CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ TỔNG QUAN VỀ ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU 1.1 Các khái niệm Với đề tài luận văn, một số thuật ngữ khoa học thuộc phạm vi của đề tài luận văn được chúng tôi chọn lựa nhằm giải thích, làm rõ, tránh gây nhầm lẫn, cũng như để hiểu biết rộng hơn của vấn đề. - Lịch sử Theo Phan Ngọc Liên, Trịnh Tùng, Trần Vĩnh Tường và Nghiêm Văn Thái (1997) thì có nhiều ý nghĩa khác nhau để chỉ về thuật ngữ Lịch sử. Ở những nước phương Tây, từ “historia” có nguồn gốc từ tiếng Hy Lạp, mang nghĩa là kể lại những điều đã biết, đã chứng kiến và nghe được. Còn ở Trung Quốc, “sử là người ghi chép lại sự việc, cầm bút ghi chép lên thẻ tre (sách) một cách công bằng ngay thẳng”.
Theo thời gian, từ trong cuộc sống và khoa học, Lịch sử mang nhiều ý nghĩa khác nhau, nhưng chung quy, khái niệm này có hai ý nghĩa chính: Thứ nhất, lịch sử là bản thân sự việc đã xảy ra trong quá khứ một cách khách quan, độc lập với ý muốn của con người, và tuân theo những quy luật tất yếu. Đó là ý nghĩa được xét về mặt bản thể luận. Thứ hai, lịch sử là sự hiểu biết về những gì đã xảy ra, đồng thời cũng là sự ghi nhớ, ghi chép về những gì đã biết về quá khứ (ở đây được dùng là “sử ký”). Như vậy là vấn đề thuộc về nhận thức luận.30) Theo Trần Trọng Kim (2000), sử là những tài liệu thư tịch không chỉ dùng để viết lại những điều trong quá khứ, mà còn phải xem xét căn nguyên, tận tường gốc ngọn những điều mà con người đã làm đó để thấu hiểu những vận hội trị loại của một quốc gia, diễn trình tiến triển của một dân tộc.
Mục đích là để chiếu soi cho hậu thế thấy được những khó khăn, vất vả mà tiền nhân đã tạo dựng ra được những thành quả như ngày nay. Am hiểu về lịch sử mới hình thành lòng yêu nước, cố gắng học hành, phấn đấu làm việc để đóng góp vào sự phát triển của mảnh đất mà tổ tiên đã dày công tạo nên, gìn giữ (tr. Theo Đinh Thị Dung trong bài viết Mối quan hệ giữa sử học và văn hóa học (2018) thì cho rằng, “lịch sử là dòng chảy liên tục từ quá khứ đến hiện tại và lấy toàn bộ sinh hoạt của xã hội loài người trong quá trình phát triển của nó làm đối tượng nghiên cứu”. 14 Với đặc điểm của LSVN là luôn bị tấn công, xâm lược bởi các quốc gia, đặc biệt là những triều đình phong kiến phương Bắc; những giá trị, bản sắc, những tư liệu lịch sử của dân tộc bị hủy hoại, thiêu rụi; vì thế cho nên, việc tìm lại nguồn cội, khôi phục những đặc trưng, di sản mang bản sắc dân tộc luôn được diễn ra, không chỉ nhằm mục đích hiểu biết mà còn kế thừa, vận dụng những sáng tạo những tinh hoa, bài học của tổ tiên để lại trong bối cảnh xã hội hiện đại ngày nay.
Lịch sử diễn ra một lần và khách quan, nhưng muốn nhận thức toàn diện về nó là cả một quá trình, phải xem xét ở nhiều góc cạnh, phương diện từ cả những nguồn chính sử và dã sử được để lại. Chính sử và dã sử là những thuật ngữ để chỉ hai loại sử liệu được viết bởi những chủ thể khác nhau mang những đặc điểm cũng khác nhau. - Chính sử Chính sử (còn được gọi là sử liệu cung đình, sử liệu công) được hiểu là những bộ sử được soạn bởi những quan của triều đình chỉ định. Họ chuyên trách trong việc sưu tầm những tài liệu, biên soạn lại những giai đoạn của những triều đại trước hay những sự kiện có tác động lớn đến quốc gia, đồng bào.
