Nghiên cứu tạo khối cầu đa bào ung thư biểu mô tuyến vú dòng MCF-7

Luận văn thạc sĩ HUS nghiên cứu tạo khối cầu đa bào ung thư biểu mô tuyến vú dòng MCF-7, cung cấp cái nhìn sâu sắc về cơ chế bệnh lý.

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Văn Thạc Sỹ Khoa Học

2014

91
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

MỞ ĐẦU

1. SÀNG LỌC THUỐC

1.1. Quy trình sàng lọc thuốc

1.1.1. Quy trình sàng lọc thuốc tiêu chuẩn

1.2. Quy trình sàng lọc thuốc tiền lâm sàng

1.3. Các mô hình sàng lọc thuốc tiền lâm sàng

1.3.1. Mô hình in vitro

1.3.1.1. Mô hình nuôi cấy cơ quan
1.3.1.2. Mô hình nuôi cấy tế bào đơn lớp (2D)
1.3.1.3. Mô hình nuôi cấy ba chiều (3D)

1.3.2. Mô hình động vật - in vivo

1.4. Mô hình nuôi cấy khối cầu đa bào ung thư

1.4.1. Nuôi cấy ba chiều (3D)

1.4.2. Lịch sử phát triển của mô hình nuôi cấy khối cầu đa bào ung thư

Tóm tắt

I. Tổng quan về nghiên cứu khối cầu đa bào ung thư biểu mô tuyến vú dòng MCF 7

Nghiên cứu khối cầu đa bào ung thư biểu mô tuyến vú dòng MCF-7 là một lĩnh vực quan trọng trong nghiên cứu ung thư hiện đại. Khối cầu đa bào (MCTS) được coi là mô hình in vitro gần gũi nhất với khối u in vivo, giúp tái tạo các đặc tính sinh học của khối u. Mô hình này cho phép nghiên cứu sự phát triển, xâm lấn và đáp ứng với điều trị của tế bào ung thư. Việc phát triển mô hình này không chỉ giúp hiểu rõ hơn về sinh lý học của tế bào ung thư mà còn hỗ trợ trong việc sàng lọc thuốc mới.

1.1. Khái niệm về khối cầu đa bào và dòng tế bào MCF 7

Khối cầu đa bào là những cấu trúc ba chiều được hình thành từ sự tụ tập của các tế bào. Dòng tế bào MCF-7 là một trong những dòng tế bào ung thư vú phổ biến nhất được sử dụng trong nghiên cứu. MCF-7 có khả năng phát triển thành khối cầu đa bào, giúp mô phỏng chính xác hơn các đặc tính của khối u trong cơ thể.

1.2. Tầm quan trọng của mô hình khối cầu đa bào trong nghiên cứu ung thư

Mô hình khối cầu đa bào cho phép nghiên cứu các tương tác tế bào, sự phát triển và phản ứng với thuốc trong môi trường gần giống như in vivo. Điều này giúp giảm thiểu sự khác biệt giữa kết quả thí nghiệm và thực tế lâm sàng, từ đó nâng cao hiệu quả của quá trình phát triển thuốc.

II. Thách thức trong nghiên cứu khối cầu đa bào ung thư biểu mô tuyến vú

Mặc dù mô hình khối cầu đa bào mang lại nhiều lợi ích, nhưng vẫn tồn tại một số thách thức trong nghiên cứu. Một trong những vấn đề lớn nhất là khả năng tái tạo chính xác các đặc tính sinh học của khối u. Các khối cầu đa bào có thể không phản ánh đầy đủ các yếu tố vi mô và vi mô trong cơ thể, dẫn đến kết quả không chính xác trong việc đánh giá hiệu quả của thuốc.

2.1. Khó khăn trong việc mô phỏng môi trường vi mô

Mô hình khối cầu đa bào có thể thiếu các yếu tố vi mô như mạch máu và hệ miễn dịch, điều này có thể ảnh hưởng đến sự phát triển và đáp ứng của tế bào ung thư với điều trị. Việc thiếu các yếu tố này có thể dẫn đến sự khác biệt trong phản ứng của tế bào so với khối u thực tế.

