ngoại ngữ nảo đó thì khi học tiếp một ngoại ngữ nữa chắc chắn sẽ học nhanh hơn và ít mắc lỗi hơn những người mới học ngoại ngữ lần đầu. Ngoài ra, mục đích học rõ ràng cũng sẽ góp phần quan trọng trong việc tạo ra thái độ tích cực cho người học, nhờ đó mà giảm thiểu lỗi và giúp họ học tốt hơn và nhanh hơn những người không có mục đích. 13 Việc dạy ngoại ngữ không phải là việc đơn giản, nhất là ở giai đoạn phát âm. Sự hạn chế về kiến thức của ngôn ngữ giảng dạy hay sự yếu kém về phương pháp giảng dạy của giáo viên cũng đều là những nguyên nhân gây ra lỗi cho người học.
Ngoài ra, yếu tố tiếng địa phương của người dạy cũng gây ra nhiều khó khăn cho người học trong quá trình học phát âm.3 Phân loại lỗi S. Pit Corder (1974) xem xét van đề lỗi từ nhiều góc độ khác nhau. Ông không những là người đầu tiên phân loại lỗi dựa vào năng lực ngôn ngữ và việc thể hiện các năng lực ngôn ngữ đó qua việc sử dụng ngôn ngữ của người học mà ông còn chỉ ra những khó khăn trong việc xác định những lỗi tiếp nhận và lỗi sản sinh trong quá trình giao tiếp. Nhìn từ góc độ ngôn ngữ, ông chia thành lỗi hiển thị và lỗi ân.
Lỗi hiển thị có thể dễ dàng nhận ra qua hình thức bên ngoài của cấu trúc phát ngôn còn lỗi ẩn thì khó phát hiện hơn, bởi lỗi nằm ở sự không phù hợp với ngữ cảnh hoặc vi phạm quy tắc nói. Ngoài ra ông còn quan tâm đến lỗi ở các giai đoạn khác nhau của quá trình học ngoại ngữ. Chính vì vậy ông chia lỗi thành lỗi trước hệ thống, lỗi hệ thống và lỗi sau hệ thống. Lỗi trước hệ thống xuất hiện khi người học chưa ý thức được sự tồn tại của một quy tắc nào đó trong ngôn ngữ đích và xảy ra không theo quy luật.
Lỗi hệ thống xảy ra khi người học đã nhận ra quy tắc của ngôn ngữ đích nhưng đó là quy tắc sai. Lỗi sau hệ thống xuất hiện khi người học đã nhận biết được chính xác các quy tắc của ngôn ngữ đích nhưng lại vận dụng không nhất quán [9; 15]. Dựa vào biểu hiện tính chất lỗi, M. Jain (1969) phân làm 2 loại là lỗi hệ thống và lỗi bất hệ thống.
Lỗi hệ thống được xem là những lỗi mà người học thường xuyên mắc phải trong quá trình sử dụng ngôn ngữ thứ 14 hai. Lỗi bất hệ thống thể hiện mức độ mắc phải lỗi của người học là không thường xuyên và tùy thuộc vào hoàn cảnh mới xuất hiện [22; 62]. Richards (1971b) cho lỗi là kết quả của sự chuyển di. Ông và các đồng tác giả phân biệt 3 loại lỗi chính: lỗi giao thoa, lỗi tự ngữ đích và lỗi phát triển [9; 14].
Dựa vào nguyên nhân phạm lỗi, L.