Đặc điểm của chính sử là thiên viết về cái chung hơn cái riêng, hoàn cảnh lịch sử hơn là đi sâu vào đời tư cá nhân trong lịch sử hay viết về hoạt động hưng vong của một triều đại trong lịch sử. Ưu điểm của chính sử là mang tính chính thống, được đưa ra bởi nhà nước cầm quyền lãnh đạo. Nhược điểm là tính khách quan không thật sự tuyệt đối, nguyên nhân là bởi chính sử được viết bởi những quan lại triều đình, họ lãnh lương, làm việc cho triều đình mình phụng sự, và việc ca ngợi, tán dương triều đại trước là điều các quan chép sử buộc phải cân nhắc. Trong LSVN, một số bộ chính sử có sức ảnh hưởng lớn có thể kể đến như Đại Việt sử ký toàn thư, Khâm Định Việt sử thông cương giám mục, Đại Nam thực lục… - Dã sử Dã sử (còn được gọi là lịch sử dân gian, sử liệu tư) được hiểu là những thông tin lịch sử được chép bởi những người trong dân gian, xã hội.
Thường người viết dã sử không chịu sự chi phối, ràng buộc bởi bất kỳ ai, mà viết về những sự kiện lịch sử, con người dưới góc nhìn của họ. Đặc điểm của dã sử trái ngược với chính sử, khi đi sâu vào cái riêng, cụ thể, cá nhân… hơn là đi vào cái chung, cái phổ quát. Ưu điểm của dã sử là người viết không bị ràng buộc nhiều bởi giai cấp thống trị, thông tin của dã sử cũng góp phần bổ sung, đính chính trong việc nhìn nhận, đánh giá toàn vẹn một vấn đề, một nhân vật lịch sử… Nhưng nó cũng có thể mang khuyết điểm là “tô hồng lịch sử”, chép sử theo ý mình dưới góc nhìn cá nhân, vì thế tính chính xác, khách 15 quan cũng không cao. Những thông tin của dã sử cũng ít có cơ hội được phổ biến rộng rãi trong xã hội nếu mang tính chống đối, đi ngược lợi ích của giai cấp thống trị, vua quan triều đình… Những bộ dã sử của Việt Nam có thể kể đến như Lê triều dã sử, Lịch triều tạp kỷ… Chính sử và dã sử đều là những nguồn sử liệu quan trọng.
Dù còn tồn tại những khuyết điểm, hạn chế trong từng dòng sử, nhưng chúng cũng có những đóng góp, bổ sung cho nhau; từ đó, giúp đưa đến một cái nhìn toàn vẹn, tổng quát trong việc nhìn nhận, phân tích, đánh giá một sự việc, con người từ trong quá khứ. Từ đó, càng nâng cao tính chuẩn xác, phong phú thêm những thông tin lịch sử, cụ thể là ở LSVN, để lĩnh vực Sử học xứng đáng là một môn khoa học cơ bản của khối ngành khoa học xã hội Việt Nam. - Cải lương Trước khi dùng để gọi tên cho một loại hình nghệ thuật truyền thống của Việt Nam được hình thành trong khoảng thời gian 1917- 1920, từ “cải lương” đã xuất hiện và tồn tại trong xã hội Việt Nam trước đó với một ý nghĩa thiên về chính trị - xã hội, nhằm mục đích thay đổi, cải cách, hướng đến sự tiến bộ xã hội dựa vào chế độ và pháp luật của nhà nước tư sản. Theo Đào Duy Anh (2005) trong Hán Việt từ điển đã diễn giải, cải lương nghĩa là: thay đổi thành tốt hơn.
