mở đầu năm 820. Tì Ni Đa Lưu Chi là đồ đệ của Tăng Xán, tổ thứ ba của Thiền tông Trung Quốc. Còn Vô Ngôn Thông là học trò của Bách Trượng Hoài Hải phái Nam Nhạc. Như vậy dòng Thiền Tì Ni Đa Lưu Chi thuộc giai đoạn trước Huệ Năng còn dòng Thiền Vô Ngôn Thông là giai đoạn Thiền tông Huệ Năng.
Thiền phái Vô Ngôn Thông được truyền thừa trong thời gian bốn thế kỷ (từ đầu thế kỷ thứ IX đến đầu thế kỷ thứ XIII), trong khi Thiền phái Tì Ni Ða Lưu Chi có một lịch sử truyền thừa dài sáu thế kỷ (từ thế kỷ thứ VI đến thế kỷ thứ XIII). Thiền phái Vô Ngôn Thông chịu ảnh hưởng Phật giáo Trung Hoa sâu đậm hơn thiền phái Tì Ni Ða Lưu Chi. Ảnh hưởng này được thấy trong lối trình bày lịch sử Thiền, trong lối tổ chức tu viện, trong việc sử dụng thoại đầu, và cả ở mức độ chịu ảnh hưởng của Tịnh Ðộ giáo. Các Thiền sư trong Thiền phái này thay vì chỉ dùng các kinh át Nhã, đã sử dụng rất nhiều các kinh điển khác như kinh Viên Giác, háp Hoa, họ nhấn mạnh đến chủ trương đốn ngộ và vô đ c vốn rất gần gũi với giáo lý Thiền phái Nam Phương ở Trung Hoa.
Thiền phái Tì Ni Đa Lưu Chi với tư tưởng Đại Thừa bắt nguồn từ kinh át Nhã, Hoa Nghiêm, có khuynh hướng thần thuật của Mật giáo. Các Thiền sư sử dụng những phương thuật sấm vĩ và 17 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com chủ trương bất lập văn tự nhưng vẫn chú trọng nghiên cứu kinh điển, truyền thụ tâm ấn và có khuynh hướng nhập thế giúp dân, chịu ảnh hưởng của Phật giáo Ấn Độ hơn là Phật giáo Trung Hoa. Dòng Thiền này dễ được dân tin theo vì vừa biểu lộ được sinh hoạt tâm linh siêu việt của Phật vừa phù hợp với đời sống thực tế và giản đơn của quần chúng. Nhưng khác với Thiền phái ở Trung Hoa, ở Việt Nam hai Thiền phái Vô Ngôn Thông và Tì Ni Đa Lưu Chi rất gần gũi với đời sống xã hội, tham dự vào đời sống thế tục trong khi vẫn duy trì được sinh hoạt tâm linh độc lập của mình.
Như vậy thời Lý tồn tại ba dòng Thiền chính: Tì Ni Đa Lưu Chi, Vô Ngôn Thông, Thảo Đường. Trong đó hai dòng Thiền Tì Ni Đa Lưu Chi và Vô Ngôn Thông phổ biến rộng rãi hơn và để lại dấu ấn rõ nét hơn trong đời sống văn hóa - tinh thần của đất nước. Đạo Phật thịnh đạt nhất dưới thời Lý, được coi là Quốc giáo. Hầu hết các vua Lý (Thái Tổ, Thái Tông, Thánh Tông, Nhân Tông, Thần Tông, Anh Tông) đều sùng Phật, sai dựng chùa tháp, tô tượng đúc chuông, dịch kinh Phật, soạn sách Phật… Như năm 1031, vua Lý xuống chiếu phát tiền, thuê thợ làm chùa quán ở các hương ấp, tất cả 150 nơi.
Nhiều quý tộc tôn thất đã quy Phật như Hoàng hậu Ỷ Lan, Tuệ Trung thượng sĩ Trần Tung. Khắp nơi, nhiều chùa chiền đã được xây dựng như các chùa Diên Hựu (Một Cột), Phật Tích, Long Đội, Báo Thiên, Bối Khê. Phần lớn các công trình này đã được triều đình tài trợ. Đông đảo quần chúng bình dân trong làng xã nô nức theo đạo Phật.