2.2. Đánh giá độc tính và hiệu quả của thuốc trên khối cầu đa bào

Việc đánh giá độc tính và hiệu quả của thuốc trên khối cầu đa bào có thể gặp khó khăn do sự khác biệt trong cấu trúc và chức năng của tế bào so với mô hình in vivo. Điều này đòi hỏi các phương pháp thử nghiệm mới và chính xác hơn để đảm bảo tính khả thi của các liệu pháp điều trị.

III. Phương pháp tạo khối cầu đa bào ung thư biểu mô tuyến vú dòng MCF 7

Để tạo ra khối cầu đa bào ung thư biểu mô tuyến vú dòng MCF-7, có nhiều phương pháp khác nhau được áp dụng. Các phương pháp này bao gồm nuôi cấy giọt treo, nuôi cấy xoay tròn và sử dụng các giá thể sinh học. Mỗi phương pháp có những ưu điểm và nhược điểm riêng, ảnh hưởng đến sự phát triển và cấu trúc của khối cầu.

3.1. Phương pháp nuôi cấy giọt treo

Nuôi cấy giọt treo là một trong những phương pháp phổ biến nhất để tạo khối cầu đa bào. Trong phương pháp này, các tế bào được nuôi trong các giọt nhỏ, cho phép chúng tự tổ chức và hình thành khối cầu. Phương pháp này giúp duy trì các đặc tính sinh học của tế bào và tạo ra môi trường tương tự như in vivo.

3.2. Phương pháp nuôi cấy xoay tròn

Nuôi cấy xoay tròn là một phương pháp khác giúp tạo khối cầu đa bào. Trong phương pháp này, các tế bào được nuôi trong các bình xoay, tạo ra lực ly tâm giúp tế bào tụ tập lại với nhau. Phương pháp này có thể tạo ra khối cầu với kích thước đồng đều và cấu trúc ổn định.

IV. Ứng dụng thực tiễn của khối cầu đa bào ung thư biểu mô tuyến vú dòng MCF 7

Khối cầu đa bào ung thư biểu mô tuyến vú dòng MCF-7 có nhiều ứng dụng thực tiễn trong nghiên cứu và phát triển thuốc. Mô hình này không chỉ giúp đánh giá độc tính của các hợp chất mới mà còn hỗ trợ trong việc nghiên cứu cơ chế tác động của thuốc. Điều này giúp tăng cường khả năng phát hiện các liệu pháp điều trị hiệu quả hơn cho bệnh nhân ung thư.

4.1. Đánh giá độc tính của hệ thuốc nano Ptx Cur Co

Khối cầu đa bào MCF-7 được sử dụng để kiểm tra độc tính của hệ thuốc nano (Ptx-Cur)-Co. Kết quả cho thấy mô hình này có thể phản ánh chính xác hơn tác động của thuốc so với các mô hình nuôi cấy tế bào đơn lớp.

4.2. Nghiên cứu sự xâm nhập và phân bố của thuốc

Mô hình khối cầu đa bào cũng cho phép nghiên cứu sự xâm nhập và phân bố của hệ thuốc vào bên trong khối cầu. Điều này giúp hiểu rõ hơn về cách thức thuốc tác động đến tế bào ung thư và cải thiện hiệu quả điều trị.

V. Kết luận và tương lai của nghiên cứu khối cầu đa bào ung thư biểu mô tuyến vú

Nghiên cứu khối cầu đa bào ung thư biểu mô tuyến vú dòng MCF-7 đang mở ra nhiều cơ hội mới trong lĩnh vực điều trị ung thư. Mô hình này không chỉ giúp cải thiện quy trình sàng lọc thuốc mà còn cung cấp những hiểu biết sâu sắc về sinh lý học của tế bào ung thư. Tương lai của nghiên cứu này hứa hẹn sẽ mang lại những bước tiến quan trọng trong việc phát triển các liệu pháp điều trị hiệu quả hơn.

5.1. Triển vọng phát triển thuốc mới

Mô hình khối cầu đa bào có thể giúp phát hiện ra các hợp chất mới có khả năng điều trị ung thư hiệu quả hơn. Việc sử dụng mô hình này trong nghiên cứu sẽ giúp giảm thiểu thời gian và chi phí phát triển thuốc.