Theo đó, có những cụm từ khác như: cải lương hương chính (nghĩa là: sửa đổi lại những chế độ trong làng xã để trở nên tốt hơn), cải lương hương tục (nghĩa là: sửa đổi lại những phong tục hủ lệ trong làng xã) (tr.68), hương ước cải lương (nghĩa là những bản hương ước ra đời trong giai đoạn cải lương hương chính). Như vậy, thấy được rằng, trong từ điển của Đào Duy Anh, học giả chưa dùng từ “cải lương” để gọi tên cho một loại hình hình sân khấu của Việt Nam mà chỉ giải thích chung về mặt ý nghĩa của từ này. Đã có những bài báo in trên Nam Phong với tiêu đề: Giúp cho vấn đề cải lương hương tục – Một cái dự án cải lương của Hoàng Hữu Đôn (năm 1920), cải lương phong tục của Trần Duy Nhất (năm 1922), cải lương hương chính của Phạm Huy Chỉnh (năm 1922)… Ở Việt Nam, sau khi tiến hành xâm lược, thực dân Pháp đã tổ chức sắp xếp, quản lý lại bộ máy cấp làng xã ở nước ta dựa trên văn bản “Việc tổ chức lại bộ máy cấp xã” được đưa ra. Việc này được gọi là cải lương hương chính ở Việt Nam và được tiến hành trên toàn lãnh thổ nước ta với những phạm vi cùng thời điểm tiến hành vào những đợt khác nhau.
Chẳng hạn, nếu ở Nam Kỳ, cải lương hương chính được thực hiện sớm nhất là năm 1904, rồi 1927 và 1944; thì ở Bắc Kỳ là vào năm 1921, 1927, 1941; Trung Kỳ muộn nhất khi việc sắp xếp, tổ chức lại bộ máy cấp làng xã 16 diễn ra vào năm 1942. Nhìn chung, việc này được tiến hành nhằm thuận lợi cho việc đô hộ, cai trị của Pháp ở Việt Nam khi giữ vị trí người đứng đầu một tỉnh là cán bộ người Pháp, người Việt chỉ tham gia trong hội đồng kỳ mục, quyết định những công việc làng xã theo phạm vi quyền hạn nhất định. Những người có tài sản ruộng đất, gọi là điền sản, được ưu tiên hàng trong việc chọn lựa, bố trí giữ chức vụ trong bộ máy hành chính cấp xã. Mặt trái của điều này dẫn đến một thực tế là sức mạnh quyền hạn nằm trong tay những lớp người tư sản, chính quyền không đại diện nói lên được tiếng nói cho bộ phận giai cấp vô sản, những người thật sự yếu thế hơn trong xã hội; lại dẫn đến khó đảm bảo được sự công bằng, tự do, hạnh phúc trong xã hội Việt Nam dưới thời Pháp thuộc.
Như vậy, đều mang nội hàm chứa đựng ý nghĩa là “thay đổi để tốt hơn”, gần đồng nghĩa với từ “cải cách”, nhưng “cải lương” được dùng trong hai lĩnh vực khác nhau trong xã hội. Ở khía cạnh sử, luật; cải lương với ý nghĩa dựa vào chế độ và tầng lớp tư sản để thực hiện những đổi mới những vấn đề về hành chính, phong tục trong xã hội Việt Nam; mà phong trào cải lương này xuất hiện ở Việt Nam lần đầu là vào năm 1904. Còn ở khía cạnh nghệ thuật, cải lương là tên gọi một loại hình sân khấu truyền thống của Việt Nam được hình thành và cải tiến từ những loại hình nghệ thuật truyền thống khác là Hát bội và ĐCTT, với kịch nghệ Tây phươnng; từ “cải lương” được dùng lần đầu là vào năm 1918, trước khi được sử dụng phổ biến rộng rãi vào năm 1920.2 Lý thuyết nghiên cứu Lý thuyết nghiên cứu Trường lực của Pierre Bourdieu được Nguyễn Phương Ngọc giới thiệu và in trong quyển Phương pháp nghiên cứu xã hội và lịch sử do Bùi Thế Cường chủ biên, nhà xuất bản Từ điển bách khoa xuất bản năm 2010.