CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT CHUNG VÈ LY THÂN 1. Khái niệm chung về ly thân 1. Khái niệm Khi nghiên cứu về bản chất của quan hệ hôn nhân và gia đình tư sản, Ph.Angghen đã chỉ rõ: “Cái sẽ biến mắt một cách chắc chan trong chế độ một vo, một chong là tat cả những đặc trưng mà những quan hệ tài sản đẻ ra nó. Những đặc trưng đó là: Thứ nhất là sự thống trị của người đàn ông và thứ hai là tính ràng buộc vĩnh viễn của hôn nhân.
Sự thống trị của người đàn ông trong hôn nhân chỉ đơn thuan là kết quả của sự thống trị về kinh tế. Tinh ràng buộc vĩnh viễn của hôn nhân, một phần là kết quả của các điễu kiện kinh tế trong đó chế độ một vợ một chong phat sinh và phan nữa là truyền thống của thời kỳ trong đó mối liên hệ giữa những điều kiện kinh tế ấy với chế độ một vợ một chong con chưa được người ta hiểu dung dan và đã bi tôn giáo thoi phông lên.” và “Nha thờ thiên chia giáo sở di cam ly hôn, có a: lẽ! cũng chi vì đã thay rằng không có phương thuốc nào trị được ngoại tinh cũng như không có phương thuốc nào trị được cái chết cả”. Như vậy, ly thân có nguồn gốc từ tôn giáo và theo quan điểm của giáo hội Thiên chúa, việc lay vợ, lay chồng của nam nữ là do “Chúa” tạo lập, hôn nhân có tính chất “bất khả đoạn tiêu”, không thé chia lia, vợ chồng phải “ăn đời ở kiếp”, không được ruéng bỏ nhau; quan điểm của giáo hội thường cam vợ chong ly hôn là do vậy ?. Trong tập quán truyền thống của gia đình Việt, quan hệ hôn nhân được xác lập dựa trên cơ sở tình cảm yêu thương chân chính và tự nguyện giữa nam và nữ; trong đó quan hệ vợ chồng chứa đựng những mối liên hệ cả về vật chất lẫn tinh thần.
Theo lẽ tự nhiên, hai vợ chồng yêu thương nhau cùng chung sống để đáp ứng những nhu ? Nguyễn Văn Cu, “Vấn dé ly thân có được quy định trong Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam năm 1986”, Tạp chí Xây dựng Pháp luật (Sô 6/1997), tr.38-39 16 cầu cá nhân và cùng nhau chia sẻ trách nhiệm, nghĩa vụ với nhau về gia đình, con cái. Đây không chỉ là bổn phận dao mức mà còn là nghĩa vụ về mặt pháp lý. Có thé nói pháp luật Phong kiến Việt Nam ta đã quy định nghĩa vụ đồng cư giữa hai vợ chồng, cột chặt người phụ nữ, người vợ vào gia đình nhà chồng. Lấy chồng tức là theo quan điểm “thuyén theo lái, gái theo chong”, “sống thì gửi thịt, chết thì gửi xương”; người vợ thường “vô năng lực”, chỉ được ở riêng nếu “chồng cho phép”3.
Cụ thé, pháp luật của Triều đình nhà Lê và của Triều đình nhà Nguyễn ngoài việc quy định người vợ phải ở nhà chồng theo quan niệm “xuất giá tòng phu” thì còn quy định người chồng phải cùng chung sống với vợ. Điều 308 Quốc Triều Hình Luật quy định: “chong bo lung vợ nam thang thì mat vợ. Nếu vợ đã có con thì cho hạn một nam. Vì việc quan phải di xa thì không theo luật này.