5.2. Hướng nghiên cứu trong tương lai

Nghiên cứu trong tương lai có thể tập trung vào việc cải thiện các phương pháp tạo khối cầu đa bào, cũng như phát triển các mô hình kết hợp với hệ miễn dịch để phản ánh chính xác hơn các điều kiện in vivo. Điều này sẽ giúp nâng cao hiệu quả của các liệu pháp điều trị ung thư.

18/07/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

MỞ ĐẦU Sự ra đời của một loại thuốc mới có khả năng tiêu diệt và ngăn chặn sự phát triển của tế bào ác tính và đồng thời không hoặc gây độc tính thấp với các mô lành sẽ mở ra cơ hội cứu sống hàng chục triệu người trên thế giới đang phải chống chọi với căn bệnh ung thư hiểm nghèo. Với mục tiêu đó, quy trình sàng lọc dược phẩm tại tất cả các phòng thí ngiệm, viện nghiên cứu, công ty sản xuất dược phẩm trên thế giới đều phải tuân theo những quy định và tiêu chuẩn nghiêm ngặt của các cơ quan và tổ chức kiểm nghiệm dược phẩm. Một quy trình kiểm ngiệm thuốc chống ung thư nói riêng và các loại thuốc khác nói chung có thể kéo dài từ 10-30 năm, gồm nhiều giai đoạn khác nhau, từ phát hiện thuốc, sàng lọc tiền lâm sàng, lâm sàng …với số lượng chất, đối tượng, mục đích thử nghiệm khác nhau nhằm đảm bảo các loại thuốc khi đã trở thành thương phẩm sẽ đạt được hiệu quả điều trị cao và có ít tác dụng phụ nhất cho người bệnh. Sàng lọc tiền lâm sàng trên các dòng tế bào nuôi cấy đơn lớp in vitro (2D) đóng một vai trò không thể thay thế trong giai đoạn đầu tiên của kiểm nghiệm thuốc.

Với số lượng chất có thể lên tới hàng vạn, mô hình nuôi cấy tế bào đơn lớp cho phép nhanh chóng tìm ra nhóm chất có hiệu quả điều trị tốt nhất. Tuy nhiên, thực tế cho thấy rất nhiều chất có độc tính trên mô hình đơn lớp lại không có tác dụng khi thử nghiệm trên đối tượng động vật và do đó không thể tiếp tục phát triển thành thuốc điều trị. Vấn đề này bắt nguồn từ việc các tế bào đơn lớp thiếu hầu hết các đặc điểm của các khối mô ung thư in vivo như cấu trúc không gian, tương tác tế bào, tương tác môi trường… Chính vì vậy, việc phát triển một mô hình in vitro mới mô phỏng được chính xác hơn cấu trúc và các đặc tính của các khối u trong cơ thể sẽ làm tăng đáng kể hiệu quả sàng lọc, hạn chế số lượng thuốc phải thử nghiệm trên động vật thí nghiệm cũng như trên người tình nguyện, từ đó giảm tối thiểu thời gian và chi phí cho việc phát triển một loại Nguyễn Đắc Tú K20 - Sinh học thực nghiệm 1 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Luận văn cao học thuốc mới cũng như tránh được những trở ngại liên quan tới đạo đức khoa học với các tổ chức bảo vệ động vật, tổ chức nhân quyển, tổ chức y khoa. Để góp phần thực hiện được những mục tiêu đó tại Việt Nam, chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Tạo khối cầu đa bào ung thư biểu mô tuyến vú dòng MCF-7” Với các mục tiêu:  Tạo khối cầu đa bào ung thư từ dòng tế bào ung thư biểu mô tuyến vú MCF-7.

 Nghiên cứu các đặc điểm về hình thái, cấu trúc, động học tăng trưởng của các khối cầu đa bào ung thư MCF-7 đã gây tạo.  Sử dụng mô hình khối cầu đa bào ung thư MCF-7 để kiểm tra độc tính của hệ thuốc nano (Ptx-Cur)-Co.  Nghiên cứu sự xâm nhập và phân bố của hệ thuốc (Ptx-Cur)-Co vào bên trong khối cầu đa bào ung thư MCF-7. Nguyễn Đắc Tú K20 - Sinh học thực nghiệm 2 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Luận văn cao học 1.Sàng lọc thuốc 1.Quy trình sàng lọc thuốc 1.Quy trình sàng lọc thuốc tiêu chuẩn Tất cả các loại thuốc từ phòng thí nghiệm đến khi trở thành một sản phẩm thương mại đều phải trải qua quy trình đánh giá nghiêm ngặt của các tổ chức kiểm nghiệm dược phẩm với mục đích đảm bảo sự an toàn và hiệu quả trong điều trị.