Lê Quát sống vào cuối đời Trần, nhận xét :“Từ trong kinh thành cho đến ngoài châu phủ, kể cả những nơi thôn cùng ngõ hẻm, không bảo mà người ta cứ theo, không hẹn mà người ta cứ tin, hễ 18 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com nơi nào có nhà ở là ắt có chùa chiền… Dân chúng quá nửa nước là sư…”. [38; tr 109] Các Thiền sư thời Lý, ngoài vai trò hướng dẫn tâm linh, hoằng dương Phật Pháp, còn là những nhà giáo dục lỗi lạc. Họ đã góp công dạy bảo người đời, đào tạo những thế hệ tri thức cởi mở, không những thông hiểu Phật pháp mà cả Lão, Nho để trở thành hiền tài giúp nước, để sống với ý thức trách nhiệm làm người chứ không phải làm quan để mưu cầu danh lợi phú quý. Ngoài Thiền sư Vạn Hạnh, sách Thiền uyển tập anh ghi lại, người theo học với Thiền sư Định Hương, Thiền sư Mãn Giác, Thiền sư Không Lộ… cũng đông đến hàng nghìn người.
Các Thiền sư không chỉ truyền dạy giáo lý nhà Phật mà còn dạy học trò những tri thức về xã hội, định hướng một cuộc cải cách giáo dục phóng khoáng. Mỗi ngôi chùa thời Lý là một diễn đàn, một chốn học đường, số người học không những chỉ thường dân mà còn có cả con em của hoàng gia, quý tộc. Một số Thiền sư đắc đạo và có học vấn uyên bác thời này được các vua Lý hết sức trọng dụng. Có vị là thầy dạy của vua và được phong làm Quốc sư.
Dưới thời Lý một loạt Thiền sư được ban hiệu Quốc sư như Vạn Hạnh, Viên Chiếu, Thông Biện, Viên Thông, Không Lộ. Vai trò chủ yếu của các Quốc sư thời Lý là những cố vấn đắc lực giúp vua hiểu biết về giáo lý đạo Phật, ngoài ra khi cần các Quốc sư còn cố vấn cho vua những vấn đề về chính trị, ngoại giao, quân sự, văn hóa. Các Thiền sư cũng trực tiếp tham dự chính sự qua việc trực tiếp thiết lập các kế hoạch, thảo văn thư, tiếp sứ thần, bàn luận cả những vấn đề về quân sự. Tuy can dự vào chính sự nhưng Thiền sư không hề chủ trương tham gia chính quyền nên sau đó, khi triều đình đã vững mạnh hơn, có thể tự mình gánh vác tất cả, thì họ lại tự nhiên lui về với chức năng vốn có của 19 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com mình, là hướng dẫn tinh thần và đạo đức, lui về với việc tu đạo của mình khi nhiệm vụ đối với quốc gia, với quảng đại quần chúng đã hoàn thành.
Có thể thấy dưới thời Lý, “dân chúng quá nửa là sư”, tầng lớp chiếm vị trí quan trọng nhất trong đời sống chính trị - văn hóa - xã hội lúc đó là tăng lữ, trong đó có những Thiền sư được phong là Quốc sư, có những đóng góp tích cực và to lớn vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc, củng cố bộ máy nhà nước vững mạnh. Bên cạnh đó các Thiền sư cũng đóng góp nhiều trong lĩnh vực văn hóa, họ chính là chủ thể sáng tạo ra nhiều giá trị văn hóa, tinh thần như: thơ, kệ, văn bia,… 20 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com TIỂU KẾT Trong Chương 1 của luận văn, chúng tôi đã cung cấp những kiến thức cơ bản nhất về Phật học, Thiền học, Thiền sư đặc biệt là Thiền học và Thiền sư dưới triều Lý. Đạo Phật với tư cách là một học thuyết lớn và sớm nhất được truyền bá rộng rãi ở các nước phương Đông với thế giới quan và nhân sinh quan có nhiều điểm tiến bộ, gần gũi với đại đa số quần chúng nhân dân. Khi truyền vào Việt Nam đạo Phật phát triển qua các giai đoạn chủ yếu là Phật phái Thiền tông.
