Mở Đầu Chƣơng 1. Tổng quan Chƣơng 2. Địa điểm, thời gian, tƣ liệu và phƣơng pháp nghiên cứu Chƣơng 3. Kết quả nghiên cứu và bàn luận Kết luận và kiến nghị Danh mục các công trình công bố của tác giả Tài liệu tham khảo 4 CHƢƠNG 1.
Tình hình nghiên cứu cá nƣớc ngọt 1. Lược sử nghiên cứu khu hệ cá nước ngọt Việt Nam Thời kỳ trƣớc năm 1954: Theo nguồn lợi thủy sản Việt Nam (1996) [2], công trình đầu tiên nghiên cứu về cá nƣớc ngọt ở Việt Nam là Sauvage H. Tác phẩm ―Nghiên cứu về khu hệ cá châu Á và mô tả một số loài mới ở Đông Dƣơng‖: Tác giả đã thống kê có 139 loài cá chung cho toàn Đông Dƣơng và mô tả 2 loài mới ở miền Bắc nƣớc ta. Tirant đã công bố và mô tả 70 loài cá ở sông Hƣơng (Huế) trong đó có 3 loài mới.
Những năm tiếp theo có nhiều công bố về thành phần loài cá ở các thủy vực khác nhau hoặc mô tả loài mới của nhiều tác giả. Sauvage đã thu thập và phân tích gồm 10 loài ở ngoại thành Hà Nội trong đó mô tả 7 loài cá mới cho khoa học; Vaillant L., (1891 – 1904) thu thập phân tích 6 loài cá ở Lai Châu, năm 1891 tác giả đã mô tả 4 loài cá mới. Năm 1904 ông mô tả một loài cá mới, 1905 tác giả thống kê đƣợc 5 loài cá ở sông Kỳ Cùng [2-4]., (1907) nghiên cứu một sƣu tập gồm 29 loài ở ngoại thành Hà Nội; (1923) ông mô tả loài Protosalanx brevirostris; (1928) mô tả loài Discognathus bouratti; (1932) phân tích một sƣu tập 12 loài chủ yếu sƣu tầm ở ngoại thành Hà Nội; (1934) ông lập bảng danh lục cho khu hệ cá Hà Nội gồm 33 loài., (1937) công bố công trình ―Góp phần nghiên cứu các loài cá nƣớc ngọt miền Bắc Việt Nam‖, một công trình nghiên cứu khá tổng hợp gồm 98 loài nằm trong 71 giống, thuộc 17 họ và 10 bộ. Đây là công trình có giá trị nhất về cá nƣớc ngọt ở nƣớc ta trong thời kỳ thuộc Pháp [3, 5, 6]., (1942-1943) đã duyệt lại một số loài trong họ cá chép ở bảo tàng Pari; (1949) tác giả cùng Chaur J.
lại nghiên cứu sƣu tầm cá thuộc phân bộ 5 Siluroidei ở bảo tàng này, mô tả thêm loài Macrones gulio [3]; Pendahl H. Nhận xét: Có thể nói đối với những nghiên cứu cá nƣớc ngọt ở nƣớc ta thời kỳ trƣớc năm 1945 chủ yếu do ngƣời nƣớc ngoài tiến hành. Các mẫu cá chuẩn phần lớn lƣu trữ tại bảo tàng tự nhiên Paris. Thời kỳ này mới dừng lại ở mức độ mô tả, thống kê thành phần loài.
Nghiên cứu nguồn lợi, sinh học, sinh sản, địa lý phân bố, nguồn gốc địa động vật về các loài cá đã chƣa đƣợc thực hiện. Trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp (1945 – 1954) công tác nghiên cứu bị gián đoạn. Khi hòa bình lập lại, miền Bắc hoàn toàn giải phóng, công tác nghiên cứu cá lại đƣợc tiếp tục do chính các nhà khoa học Việt Nam tiến hành. Thời kỳ từ 1955 – 1975: Các công trình tiêu biểu nghiên cứu về khu hệ cá thời kỳ này ở miền Bắc có: Đào Văn Tiến và Mai Đình Yên (1958) nghiên cứu khu hệ cá sông Bôi thuộc tỉnh Hòa Bình với một danh lục gồm 44 loài [7]; năm 1959, công trình nghiên cứu ―Sơ bộ ngƣ giới Ngòi Thia - nhánh của sông Hồng‖ tại Yên Bái đã công bố 54 loài [8]; năm 1960 sơ bộ điều tra cá ở sông Ninh Cơ thuộc tỉnh Nam Định; năm 1961 hai tác giả cùng với Đặng Ngọc Thanh điều tra ngƣ loại tại Hồ Tây [9].
