Chương 1: TÔNG QUAN TÀI LIỆU. 8 Chương 2: PHUƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU. Đối tượng, thời gian, địa điểm nghiên cứu. Thiết kế nghiên cứu.
Cỡ mẫu và hương pháp chọn mẫu. Phương pháp thu thập số liệu và xử lý số liệu. Phương pháp phân tích số liệu. Một số khái niệm, biến số, tiêu chuẩn đánh giá dùng trong nghiên cứu.
Vấn đề đạo đức trong nghiên cứu.27 Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN cứu.29 Chương 4: BÀN LUẬN.48 Chương 5: KẾT LUẬN.56 Chương 6: KHUYÊN NGHỊ.58 Phụ lục 1: Phiếu câu hỏi tự điền. 62 Phụ lục 2: Cây vấn đề.1 TÀI LIỆU THAM KHẢO. 59 TÓM TẮT LUẬN VĂN Nghiên cứu này được xây dựng nhằm tìm hiểu “Kiến thức, thái độ, hành vi liên quan đến dự phòng HIV/AIDS của sinh viên trường Đại học Sao Đỏ, thị xã Chí Linh, tỉnh Hái Dirơng, năm 2011 Mục tiêu nghiên cứu là: Mô tả kiến thức, thái độ, hành vi liên quan đến dự phòng và tư vấn xét nghiệm HIV/AIDS của sinh viên trường Đại học Sao Đỏ, thị xã Chí Linh, tỉnh Hải Dương tháng 6/2011. Nghiên cứu sử dụng phương pháp mô tả cắt ngang: phát vấn trên 281 sinh viên trường Đại học Sao Đỏ, thời gian nghiên cứu 1 tháng.
Các kết quả chính của nghiên cứu: Đối tượng nghiên cứu có kiến thức đạt về phòng chống HIV/AIDS là 9. Tỷ lệ ĐTNC có thái độ đạt về phòng chống HIV/AIDS là 17. Kết quả cho thấy có 18.5% ĐTNC đã từng QHTD. Tỷ lệ ĐTNC đã từng dùng bao cao su là 78.
Không có đối tượng sử dụng ma túy. Tỷ lệ ĐTNC chưa từng làm xét nghiệm HIV trong đời là 87.6% ĐTNC tự nguyện tham gia xét nghiệm HIV.1 % ĐTNC đã từng sử dụng dịch vụ của phòng VCT. Trường chưa có hoạt động truyền thông về phòng chống HIV/AIDS cho cán bộ, giáo viên, học sinh, sinh viên trong toàn trường.3% là quan điểm của ĐTNC cho rằng cần thiết phải tăng cường/nâng cao kiến thức về HIV/AIDS cho sinh viên. Qua kết quả nghiên cứu cho thấy cần phải đẩy mạnh hoạt động thông tin, giáo dục, truyền thông phòng chống HIV/AIDS trong cộng đồng, đặc biệt là cho đối tượng học sinh, sinh viên.
4 ĐẶT VẤN ĐÈ Đại dịch HIV/AIDS vẫn đang là mối đe doạ sức khoẻ toàn cầu. Theo ước tính của UNAIDS, thế giới có khoảng 33 triệu người đang sống với HIV. Riêng trong năm 2008 số lượng các trường hợp mới mắc HIV là 2,7 triệu người, và 2 triệu người đã tử vong liên quan đến HIV trong năm 2008. Ở Việt nam, dịch HIV đã lan rộng cả về số lượng và qui mô.
Theo báo cáo cùa Bộ Y tế, tính đến cuối năm 2009, cả nước có 156.802 người nhiễm HIV đang còn sống được báo cáo, trong đó có 34.391 bệnh nhân AIDS còn sống và đã có 44.232 người chết do AIDS. Toàn quốc có tới 70,51% xã/phường, 97,53% quận/huyện và 63/63 tỉnh/thành phố đã phát hiện có người nhiễm HIV[3]. Như đã nói ở trên, số liệu về dịch HIV ở Việt Nam chủ yếu được thực hiện trên các thành phố lớn, mặc dù HIV là vấn đề xảy ra trên toàn quốc, với trên 97% số quận/huyện có báo cáo nhiễm HIV. Tỉnh Hải Dương và huyện Chí Linh cũng vậy, dịch tại đây dường như tuân theo xu hướng của toàn quốc.
