Chương 1 TỔNG QUAN TÀ I LIỆU 1. Nghiên cứu Chim ở Đông Dương Đã từ lâu, Đông Dương với cảnh quan thiên nhiên phong phú đã được nhiều nhà Điểu học chú ý đến. Việc nghiên cứu các loài Động vật hoang dã đặc biệt là chim trên lãnh thổ Đông Dương đã có lịch sử hơn 100 năm và đã có nhiều nhà sinh học nước ngoài đến đây nghiên cứu. Mặc dù vậy, cho đến nay những hiểu biết về động vật Đông Dương nói chung và chim nói riêng vẫn còn bị hạn chế.
Tài liệu chim đầu tiên là bản mô tả các loài Gà rừng (Gallus galus) của Linne với tiêu bản bắt được ở đảo Côn Lôn (Linne, 1758 Sysema naturae ,1,tr. Sau đó 30 năm, năm 1788 Gomolanh mô tả loài thứ 2 bắt được ở Đông Dương, đó là một loài chim xanh nam bộ (Chloropsis cochinchinensis) (Gmelin, 1788). Vào khoảng giữa thế kỷ thứ XIX một vài loài chim khác ở Đông Dương được mô tả. Sau khi xâm chiếm ở miền nam Đông Dương người Pháp bắt đầu chú ý đến việc nghiên cứu thiên nhiên vùng này.
Mặc dù vào thời gian đầu họ không tổ chức một cuộc sưu tầm nào lớn, nhưng đến năm 1862 đến năm 1874 nhiều đợt nghiên cứu Chim khá quy mô do các nhà tự nhiên học nghiệp dư đã sưu tầm một mẫu vật rất lớn và được chuyển về Pháp để giám định. Oustales cho xuất bản công trình “Chim Camphuchia, Lào, Nam bộ và Bắc Bộ Việt Nam” và từ năm 1905 đến năm 1907 Uxtale và Gecmanh cho xuất bản tập: Danh Sách Chim miền Nam Việt Nam, Nam Bộ”. Vào thời điểm đó, Bắc Việt Nam có Butan tổ chức sưu tầm Chim và kết quả đã được công bố trong tập “Mười năm nghiên cứu động vật” Ông đã ghi nhận được 90 loài và một số dữ liệu về sinh học của một số loài. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 4 Năm 1918, lần đầu tiên một cuộc sưu tầm chim được tổ chức dưới sự chỉ đạo của Boden Klox, với kết quả thu được là 1525 tiêu bản đã được thu thập.
Kết quả này được Robinson và Klox thông báo trong tập “Chim Trung Bộ và Nam Bộ Việt Nam”. Công trình này ghi nhận 235 loài và trong đó có 34 loài mới cho khoa học. Trong khoảng thời gian đó nhà điểu học người Nhật Kuroda phân tích bộ sưu tập chim do S. Txikia và ghi nhận được 130 loài và loài phụ.
Grinuay và đồng nghiệp đã tiến hành 7 cuộc sưu tầm lớn ở nhiều vùng khác nhau trên lãnh thổ Đông Dương với kết quả đáng ngạc nhiên là 23 nghìn tiêu bản đã được thu thập đưa về Pháp giám định. Các tiêu bản này sau đó được phân chia cho các viện Bảo tàng lớn ở Pháp, Anh và Mỹ. Năm 1940 Dolacua và Grinuay cho xuất bản danh sách chim thu thập được trong cuộc sưu tầm lần thứ 7 gồm 224 loài và loài phụ.Từ năm 1941 đến năm 1950, một số tiêu bản Chim được thu thập ở Lào, Lạng Sơn cùng một số địa phương khác ở miền Bắc Việt Nam và được gửi về phòng nghiên cứu động vật trường Đại học tổng hợp Đông Dương để giám định. Các tiêu bản này đã được Buaret phân tích và công bố.
Cũng trong thời gian này nhiều tác giả đã công bố các công trình thu thập về chim ở Đông Nam Á, trong đó có 20 dạng mới sưu tầm được trên lãnh thổ Đông Dương vào năm 1951, dựa vào các công trình mới này Dolacua lại bổ sung lần thứ 3 danh sách chim Đông Dương (J. Lần này tác giả mở rộng danh sách đến 1085 loài và loài phụ, trong đó có 2 dạng mới. Nghiên cứu chim ở Việt Nam Trước năm 1945, tất cả các công trình nghiên cứu về chim ở Viêt nam đều do các nhà kkhoa học người nước ngoài thực hiện. Từ năm 1945 đến năm 1954, do các hoạt động nghiên cứu ở Việt Nam đều bị gián đoạn do chiến tranh.