Tại điều 108 Hoàng Việt Luật Lệ cũng quy định: “néu người chong mat tích hoặc bỏ trồn ba năm không về thì người vợ được trình quan xin phép cải giá và nhà vợ không phải hoàn lại đô sinh /é”. Trong thời Pháp thuộc, Bộ luật Bắc Kỳ năm 1931 và Bộ dân luật Trung Kỳ năm 1936 đều quy định người vợ chính có quyền và nghĩa vụ phải ở với chồng, người vợ chỉ “có quyền xin ly hôn vì chong bỏ di quả một năm không có duyên cớ gì chánh đánh và không lo liệu Việc nuôi nắng vợ con ” (Điều 118 Bộ luật Trung Ky)*.Vay nên không chỉ phụ thuộc vào tôn giáo mà còn vì ảnh hưởng của văn hoá Việt Nam từ xa xưa, có rất ít người muốn công khai tình trạng này. Chỉ trong một số trường hợp vì lý do chính đáng như sức khoẻ, đặc thù nghề nghiệp thì vợ chồng mới không chung sống với nhau Tuy nhiên, quan điểm trên dang dan trở nên không còn phù hop với sự đối thay của xã hội hiện đại. Ngày nay, do bản chất phức tạp vốn có của hôn nhân, rất nhiều trường hợp vì những nguyên nhân, lý do, động cơ nào đó mà trong cuộc sống chung 3 Nguyễn Văn Cừ, “Van dé ly thân có được quy định trong Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam năm 1986”, Tạp chí Xây dựng Pháp luật (Số 6/1997), tr.39 4 Bùi Minh Hồng, “Bổ sưng chế định ly thân vào Luật hôn nhân và gia đình - những vấn dé pháp lý và thực tiễn”, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật chuyên dé “Sửa đồi, bé sung Luật hôn nhân và gia đình năm 2000” (2013, tr.
98 17 giữa vợ và chồng không thê tránh khỏi những xung đột, mâu thuẫn sâu sắc, dẫn đến việc không muốn hoặc không thê chung song. Khi cuộc sống hôn nhân bị rạn nứt, nhiều cặp vợ chồng tuy không muốn ly hôn nhưng lại muốn tạo lập cho mình một cuộc sông riêng, giúp cho bản thân có thời gian và không gian để nhìn nhận, đánh giá lại về bản thân, về các mâu thuẫn đã có và về cách ứng xử của những người trong cuộc°. Trong một số trường hợp khi sống xa cách nhau, để bảo vệ quyên lợi của bản thân mà vợ chồng muốn chấm dứt chế độ tài sản chung và phân định rõ quyền và nghĩa vụ của mỗi bên về chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con cái”. Chế định ly thân từ đây ra đời với vai trò như một giải pháp nhăm giải tỏa xung đột trong đời sống vợ chồng, tạo điều kiện cho vợ, chồng sống riêng.
Có nhiều khái niệm về ly thân với các cách tiếp cận khác nhau phù hợp với đời sống thực tiễn và đặc thù của mỗi quốc gia. Theo từ điển Luật học, ly thân được hiểu là “việc vợ chong chấm dứt nghĩa vụ sống chung với nhau trong khi quan hệ hôn nhân chưa hoặc không chấm dirt”. Ngay tại Khoản 10 Điều 8 Dự thảo Luật HNGD 2000 cũng đã nêu rằng: “Ly than là tình trạng pháp lý, theo đó vợ chong không có nghĩa vụ sống chung với nhau do cơ quan có thẩm quyên công nhận hoặc quyết định theo yêu cau của hai vợ chồng”. Có thé thay, nghĩa vụ chung sông của vợ chồng luôn đi liền với hình thức tôn tại, biéu hiện của vợ chồng, theo đó, người vợ và người chồng khi kết hôn có mối liên hệ sâu đậm về phương diện vật chất và thân xác như chung nhà, ăn chung, ngủ chung.
Khi giữa hai vợ chồng xảy ra xung đột, mâu thuẫn thì việc thực hiện nghĩa vụ chung sống đó thường xuyên là điều khó khăn, thậm chí > “4 reasons for separartion in marriage” https://www.com/advice/separation/reasons-for-separation-in- marriage/ 5 Bùi Minh Hong, “Bổ sung chế định ly thân vào Luật hôn nhân và gia đình - những van dé pháp lý và thực tiễn”, Tap chí Dân chủ và Pháp luật chuyên đê “Sửa đôi, bô sung Luật hôn nhân va gia đình năm 2000” (2013)- NXB. 97 7 Đoàn Thi Ngọc Hải, “ Sự cân thiết luật hoá chế định ly thân trong Luật Hôn nhân và Gia đình” , Tap chí Toà án Nhân dân https://tapchitoaan.vn/bai-viet/phap-luat/su-can-thiet-luat-hoa-che-dinh-ly-than-trong-luat-hon-nhan-va-g1a- dinh (truy cập ngày: 15/12/2019) 18 việc thực hiện nghĩa vụ này có thé có hành vi xâm phạm nghiêm trọng quyên lợi của các bên như về sức khỏe, danh dự, nhân phẩm và tài sản. Trong trường hợp này, vợ chồng không thực hiện chung sống như những quan hệ vợ chồng khác, tình trạng này gọi là “ly thân”. Qua đó có thể thấy răng, việc không chung sống liên tục trong một thời gian dài được hiểu là vợ chồng sống ly thân.