Tỷ lệ nhiễm HIV trong đôi tượng TCMT ở Hải Dương là rất cao, chiếm 61,3% chỉ sau thành phố Hồ Chí Minh với 73,6%. Theo báo cáo của Bộ Y tế, năm 2009 so với 2008. toàn quốc đã có thêm 03 quận/huyện mới phát hiện người nhiễm (Gia Lai, Thừa Thiên Huế và Đồng Nai) và có thêm 337 xã/phường có người nhiễm, trong đó Hải Dương đứng thứ 8 với 10 xã, sau Thanh Hoá (30 xã), Phú Thọ (22 xã), Đồng Nai (18 xã), Hà Nội (16 xã), Nghệ An (16 xã), Vĩnh Phúc (12 xã), Gia Lai (11 xã)[3]. Chí Linh là một thị xã thuộc tỉnh Hải Dương, nằm trong khu vực tam giác kinh tế, giữa Hà Nội, Hải Phòng, và Quảng Ninh là những thành phố có tỷ lệ nhiễm FIIV cao đặc biệt trong nhóm TCMT.
Chí Linh có đặc điểm dân số với tỷ lệ vị thành niên là 19%, gần giống với tỷ lệ này của toàn quốc. Thị xã Chí Linh có số lượng người nhiễm HIV cao nhất so với các huyện khác trong tỉnh với 350 người nhiễm trong tổng số 150,000 dân, chiếm tỷ lệ khoảng 0,23%, 194 trường hợp đã chuyển sang AIDS và 155 trường hợp tử vong. Tất cả các xã, phường của Chí Linh đã có báo cáo về tình trạng 5 nhiễm HIV từ 2007(21], Nhóm đối tượng các sinh viên từ các trường dạy nghề tại khu vực đô thị hoá ở Hải Dương là một trong nhóm có nguy cơ lây nhiễm HIV. Thứ nhất, đây phần lớn là những đối tượng thanh niên, đang trong thời kỳ hoạt động tình dục.
Qua đánh giá nhanh phỏng hoạt động tình dục trước hôn nhân ở trong nhóm sinh viên này là khá cao. Cùng với tình trạng sống thử bắt đầu có xu hướng tăng lên trong sinh viên, quan hệ "cởi mở" hơn và xu hướng ngày càng tăng về quan hệ tình dục trước hôn nhân tại Việt Nam, nguy cơ nhiễm HIV và các bệnh lây truyền qua đường tình dục khác lại khá rõ ràng đối với nhóm đối tượng này. Đối tượng thanh niên sinh viên thường ít có khả năng thương thuyết trong việc sử dụng bao cao su. Nạo phá thai trước hôn nhân ớ các cơ sở y tế tư nhân, thiếu bảo đảm an toàn cũng là một yếu tố nguy cơ với mắc HIV và các bệnh lây truyền qua đường máu khác.
Qua số liệu điều tra, tình hình nạo phá thai trước hôn nhân của Hải Dương cao, tỷ lệ sử dụng bao cao su khi quan hệ tình dục là thấp[8]. Thứ hai, những đối tượng sinh viên này là những người thường phải ở nội trú tại trường, sống xa gia đình do đó cũng là một nhóm đối tượng di chuyên. Nhóm đối tượng này thường có xu hướng chủ quan về khả năng mắc bệnh của mình, ít được tư vấn và thông tin về HIV AIDS, và vì vậy khả năng lây lan ra cộng đồng rất lớn do không biết được tình trạng HIV của mình. Điều này đòi hỏi việc nâng cao kiến thức và thực hành phòng tránh HIV để nhóm sinh viên này hiểu rõ nguy cơ nhiễm HIV của mình, cũng như can thiệp tăng cường sử dụng dịch vụ TVXNTN là hết sức cần thiết.
Đặc biệt là, khi dịch vụ điều trị ARV ngày càng có sẵn. nhu cầu tiếp cận dịch vụ TVXN ngày càng tăng. Các nghiên cứu ở nhiều quốc gia trên thế giới cho thấy người trẻ tuôi ít tiếp cận dịch vụ y tế hơn người lớn tuổi, và điều này đặc biệt đúng với nhóm vị thành niên. Đối với các nhóm đối tượng này, ngoài việc nâng cao nhận thức, tăng cường truyền thông thay đổi hành vi nhằm giảm thiểu các nguy cơ lây nhiễm HIV, tư vấn xét 6 nghiệm tự nguyện cũng là một cầu nối quan trọng.