Cho đến sau khi Bắc Việt Nam giải phóng ít lâu, một số nhà khoa học LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 Việt Nam mới bắt đầu nghiên cứu. Đáng chú ý có công trình nghiên cứu của tác giả Võ Quý, Trần Gia Huấn 1960-1961; Võ Quý 1962-1966; Võ Quý, Đỗ Ngọc Quang 1965; Võ Quý và Alogiava N. Ngoài ra còn một số công trình nghiên cứu Fiso và Lê Diên Dực 1966 về chim miền Bắc Việt Nam. Hầu hết các công trình này cũng chỉ mới đề cập đến khu hệ chim của một vài vùng nhỏ ở Việt Nam.
Các tác giả đã đi sâu nghiên cứu theo hướng phát hiện loài mới và phân loại. Năm 1971, Võ Quý đã tổng hợp kết quả nghiên cứu về đời sống của các loài chim phổ biến ở miền Bắc Việt Nam và xuất bản công trình "Sinh học các loài chim thường gặp ở Việt Nam". Trong sách tác giả có mô tả các đặc điểm về thức ăn, nơi ở, đặc điểm sinh sản và một số tập tính khác của gần hai trăm loài chim ở miền Bắc, đa số các loài này có ý nghĩa kinh tế. Đây là một công trình nghiên cứu về chim đầy đủ và có hệ thống.
Sau khi đất nước thống nhất (1975), công trình "Chim Việt Nam, Hình thái phân loại (Tập I,II) của Võ Quý 1975-1981" là công trình đầu tiên nghiên cứu chim trên toàn lãnh thổ Việt Nam về mặt hình thái và phân loại. "Danh lục chim Việt Nam" của Võ Quý - Nguyễn Cử (1995) đã xuất bản cuốn. Bản danh lục gồm 19 bộ, 81 họ và 828 loài chim đã tìm thấy ở Việt Nam (tính đến năm 1995). Với mỗi loài các tác giả đều dẫn các đặc điểm về hiện trạng và vùng phân bố.
Cho đến những năm gần đây, cùng với sự tích cực trong nỗ lực bảo tồn đa dạng sinh học của Chính phủ Viêt nam thì nhiều dự án bảo tồn đa dạng sinh học do các tổ chức: Bảo tồn chim Quốc tế (Bird life International), Tổ chức bảo vệ động thực vật quốc tế (FFI), Hiệp hội bảo tồn thiên nhiên Quốc tế (IUCN), Qũy quốc tế bảo vệ thiên nhiên (WWF), Ngân hàng thế giới (WB) đã được triển khai do vậy công tác bảo tồn đa dạng sinh học của nước ta được được thúc đẩy mạnh mẽ hơn. Một loạt các công trình nghiên cứu về động vật LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 hoang dã đã xuất bản. Chương trình hợp tác giữa Viện Điều Tra Quy hoạch rừng và tổ chức bảo vệ Chim quốc tế (BirdLife International) đã tiến hành điều tra một số khu vực rừng đặc dụng, và phát hiện thêm 2 loài chim mới cho khoa học, đó là Khướu ngọc linh (Garrulax ngoclinhensis) và Khướu vằn đầu đen (Actinoduru sodangorum). Hai loài này là những phát hiện mới đầu tiên về chim được mô tả cho Việt Nam và lục địa Đông Nam Á trong vòng 30 năm trở lại đây.
Ngoài ra một số loài chim ưu tiên bảo tồn như: Mi núi bà (Crocias langbianis), Gà lôi Hà Tĩnh (Lophura hatinhensis) cũng được tái phát hiện. Công trình nghiên cứu về chim gần đây nhất là cuốn “Chim Việt Nam” của tập thể các tác giả Nguyễn Hữu Cử, Lê Trọng Trải, Karen Phillipps. (Năm 200) Tài liệu này giới thiệu hơn 500 loài chim tổng số gần 850 loài chim hiện có ở Việt Nam. Cuốn sách được biên soạn nhằm mục đích giúp người xem nhận dạng các loài chim ngoài thực địa và cung cấp các thông tin về dăc điểm sinh học, sinh thái và phân bố của loài.