Trong công trình ―Sơ bộ tìm hiểu thành phần, nguồn gốc và phân bố các chủng quần cá tại sông Hồng‖ Mai Đình Yên (1963) [10] đã công bố 150 loài nằm trong 40 họ cá khác nhau, trong đó tác giả đã xác định đƣợc 110 loài và 3 phân loài, thuộc 25 họ cá nƣớc ngọt chính thức, 40 loài cá nƣớc ngọt không chính thức. Đoàn Lệ Hoa, Phạm Văn Doãn (1971): Sơ bộ điều tra nguồn lợi cá sông Mã đã xác định 114 loài thuộc 92 giống, 36 họ [11]; P. Ở miền Nam cũng có một số công trình do cán bộ khoa học ngƣời Việt Nam và ngƣời nƣớc ngoài thực hiện: Trần Ngọc Lợi và Nguyễn Cháu (1964); Fourmanvir (1965); Yamamura (1966); Kawamoto, Nguyễn Viết Trƣơng và Trần Túy Hoa (1972); Y. Trong giai đoạn này cùng với các nghiên cứu về khu hệ, các công trình nghiên cứu về sinh học, sinh thái học cũng đƣợc chú ý hơn, tiêu biểu có các tác giả: Đào Văn Tiến, Mai Đình Yên (1960) [10]: Sinh học, giá trị kinh tế cá Mòi sông Hồng; Nguyễn Dƣơng (1963): sinh học cá Ngạnh sông Lô; Phan Trọng Hậu, Mai 6 Đình Yên, Trần Tới (1963): Hình thái sinh học cá Mè sông Hồng; Hoàng Đức Đạt (1964): Sinh thái học một số loài cá sông Lô; Mai Đình Yên (1964): Đặc điểm sinh học các loài cá sông Hồng; Mai Đình Yên (1966): Đặc điểm sinh học một số loài cá ruộng ở đồng bằng miền Bắc Việt Nam.
Về điều tra nguồn lợi thời kỳ này cũng đƣợc tiến hành ở một số thủy vực: Trần Công Tam (1959): Nguồn lợi chủ yếu của sông Hồng; Mai Đình Yên (1963): Ý nghĩa kinh tế ngƣ giới sông Hồng; Nguyễn Văn Hảo (1964): Nguồn lợi cá Hồ Ba Bể; Nguyễn Anh Tạo (1964): Nguồn Lợi thủy sản của sông Lạch Trƣờng và sông Mã. Thời kỳ từ năm 1975 – 1999: Trong thời kỳ này, công tác điều tra nghiên cứu cá nƣớc ngọt đƣợc tiến hành trên phạm vi cả nƣớc. Lực lƣợng cán bộ nghiên cứu đông đảo đại diện các Viện nghiên cứu, các Trƣờng đại học trên cả nƣớc tham gia nghiên cứu. Trong giai đoạn này tập trung nghiên cứu nhiều ở các tỉnh phía Nam.
Các công trình nghiên cứu về khu hệ cá sông tập trung ở sông Tiền, sông Hậu, sông Đồng Nai và các con sông ở miền Trung nhƣ: sông Hƣơng, sông Bồ, sông Thu Bồn, sông Trà Khúc, sông Vệ, sông Côn, sông Ba và sông Cái. Các hồ chứa đƣợc nghiên cứu trong thời kỳ này là: hồ Dầu Tiếng, hồ Trị An, hồ EaKao và nghiên cứu về đầm Phá nhƣ: đầm Châu Trúc, đầm phá ở Thừa Thiên Huế, trong giai đoạn này có các công trình tiêu biểu nhƣ sau: Về nghiên cứu thành phần loài: Nguyễn Hữu Dực (1982) thành phần cá sông Hƣơng có 58 loài; Nguyễn Thái Tự (1983) khu hệ cá sông Lam có 157 loài; Mai Đình Yên và Nguyễn Văn Trọng (1988) thành phần loài cá nƣớc ngọt Nam Bộ, 255 loài ; Mai Đình Yên và Nguyễn Hữu Dực (1991) thành phần loài và phân bố của cá nƣớc ngọt Nam Trung Bộ (sông Thu Bồn 85 loài, sông Trà Khúc 47 loài, sông Vệ 34 loài, sông Côn 43 loài, sông Ba 48 loài, sông Cái 25 loài); Nguyễn Văn Hảo và Nguyễn Hữu Dực (1994) thành phần loài cá ở một số sông suối Tây Nguyên có 82 loài [12]; Nguyễn Văn Hảo và Võ Văn Bình (1999) kết quả nghiên cứu về thành phần và phân bố cá ở sông Lô – Gâm, 160 loài; Ngô Sỹ Vân (1999) hiện