Đây là con đường duy nhất và có thể kéo dài qua nhiều giai đoạn với thời gian từ vài năm cho tới vài chục năm. Dưới đây là quy trình sàng lọc chung nhất theo quy chuẩn của các cơ quan kiểm nghiệm dược phẩm uy tín thế giới (Hình 1) [72-74]. Bước đầu tiên để các công ty dược hay các viện nghiên cứu phát triển một loại thuốc là tiến hành sàng lọc các hợp chất có tiền năng từ hàng vạn các hợp chất ban đầu trên các mô hình in vitro (drug discovery). Tiếp đó, các hợp chất này sẽ được đưa vào thử nghiệm tiền lâm sàng (pre-clinical) trên mô hình động vật với các cấp độ tăng dần.

Trong giai đoạn này, các tổ chức kiểm nghiệm dựa trên các kết quả kiểm tra tiền lâm sàng để quyết định các chất trên có được phép để đưa vào thử nghiệm trên người hay không. Toàn bộ giai đoạn này diễn ra trong khoảng 6-7 năm. Khi một loại thuốc đã được cho phép để tiến hành sàng lọc trên người bệnh hay còn gọi là sàng lọc lâm sàng (clinical), nó sẽ phải trải qua 3 giai đoạn thử nghiệm với quy mô tăng dần trong thời gian khoảng 6 năm:  Giai đoạn I: được tiến hành ở những người khỏe mạnh nhằm kiểm tra các tác dụng phụ của thuốc cũng như sự chuyển hóa và bài tiết của thuốc trong cơ thể.  Giai đoạn II: được tiến hành với mục đích kiểm tra hiệu quả và thu thập số liệu sơ bộ về hoạt động của thuốc trên người bệnh.

Bệnh nhân điều trị với loại thuốc đang Nguyễn Đắc Tú K20 - Sinh học thực nghiệm 3 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Luận văn cao học thử nghiệm sẽ được so sánh với các bệnh nhân không được điều trị hoặc điều trị với một loại thuốc khác song song với đánh giá các tác dụng phụ.  Giai đoạn III: các kiểm tra về tính an toàn cũng như hiệu quả sẽ được tiếp tục tiến hành trên các nhóm người bệnh khác nhau, liều lượng thuốc khác nhau cũng như khi kết hợp điều trị cùng với các thuốc khác.  Khi đã đạt yêu cầu của cả ba giai đoạn trên, các loại thuốc được thử nghiệm sẽ phải hoàn thành một số thủ tục pháp lý và khoa học trong khoảng thời gian một năm ruỡi để có thể chính thức trở thành một sản phẩm thương mại. Thời gian trung bình cho một quy trình phát triển thuốc.

Quá trình sàng lọc dược phẩm có thể diễn ra trong vài năm tới vài chục năm, từ hàng vạn chất ban đầu tuyển chọn ra một hoặc vài chất đạt yêu cầu kiểm định[74].Quy trình sàng lọc thuốc tiền lâm sàng Sàng lọc tiền lâm sàng là một giai đoạn quan trọng trong toàn quy trình, với mục đích xác định hiệu quả điều trị, độc tính, các dữ liệu dược động học, được tiến hành trên hai đối tượng chính là các dòng tế bào ung thư nuôi cấy in vitro và trên chuột mang khối Nguyễn Đắc Tú K20 - Sinh học thực nghiệm 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Luận văn cao học u hình thành từ các dòng tế bào ung thư người. Quá trình sàng lọc tiền lâm sàng đối với các chất có hoạt tính chống ung thư gồm các giai đoạn sau [72]:  Giai đoạn 1: Các loại thuốc trước tiên sẽ được thử nghiệm với ba dòng tế bào ung thư người với nồng độ thử nghiệm duy nhất trong 48h. Những chất có khả năng ức chế sự tăng trưởng của một hay nhiều dòng tế bào sẽ được lựa chọn cho giai đoạn tiếp theo.  Giai đoạn 2: Trong giai đoạn này, các thuốc thử nghiệm sẽ được tiếp xúc với khoảng 60 dòng tế bào ung thư người với phổ rất rộng bao gồm ung thư phổi, đại tràng, tuyến tiền liệt, buồng trứng, vú, thận với năm nồng độ cách biệt.