Theo hai tác giả Phan Thị Vân Hương và Trần Minh Tuấn, Tòa dân sự - TAND tối cao cho răng: “việc không cùng chung sống của vợ chồng không nên quan niệm là tình trạng pháp lý trong khái niệm ly thân”. Bên cạnh đó, nhiều nhà nghiên cứu cũng không đồng tình với quan điểm được đưa ra trong khái niệm về ly thân vì một số lý do: Thir nhát, theo Khoản 2 Điều 15 Luật cư trú quy định vợ, chồng có thé có nơi cư trú, hoặc không cùng hộ khâu với nhau, van dé này do hai vợ chồng thỏa thuận. 77 hai, không phải mọi trường hợp ly thân đều xuất phát từ hành vi trái pháp luật buộc thành viên gia đình ra khỏi chỗ ở nên áp dụng quy định tại Luật Phòng chống bạo lực gia đình không thê giải quyết được tận gốc của van đề Š. Do vậy, nên thừa nhận răng, việc vợ chồng chung sống với nhau là một nghĩa vụ tự nhiên, là dấu hiệu của một gia đình toàn vẹn.
Còn nếu giữa hai vợ chồng không còn sông chung sẽ là dau hiệu của một sự thay đổi trong đời sống vợ chồng. Song, không vì vậy mà xem việc không chung sống với nhau giữa vợ và chồng dé định nghĩa cho “ly thân”, mà chỉ nên coi nghĩa vụ sống chung của vợ chồng là căn cứ xác định tinh trạng ly thân. Mặt khác, chúng ta cũng không thé đồng nhất khái niệm ly thân của vợ chồng với việc vợ chồng bắt buộc không cùng sống chung trong một nha. Thực tế, có những trường hợp vợ và chồng cùng sống chung một ngôi nhà nhưng mỗi người lại có cuộc sông riêng và từ chôi những đòi hỏi của người kia với quan hệ tình 8 Đoàn Thi Ngọc Hải, “ Sw cần thiết luật hoá chế định ly thân trong Luật Hôn nhân và Gia đình” , Tạp chí Toa án Nhân dân https://tapchitoaan.
vn/bai-viet/phap-luat/su-can-thiet-luat-hoa-che-dinh-ly-than-trong-luat-hon-nhan-va-gia- dinh (truy cập ngày: 20/3/2019) 19 cam’. Day là một trạng thái của hiện tượng ly thân và một số nước trên thế giới còn quy định cho phép hai vợ chồng được ly thân khi vẫn sống chung dưới một mái nhà. Tuy nhiên trường hợp này thường khá mơ hồ, khó xác định vậy nên không được thừa nhận ở nhiều nước. Dé hiểu rõ hơn, ta cần phân biệt ly thân với một số hiện tượng gan với khái niệm ly thân.
Tứ nhất, khái niệm ly thân không bao hàm những trường hợp vợ chồng sống xa nhau do nghề nghiệp (sự xa cách nơi ở do đặc thù công việc), do sức khỏe (một bên phải đi điều trị bệnh) hoặc vì lý do khác. Tình trạng này của vợ chồng chỉ mang tính chất nhất thời và không cần thiết phải có sự điều chỉnh của pháp luật. Thi hai, ly thân với tư cách là một chế định pháp lý khác với ly thân thực tế. Ly thân thực tế là trường hợp vợ chồng do mâu thuẫn nên thỏa thuận hoặc đơn phương cham dứt cuộc sống chung.