trạng khu hệ cá hồ chứa Thác Bà Yên Bái, 68 loài; Võ Văn Phú (1995) thành phần loài cá đầm phá Thừa Thiên Huế, 163 loài; Dƣơng Tuấn (1979) đặc điểm thành phần loài cá đầm Châu Trúc, 39 loài; Nguyễn Hữu Dực và Nguyễn Văn Hảo (1996) kết quả điều tra khu hệ cá và đặc điểm sinh học một số loài cá có giá trị kinh tế ở đầm Châu 7 Trúc, 50 loài; Nguyễn Thái Tự và cộng sự (1999) khu hệ cá Bến En, 68 loài; Nguyễn Văn Hảo và cs (1999) khu hệ cá hồ Ba Bể, 84 loài; Nguyễn Văn Hảo (1998) thành phần phân bố nguồn lợi cá Lai Châu có 104 loài và sông Đà 129 loài; Nguyễn Thái Tự và cộng sự (1999) khu hệ cá Phong Nha có 72 loài [9]. Ba công trình nghiên cứu cá nƣớc ngọt mang tính chất tổng hợp ở Việt Nam: Thứ nhất ―Định loại cá nƣớc ngọt các tỉnh phía Bắc Việt Nam‖ của Mai Đình Yên (1978) [4], trong công trình đã xác định có 201 loài thuộc 27 họ, 11 bộ, trong đó có 47 loài và phân loài mới cho khoa học. Cùng với 12 loài mới cho khoa học của Nguyễn Văn Hảo và Đoàn Lệ Hoa (1969) và 4 loài của Bănărescu & Nalbant đƣa tổng số loài mới cho khoa học ở khu vực Bắc Bộ trong giai đoạn 1954 – 1978 là 63 loài [13].
Tuy nhiên, cũng theo tác giả cuốn sách này, các loài đƣợc mô tả là loài mới chỉ có giá trị tham khảo vì cần đƣợc kiểm tra lại sau này khi có đầy đủ các tài liệu và mẫu chuẩn. Thứ hai ―Định loại các loài cá nƣớc ngọt Nam Bộ‖ của Mai Đình Yên và cộng sự (1992), đã phân loại và mô tả 255 loài [14]. Thứ ba ―Định loại cá nƣớc ngọt vùng ĐBSCL‖ của Trƣơng Thu Khoa và Trần Thu Hƣơng (1993) gồm có 173 loài [9]. Đây là các công trình tổng hợp đầy đủ nhất về hai khu hệ cá miền Bắc và miền Nam nƣớc ta.
Năm 1996, công trình có tính chuyên khảo, tổng hợp về cá nƣớc ngọt Việt Nam: ―Nguồn lợi thủy sản Việt Nam‖ của Bộ Thủy sản [2], có 544 loài và phân loài nằm trong 228 giống, 57 họ và 18 bộ. Về đặc trƣng phân bố, tài liệu đã xác định vùng Bắc Bộ có 222 loài, Bắc Trung Bộ có 154 loài, Nam Trung Bộ có 120 loài và Nam Bộ có 306 loài. Tài liệu đã liệt kê đƣợc 97 loài cá có giá trị kinh tế nƣớc ngọt, mô tả đặc điểm sinh học của hơn 50 loài cá. Cuốn sách là một tài liệu có giá trị cho các nhà khoa học, các nhà quản lý nghề cá, các nhà kinh tế.
Về nghiên cứu đặc điểm sinh học: Đặc điểm sinh học của một số loài cá có giá trị kinh tế ở đầm phá Thừa Thiên Huế của Võ Văn Phú và Đặng Thị Diệu Tâm (1978); Hoàng Đức Đạt và Võ Văn Phú (1980) và Võ Văn Phú (1991, 1994); sinh học cá Chép đầm Châu Trúc của Lê Xanh (1979); đặc điểm sinh học cá Quả của Nguyễn Duy Hoan (1979); cơ sở sinh học của các hồ nƣớc cỡ nhỏ của Nguyễn Văn Hảo (1983); nghiên cứu sinh học một số loài cá kinh tế họ Cyprinidae ở Nam Bộ của Lê Hoàng Yến (2000) [15]. 8 Thời kỳ từ năm 2000 đến nay: Có nhiều công trình nghiên cứu cá nƣớc ngọt đƣợc tiến hành với sự tham gia của nhiều nhà khoa học, các viện nghiên cứu, các trƣờng đại học trong cả nƣớc. Đồng thời có sự hợp tác với các nhà khoa học, các tổ chức nƣớc ngoài, trên phạm vi cả nƣớc. Nội dung nghiên cứu sâu hơn về cấu trúc thành phần loài, sinh học, nơi sống vv.