Nếu thuốc có khả năng tiêu diệt chọn lọc một dòng tế bào ung thư nhất định hoặc nhiều dòng tế bào khác nhau với cùng một cơ chế tác động hay có hiệu quả gây độc ở nồng độc rất thấp thì sẽ được chuyển sang giai đoạn tiếp theo.  Giai đoạn 3: Ở pha cuối cùng của sàng lọc tiền lâm sàng, các chất có tiềm năng sẽ được sử dụng để điều trị cho chuột mang các khối u rắn dưới da. Những loại thuốc có khả năng tiêu diệt hoặc làm chậm quá trình phát triển của các khối u với độc tính và tác dụng phụ thấp nhất cho đối tượng thí nghiệm sẽ được đưa lên sàng lọc trên người bệnh (lâm sàng).Các mô hình sàng lọc thuốc tiền lâm sàng Các mô hình đóng vai trò vô cùng quan trọng trong việc sàng lọc dược phẩm. Tùy vào từng giai đoạn của quá trình sàng lọc thuốc, các mô hình này sẽ được lựa chọn một cách thích hợp nhằm đảm bảo các thử nghiệm được tiến hành nhanh chóng, hiệu quả nhất mà vẫn đảm bảo được các vấn đề đạo đức trong khoa học.

Với số lượng chất phải sàng lọc tại khâu đầu tiên có thể lên tới hàng vạn thì việc sử dụng các mô hình in vitro như trên tế bào đơn lớp, cơ quan nuôi cấy là rất cần thiết để có thể nhanh chóng khu trú được các nhóm chất có hiệu quả cũng như thu thập các số liệu sơ bộ về độc tính, các tác dụng Nguyễn Đắc Tú K20 - Sinh học thực nghiệm 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Luận văn cao học không mong muốn của chúng trước khi đưa lên các mô hình ở cấp độ cao hơn. Từ những kết quả thu được ban đầu, các kiểm tra tiếp theo trên mô hình động vật – mô hình in vivo sẽ tiết kiệm thời gian, kinh phí hơn rất nhiều thông qua giảm thiểu được số lượng chất, số lượng động vật tham gia các thử nghiệm.Mô hình in vitro Mô hình nuôi cấy cơ quan Đây là loại mô hình nuôi cấy cổ điển nhất được sử dụng từ những năm 1950. Các cơ quan được tách ra khỏi cơ thể, đem nuôi cấy in vitro. Sau đó, chúng được tương tác với các hợp chất cần thử.

Ưu điểm của mô hình này là duy trì được tính nguyên vẹn của mô cũng như mối quan hệ giữa tế bào với tế bào, nhờ vậy mà nó có tính tương đồng hơn với điều kiện in vivo. Tuy nhiên, do những khó khăn khác biệt về mẫu vật mà việc đánh giá hiệu quả của thuốc có nhiều sai số, do vậy việc sử dụng mô hình này bị hạn chế, và khó để áp dụng vào sàng lọc thuốc quy mô lớn [4]. Nuôi cấy tinh hoàn chuột để sản xuất tinh trùng in vitro. (A) Các mảnh tinh hoàn nuôi trên giá thể agarose trong môi trường nuôi cấy có bổ sung KBR.

(B) Mô tinh hoàn nuôi cấy sau 7 ngày. Nguyễn Đắc Tú K20 - Sinh học thực nghiệm 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Luận văn cao học Mô hình nuôi cấy tế bào đơn lớp (2D) Đây là mô hình nuôi cấy phổ biến nhất tại tất cả các phòng thí nghiệm trên thời giới trong nhiều thập kỷ qua.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