Thiền tông Việt Nam có sự kết hợp với Mật tông và Tịnh Độ tông, tạo nên một Thiền học mang đậm bản sắc dân tộc, đáp ứng phần nào nhu cầu tâm linh của người Việt bấy giờ. Mặt khác Thiền tông kết hợp với tín ngưỡng dân gian bản địa nên nhanh chóng bắt rễ trong quần chúng, được quần chúng tin theo. Do đó số người theo đạo Phật, tu theo Phật phái Thiền tông ngày càng đông. Dưới thời Lý, đạo Phật cực thịnh đến mức trở thành Quốc giáo, chùa chiền được xây dựng khắp nơi, người người tu đạo, nhà nhà theo đạo, nhà chùa trở thành nơi quy tụ đông đảo tầng lớp nhân dân tu đạo và học tập, sinh hoạt tôn giáo.
Các Thiền sư thời Lý, đa số dùng cả cuộc đời phụng sự sự nghiệp hoằng dương Phật pháp. Tuy nhiên do đặc thù lịch sử, khi đó là giai đoạn đầu dựng nước và giữ nước nên có một bộ phận các Thiền sư ở thời điểm nào đó trong cuộc đời ngoài việc tu đạo, giáo hóa chúng sinh còn tham gia tích cực vào công cuộc xây dựng đất nước, phát triển vương triều phong kiến, rất nhiều vị được biết đến như là một nhà chính trị - quân sự đại tài. 21 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 2: THIỀN SƢ VÀ TU ĐẠO CẦU GIẢI THOÁT Như Chương 1 chúng tôi đã trình bày, đạo Phật dưới thời Lý được coi là Quốc giáo, dân chúng quá nửa nước là sư sãi, nhà chùa không chỉ là nơi sinh hoạt tâm linh mà còn là môi trường sinh hoạt văn hóa - xã hội của đại bộ phận nhân dân, thậm chí nó còn thu hút cả những bậc quân vương, người trong hoàng tộc. Tới Chương 2 này chúng tôi tiếp tục mô tả lại cuộc đời tu đạo và sự nghiệp hoằng dương Phật Pháp cũng như công trạng trong việc dựng nước, lập triều của các bậc anh tú vườn Thiền nhằm làm rõ những khuynh hướng ứng xử của các Thiền sư với đạo Phật và với thế tục.1 Tu đạo cầu giải thoát.1Giải thoát luận Đức Phật khẳng định: "Cũng như nước biển ch có một vị m n, giáo lý của ta cũng ch có một vị, vị giải thoát".
Để có một ý niệm rõ ràng hơn về giải thoát quan trong Phật Giáo, sau đây chúng tôi xin trích vài đoạn cốt yếu nói về giải thoát quan trong Phật giáo trong cuốn Đại Thừa hật giáo Tư Tưởng Luận của Tiến Sĩ Kimura Taiken, do Hòa thượng Thích Quảng Độ dịch sang tiếng Việt: “Lập trường chủ yếu của giải thoát quan hật giáo là vượt ra ngoài cõi ục ( ục giới). hật Giáo không thừa nhận thế giới quan Thần quyền, lại không thừa nhận cái "Ngã" cá nh n bất biến, mà chủ trương hết thảy đều do nh n duyên hòa hợp mà hiển hiện, và sở c của nh n duyên là ý chí của chúng ta. o đó, nếu muốn được giải thoát, con người phải c t đ t mọi nh n duyên, nghĩa là diệt hết dục vọng của ý chí. Theo các học phái khác, giải thoát t c là đưa cái tiểu ngã của cá nh n trở về với Đại ngã của một đấng sáng tạo ra vũ trụ.
Nhưng hật giáo vì không thừa nhận Thần quyền, nên gọi giải thoát là Niết àn. Mà Niết àn theo nghĩa đen là "dập t t", 22 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com nghĩa là dập t t hết dục vọng tồn tại và lấy đó làm lý tưởng c u kính.