Đây là tài liệu hướng dẫn tốt cho các nhà nghiên cứu. Tóm lại, việc nghiên cứu chim ở Đông Dương nói chung và Việt Nam nói riêng đã có lịch sử vài thế kỷ. Tính cho đến nay, trên lãnh thổ Việt Nam đã tìm thấy 828 loài. Nếu tính cả phân loài thì khu hệ chim Việt Nam có khoảng gần 1500 loài và phân loài chim thuộc 81 họ, 19 bộ, chiếm khoảng 9% tổng số loài chim trên toàn thế giới (Võ Quý, Nguyễn Cử, 1995) trong đó có nhiều loài quý hiếm, đặc hữu đối với Việt Nam và khu vực Đông Dương.
Tuy nhiên các nghiên cứu trước thập niên 90 của thế kỷ XX mang ý nghĩa lập danh lục và phân loại là chính, mục đích bảo tồn chưa được quan tâm nhiều. Nghiên cứu Khu hệ Chim tại Khu bảo tồn thiên nhiên Kẻ Gỗ Khu bảo tồn thiên nhiên Kể Gỗ được thành lập theo quyết định số 970/QĐ-TTG ngày 28 tháng 12 năm 1996 của Thủ Tướng Chính Phủ với diện LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 tích là 21.758,9 ha, nằm trong danh giới của 3 huyện Cẩm Xuyên, Kỳ Anh và Hương Khê, tỉnh Hà Tĩnh. Đây là vùng rừng thường xanh cây lá rộng thuộc dạng rừng trên địa hình thấp còn sót lại ở vùng đồng bằng ven biển miền Trung Việt Nam. Mục tiêu ban đầu của KBTTN Kẻ Gỗ là nhằm bảo vệ quần thể của 2 loài Gà lôi là Gà lôi lam đuôi trắng (Lophura hatinhensis) và Gà lôi lam mào đen (Lophura imperalis).
Kết quả nghiên cứu chim khu bảo tồn thiên nhiên Kẻ Gỗ cho thấy tại đây có 270 loài, chiếm khoảng 75,6% tổng số loài chim vùng Bắc Trung Bộ và khoảng 34% tổng số loài chim đã biết được trong cả nước (Võ Quý, Nguyễn Cử 1995). Khu hệ chim tại KBTTN Kẻ Gỗ có 17 bộ, 61 họ, trong số đó có 17 loài được ghi trong Sách đỏ Việt Nam (Anon., 1992) và thế giới (Collar et al. Tuy nhiên, từ năm 1995 đến nay chưa có có công trình nghiên cứu nào bổ xung thông tin về khu hệ chim cho KBTTN Kẻ Gỗ. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 Chương 2 MỤC TIÊU, PHẠM VI, NỘI DUNG VÀ PHUƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.
Mục tiêu nghiên cứu 2. Mục tiêu chung Góp phần xây dựng cơ sở khoa học cho công tác bảo tồn Đa dạng sinh học tại Khu bảo tồn thiên nhiên Kẻ Gỗ. Mục tiêu cụ thể - Đánh giá tính đa dạng của khu hệ chim ở KBTTN Kẻ Gỗ. - Đánh giá tình trạng và phân bố của các loài chim, đặc biệt là các loài chim ưu tiên bảo tồn tại KBTTN Kẻ Gỗ.
- Đề xuất một số giải pháp quản lý bảo tồn các loài chim tại KBTTN Kẻ Gỗ. Đối tượng Các loài động vật thuộc lớp chim (Aves) đang cư trú trong KBTTN Kẻ Gỗ. Phạm vi nghiên cứu Khu hệ chim tại các sinh cảnh khác nhau trong KBTTN Kẻ Gỗ. Nội dung nghiên cứu - Nghiên cứu tính đa dạng về thành phần loài chim tại KBTTN Kẻ Gỗ.
- Xác định các dạnh sinh cảnh chính và mô tả đặc điể m phân bố theo sinh cảnh của các loài chim ta ̣i KBTTN Kẻ Gỗ. - Đánh giá hiện trạng quần thể của các loài chim ưu tiên bảo tồn tại KBTTN Kẻ Gỗ. - Xác định các mối đe dọa đến khu hệ chim KBTTN Kẻ Gỗ.