TVXNTN không những cung cấp các thông tin tương đối đầy đủ về dịch HIV tại Việt nam, mà còn giúp cho các đối tượng thanh thiếu niên biết rõ nguy cơ lây nhiễm HIV của mình, giúp họ hướng tới quyết định xét nghiệm giúp họ biết được tình trạng nhiễm HIV của mình và từ đó có các giải pháp phù hợp tránh lây nhiễm và được điều trị/dự phòng kịp thời. Phòng ngừa các trường hợp mới mắc là chìa khoá làm giảm đại dịch trên toàn thế giới. Hiệu quả các chương trình giảm tác hại, đặc biệt với các nhóm nguy cơ cao đã được chứng minh. Ở Việt nam, các chương trình giảm hại như phân phát bơm kim tiêm, điều trị cai nghiện, tư vấn xét nghiệm tự nguyện HIV đã được triên khai chủ yêu trên các nhóm nguy cơ cao.
Tuy nhiên các nhóm có nguy cơ thấp hơn như nhóm thanh niên là sinh viên các trường dạy nghề, đại học vẫn chưa đuợc quan tâm đúng mức. Đối với các nhóm nguy cơ thấp hơn này, tăng cường nhận thức, nâng cao thực hành phòng tránh HIV và tiếp cận xét nghiệm HIV là hết sức cần thiết đối với dự phòng lây nhiễm cho cộng đồng. Các nhóm sinh viên này cũng có thế tuyên truyền trong cộng đồng vê phòng lây nhiễm HIV. Kết quả từ nhiều nghiên cứu cho thấy biết được nơi cung cấp dịch vụ TVXNTN là bước khởi đầu quan trọng cho việc tiếp cận dịch vụ này, tuy nhiên dưới 50% phụ nữ 15-24 biết nơi có thể tiếp cận dịch vụ TVXNTN[7].
Trong xã hội ngày nay, sinh viên và đặc biệt là sinh viên các trường đại học, đào tạo nghề luôn được xếp vào nhóm quần thể dễ bị tổn thương (do bị ảnh hưởng bởi các yếu tố như di biến động, sống xa gia đình, thiếu thông tin.) và một bộ phận trong đó thuộc nhóim có hành vi nguy cơ lây nhiễm HIV (có tiếp xúc với rượu, bia, ma túy hoặc có quan hệ tình dục không an toàn. Qua khảo sát ban đầu tại một số trường đại học, cao đẳng dạy nghề, Chí Linh có hai trường dạy nghề, đó là trường Đại học Sao Đỏ: có khoảng hơn 15. Từ năm 2010, mỗi năm học trường tuyển sinh khoảng 8.380 sinh viên mới. Trường Đại học Sao Đỏ đào tạo các hệ: đại học, cao đẳng 12 ngành nghề khác nhau.
Các ngành nghề được đào tạo chủ yếu là công nghệ cơ khí. 7 chế tạo, các ngành công nghiệp nhẹ (may, giày da), công nghiệp nặng (đóng tàu, hàn.Chưa có số liệu về thực trạng nhiễm HIV trong nhóm đối tuợng sinh viên và sinh viên các trường dạy nghề, cũng như dịch vụ TVXNTN hầu như chưa tiếp cận với đối tượng này. Chính vì vậy chúng tôi thực hiện nghiên cứu “Nghiên cứu kiến thức, thái độ, hành vi liên quan đến dự phòng HIV/AIDS của sinh viên trường Đại học Sao Đỏ, thị xã Chí Linh, tỉnh Hải Dicơng, năm 2011 ” với: MỤC TIÊU NGHIÊN cứu 1. Mô tả kiến thức, thái độ, hành vi liên quan đến dự phòng HIV/AIDS của sinh viên trường Đại học Sao Đỏ, Chí Linh, Hải Dương.
Xác định thực trạng và những yếu tố liên quan đến việc tiếp cận thông tin về dự phòng HIV/AIDS và tư vấn xét nghiệm tự nguyện của sinh viên trường Đại học Sao Đỏ. 8 Chuông 1: TỎNG QUAN TÀI LIỆU 1. Đại cuong về HIV/AIDS 1. HIV/AIDS là gì? AIDS là tên viết tắt theo tiếng Anh của Acquired Immuno Deficiency Syndrome, có nghĩa là hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải.
Viết theo tiếng Pháp là SIDA (Syndrome de Immuno Deficience Acquise). AIDS do một loại vius gây suy giảm miễn dịch mắc phải ở người có tên gọi tắt là HIV (Human Immunedeficiency Virus) gây nên, HIV thuộc một nhóm virus có tên là Retroviridae.